bắc hành – 2017, phần 18

ừ Hà Tĩnh trở đi đến bắc đèo Hải Vân, một đợt gió mùa đông bắc nữa lại tràn về. Nhiệt độ chỉ tầm 17 ~ 18 độ, nhưng cảm giác rét buốt rất khó chịu. Nói thêm về kiểu khí hậu lạnh ẩm của vùng này, nước khi bám vào người sẽ mượn thân nhiệt để bay hơi, nếu có gió thì việc bay hơi càng mạnh, điều đó khiến cơ thể mất năng lượng nhanh chóng, lập tức “báo động”… run bần bật. Thế nên đôi khi thời tiết chỉ rét cỡ 17 ~ 18 độ, nhưng cảm giác như là 10 ~ 12 độ, ngay cả khách Tây cũng phải xuýt xoa.

Thực ra, thời tiết đã ấm hơn một chút so với chuyến đi ra, nhưng cũng vẫn rất khó chịu. Sau khi ghé thăm biển Thiên Cầm xong, liền chạy nhanh qua cho hết vùng khu 4 này: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Những địa danh thành phố, thị xã, thị trấn lướt qua vùn vụt: tx. Ba Đồn, tt. Hoàn Lão, tp. Đồng Hới, tt. Quán Hàu, truông nhà Hồ, tt. Hồ Xá, tt. Gio Linh, tp. Đông Hà, tt. Ái Tử, tx. Quảng Trị, tt. Hải Lăng, tt. Phong Điền, tx. Hương Trà, tp. Huế, tx. Hương Thuỷ, tt. Phú Vang, tt. Phú Lộc, tt. Lăng Cô…

Qua đèo Hải Vân vào đến địa phận Đà Nẵng, trời vẫn hơi lạnh nhưng đã dễ chịu hẳn. Đã rất nhiều lần đi ngang qua Đà Nẵng trong các chuyến xuyên Việt trước, nhưng chưa ghé lại bao giờ. Nay thử ghé qua xem thử diện mạo thành phố đã thay đổi như thế nào sau chừng ấy năm, từ con đường ven biển Vũng Thùng đến làng chài Thuận Phước, đường Bạch Đằng dọc sông Hàn, cầu Thuận Phước qua Sơn Trà… 20 năm… thành phố bây giờ mới có được một gương mặt khang trang nhìn hướng ra biển lớn.

Nó không còn là một thành phố khép kín, hướng mặt ra sông như thời xa xưa nữa, vùng cửa sông Hàn ven Thuận Phước và Tiên Sa, những âu thuyền được quy hoạch rõ ràng, tàu thuyền đánh cá của ngư dân đậu thành hàng lớp ngay ngắn, đường sá cũng thật rộng rãi, tinh tươm. Không thể dằn lòng chạy xe một vòng quanh Sơn Trà, trên con đường hơn 30 km vòng quanh bán đảo, nay đã là đường trải nhựa rộng và đẹp. Khi tôi còn nhỏ, vòng quanh đảo chỉ có một con đường mòn nhỏ.

Đường làm từ năm 1979 (do sợ Trung Quốc đổ bộ đường biển nên làm con đường đất để kéo pháo ra đặt ở đó), về sau không dùng nữa nên cây cỏ mọc che lấp hết, nhiều đoạn thậm chí không còn vết tích. Con đường ra đó qua bãi Bụt, bãi Trẹ, bãi Nồm, bãi Bắc… phải băng qua nhiều quãng rừng, leo qua nhiều ghềnh đá. Giờ đã thành một khu bảo tồn thiên nhiên được quy hoạch, chăm sóc cẩn thận. Đây chính là “thiên đường tuổi thơ” của tôi, một thời rong chơi, nghịch ngợm, vẫy vùng, mơ mộng… 🙂

bắc hành – 2017, phần 17

ành trình xuôi Nam tiếp tục đi qua địa phận tỉnh Nghệ An, xuôi về Vinh, một đô thị tấp nập, hiện đại, có phần giống Đà Nẵng nhiều năm về trước. Ở đó, lại gặp gỡ được một số con người thú vị, nửa mới nửa cũ, hăm hở đón nhận những điều mới, nhưng vẫn còn đó một chút dè dặt, suy xét, tôn trọng nét xưa. Chính trong những điều mới & cũ ấy, ta mới nhận ra đâu là bản lĩnh thật sự của con người, của một vùng đất! Leo lên núi Dũng Quyết, tìm dấu vết của Phượng Hoàng trung đô năm nào.

Chỉ thấy miếu thờ vua Quang Trung được xây dựng theo lối giả cổ, nhàm chán. Lịch sử là một quá trình vận động biến đổi liên tục, là một điều thú vị khi nhà vua Quang Trung muốn đặt kinh đô tại Vinh, Nghệ An này, ông không xem vùng đất từ Nha Trang trở vào là “đất cũ”, là một phần của nước Việt. Thật đáng buồn khi đa số người Việt bây giờ nhìn nhận lịch sử theo cách tách rời sự việc ra khỏi bối cảnh của nó, “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, như một lũ “ngáo” chẳng hiểu gì về di sản của ông cha.

Một đoạn còn thiếu chưa “thăm dò” trong các chuyến xuyên Việt là khúc bờ biển huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (biển Thiên Cầm). Đến đây trong một buổi chiều mưa mù khá lạnh, thuỷ triều rút cạn hết nên quan sát được hình dáng cửa biển rất hẹp, dòng sông Lạc Giang chảy ven chân núi Thiên Cầm, cảnh quan thật là hữu tình. Lang thang một chút trong xóm chài nghèo Cẩm Trung với những âu thuyền nhỏ ven sông. Dọc các làng chài khắp cả Việt Nam, luôn thấy tồn tại song song 2 dạng thuyền đánh cá.

Một dạng hiện đại, lớn, hao hao giống nhau dùng để đánh bắt xa bờ. Một dạng cổ điển, nhỏ hơn, dùng để đánh bắt gần bờ. Dạng thứ hai này thì mỗi nơi mỗi kiểu, không đâu giống đâu trên khắp Việt Nam. Một số là những dạng thân thuyền thuần tuý truyền thống VN, một số vẫn còn mang nét truyền thống, nhưng đã được cái tiến, thay đổi ít nhiều. Người ngư dân, với kinh nghiệm của riêng mình, thêm vào những sửa đổi, mỗi nơi mỗi khác, như thuyền máy có cái xiếm đã thấy ở vùng biển Quất Lâm.

Hay những ghe đi biển thon dài của Trung Trung bộ được làm ngắn lại, rộng ra, với phần đuôi vát để thích hợp hơn với chạy máy và tăng tải trọng hữu ích. Tần ngần hồi lâu trước một con thuyền vừa mới hạ thuỷ, vết sơn mới tinh, thậm chí còn chưa kịp vẽ mắt và sơn số tàu, những đường cong tuyệt đẹp. Tuy không phải là những thân thuyền nguyên thuỷ, và không hoàn toàn hài lòng với một số chi tiết, nhưng vẫn vui khi thấy rằng, người ngư dân vẫn duy trì, bảo lưu những đường nét mà họ cho là tốt đẹp.

bắc hành – 2017, phần 16

hó có thể ước định được quy mô xây dựng của Lam Kinh ngày trước, vì đa số các công trình là được tạo tác mới gần đây, dù có tham khảo các thông tin khảo cổ. Tại hiện trường, những hố khảo cổ vẫn được bảo lưu cho du khách tham quan, dấu vết nền móng cung điện xưa, xây bằng gạch vồ, có thể thấy rõ những đường ống dẫn nước làm bằng sứ, đường kính chừng 20 cm. Bên cạnh khu du tích mới xây này là đền thờ vua Lê Thái Tổ cũ, do nhân dân tự phát xây dựng vì ngôi đền cũ đã bị tàn phá.

Phía trước đền đề: Lam Sơn động chủ linh từ, tức Lê Lợi, người thường hay tự gọi mình là Lam Sơn động chủ, hay Ngọc Hoa động chủ, phía trong có treo một bức hoành mà theo tôi là rất hay, không giống như những lời tán tụng công đức tầm thường khác: Nam quốc sơn hà tự thử, nghĩa là: Sông núi nước Nam từ đó…, một kiểu nói lấp lửng, gợi ý, như kiểu ngày nay phải viết có dấu 3 chấm, để cho người đọc muốn hình dung, muốn điền gì vào chỗ trống thì điền! 🙂

Cả một khu rừng nhỏ xanh mướt, với rất nhiều cây cổ thụ lớn nhỏ, nhiều cây lớn sừng sững, có tuổi đời trên 600, 700 năm tuổi, hiếm khi thấy được một khu đền miếu, lăng tẩm mà cảnh quan chung quanh được bảo lưu tốt đến như thế! Phần trước của khu di tích có trưng bày bản sao của tấm bia Thân chinh phục Lễ châu Đèo Cát Hãn xưa nằm tại Mường Lay, Lai Châu, do vua Lê Lợi ngự bút đề khi thân chinh đi dẹp loạn Đèo Cát Hãn, tấm bia “ký tên”: Ngọc Hoa động chủ.

Quan sát thư pháp trên tấm bia này, như chữ Ngọc được viết với một lối rất lạ, dấu chấm nằm lệch vị trí. Suy nghĩ một hồi, tôi cho rằng rất khó có khả năng người xưa viết sai, hay công tác nhân bản bia đá làm sai, có thể chỉ là… nghệ thuật Việt Nam, trong rất nhiều các thể loại: thư pháp, hội hoạ, gốm sứ… nếu quan sát kỹ, thi thoảng vẫn luôn có chỗ “lệch chuẩn” như thế, luôn luôn có một vài yếu tố bất chợt, ngẫu hứng, tự phát ở đâu đó trong cách trình bày, trang trí một tác phẩm mỹ thuật.

Những công trình mới tôn tạo sau này, dù chưa hoàn tất, cũng giúp hình dung lại một Lam Kinh rất bề thế ngày xưa. Rải rác đây đó vẫn còn nhiều chi tiết giúp hình lại đường nét kiến trúc, điêu khắc cổ: bờ kênh đào và giếng nước lớn lát đá, cổng Ngọ môn rất lớn với hai con nghê chầu phía trước, sân chầu với cặp rồng đá độc đáo, Vĩnh Lăng (lăng vua Lê Thái Tổ), Hựu Lăng đơn giản với 5 cặp tượng nhỏ: quan hầu, nghê, ngựa, tê giác, hổ phía trước, bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn thảo…

bắc hành – 2017, phần 15

ành trình trên đất Bắc đã bước qua tuần thứ 4, chuyến đi nào rồi cũng sẽ phải đến hồi vãn cuộc… 🙁 Từ Quảng Ninh, hành trình quay trở lại Hà Nội rồi xuôi về Nam theo quốc lộ 1. Dự tính trong đầu là sẽ đi nhanh, đi suốt để nhanh chóng trở về, nhưng những ngẫu hứng dọc đường thôi thúc có thêm nhiều tò mò, hiểu biết mới. Ngang Hà Trung, Thanh Hoá, quyết định đi về phía Gia Miêu ngoại trang, xưa thuộc phủ Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, đất phát tích, “thang mộc” của triều Nguyễn.

Và nay là thôn Gia Miêu, thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, một thời là nơi có những công trình kiến trúc bề thế, tinh xảo hàng đầu xứ Thanh, mà điển hình là Triệu miếu, nơi thờ hai bậc tổ tiên dòng họ Nguyễn là Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng. Xem lại ảnh xưa, Triệu Miếu như một kinh thành Huế thu nhỏ lại, mà nay không còn vết tích gì. Tất cả đã bị tháo dỡ, phá hoại những năm 50, 60 thế kỷ trước, chỉ còn đình làng Gia Miêu sót lại vì nó không đại diện cho dòng họ Nguyễn mà cho cả làng.

Triệu miếu nay đã được xây dựng mới lại trên nền cũ, nhưng quy mô và độ tinh xảo thì đã mất đi vĩnh viễn. Hành trình tiếp tục đi về phía đình làng Thượng Phú, xã Hà Đông, huyện Hà Trung cách đó không xa. Đình đã xuống cấp nhiều, những khắc hoạ trang trí đã phai mờ cùng năm tháng, nhưng đáng lưu ý là khác với những đình khác, bên cạnh những motif trang trí long lân quy phụng, tùng cúc trúc mai, đình Thượng Phú có nhiều chi tiết trang trí mô tả sinh hoạt hàng ngày: chọi gà, bắt cá… rất sống động!

Hành trình tiếp tục đi dọc triền đê sông Mã lên phía thượng nguồn, về xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, quê nhà của các đời chúa Trịnh. Miếu thờ các đời chúa Trịnh ngoài cổng có đề: Trịnh vương phủ, nét chữ nguệch ngoạc xấu xí mà tôi ngờ rằng là do người đời nay tạo tác. Điện thờ những bức tượng các đời Chúa, làm bằng đất sét phủ sơn, nhìn khá sang trọng, đường bệ. Chính giữa điện thờ có bức hoành đề: Tiên tổ thị vương như một lời tự hào, nhắc nhở con cháu!

Như thế, hai họ Trịnh và Nguyễn thực ra ngày xưa sống khá gần nhau, chỉ cách nhau độ 15, 20 km tính theo đường chim bay. Hành trình bỏ qua di tích thành nhà Hồ (đã ghé thăm trong các chuyến xuyên Việt trước) mà đi về Lam Kinh, xã Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, khu di tích miếu thờ và lăng mộ các vua Lê đã được tôn tạo, xây mới lại gần đây (2009) trông rất là bề thế, nằm bên bờ sông Chu (một nhánh của sông Mã) trên một quả đồi, giữa một cánh rừng nhỏ được bảo vệ, gìn giữ cẩn thận.

bắc hành – 2017, phần 14

i tích lịch sử gắn liền với nhà Trần ở vùng Hải Dương và Quảng Ninh này nhiều vô số kể, ấy là còn chưa nói đến 2 tỉnh ở tương đối gần đó là Thái Bình và Nam Định… Nằm giữa Côn Sơn và Yên Tử, cách nhau chỉ độ 30, 40 km là Quỳnh Lâm, ngôi chùa cuối trong 3 ngôi chùa trung tâm gắn liền với Trúc Lâm tam tổ: Phật hoàng Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp Loa và đệ tam tổ Huyền Quang. Đứng lặng hồi lâu trước cái tháp chuông quá đẹp của chùa Quỳnh Lâm (đang trong giai đoạn trùng tu).

Từ nhỏ đến lớn, đã đi rất nhiều chùa, nhà thờ, cũng như các loại đền miếu… Ấy thế mà chưa bao giờ thắp một cây nhang, chưa bao giờ vái một vái, và cũng chưa bao giờ cầu xin bất kỳ một điều gì. Chẳng phải Thiền tông có câu: Phùng Phật sát Phật, Phùng Tổ sát Tổ – gặp Phật thì giết Phật, gặp Tổ thì giết Tổ đó sao!? Cái loại “siêu việt logic” này hẳn nghe không lọt tai nhiều người! 🙂 Trong suy nghĩ của tôi, “Phật giáo” về bản chất là vô thần, thậm chí nó còn không phải là một tôn giáo!

Côn Sơn, Yên Tử & Quỳnh Lâm là 3 ngôi chùa trung tâm của Trúc Lâm phái, cả 3 đều đều bắt nguồn từ chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang (chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn cũng là từ Vĩnh Nghiêm Bắc Giang mà ra). Mặt chính tháp chuông có tấm hoành phi đề: Quỳnh Lâm đại thiền môn, nơi đây ngày trước là một học viện Phật giáo được xây dựng với quy mô rất lớn, nhưng giờ đây vết tích chỉ còn mỗi cái tháp chuông này là đáng lưu ý. Bên trong hậu điện thờ ba tượng rất đẹp của Trúc Lâm tam tổ.

Hành trình tiếp tục đi về phía thị xã Quảng Yên cách đó không xa, về một điểm đã định trước là làng nghề đóng tàu cổ tại Cống Mương, phường Phong Hải, đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh. Đây là nơi đóng tàu thuyền nổi tiếng của vịnh Bắc bộ, mà điển hình là mẫu tàu “ba vách” chạy buồm cánh dơi. Không chỉ được xem những mô hình thu nhỏ, quý hoá nhất là ngay tại xưởng của nghệ nhân ưu tú Lê Đức Chắn, sừng sững một chiếc “ba vách” thật, dài 11 mét, đang được đóng gần hoàn thiện.

Tôi như đứng sững lại trước một vật thể cực đẹp, những đường cong (line – tuyến hình) của một thân thuyền mà theo như nhận xét của tôi, kinh nghiệm đóng thuyền dân gian Việt Nam đã đúc kết lại được một dạng vỏ tàu đặc trưng mà khi đi kèm với buồm cánh dơi (junk rig) tạo nên một con thuyền buồm hoàn hảo! Cuộc trò chuyện với bác nghệ nhân đóng thuyền cũng làm rõ thêm nhiều chi tiết về cột, buồm, cách đi dây, mái chèo, tời… và như nhiều chi tiết trên thuyền khác.

bắc hành – 2017, phần 13

hận thấy một loạt những di tích lịch sử gắn liền với nhà Trần nằm kề cận nhau trong địa bàn 2 tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh, bèn quyết định đi thăm cho được đầy đủ, nhất là những ngôi chùa gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Nằm cách Côn Sơn chỉ độ 50 km là Yên Tử, một đỉnh núi cao trên 1000 m thuộc vòng cung Đông Triều. Quyết định leo lên đỉnh Yên Tử cũng khá là ngẫu hứng nên phần nào… đã không lường trước hết được những khó khăn của chặng đường.

Con đường lên đỉnh núi chỉ dài khoảng 6 km, những bậc thang được xây dựa vào sườn núi, gần đỉnh là đường đi trên những mỏm đá, nhưng có chút ít tôn tạo, xây dựng của bàn tay con người để dễ đi hơn. Mất hơn 6 tiếng đồng hồ cả đi và về trên con đường chỉ 6 km ấy, đơn giản vì rất nhiều đoạn là… dốc đứng. Đường lên Yên Tử không dành cho người có sức khoẻ kém, ngay cả khi bạn đi bằng cáp treo, vì 2 hệ thống cáp treo nối tiếp nhau chỉ giúp tiết kiệm được khoảng 60% quãng đường.

Rải rác từ chân lên đỉnh núi là những ngôi chùa nhỏ, và những cụm bảo tháp, nơi chôn cất tro cốt của các chư tăng tiền bối… mà nổi bật nhất là của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Trúc Lâm đệ nhất tổ, và hai vị tổ đời thứ 2, thứ 3 là Pháp Loa và Huyền Quang. Những ngọn tháp đá, gạch đơn sơ nằm lưng chừng núi, những cây thông, tùng, sứ (hoa đại) cổ thụ hàng trăm năm tuổi, cảnh tượng tịch liêu mà thanh nhã lạ thường. Chùa Hoa Yên nằm lưng chừng núi, tuy là kiến trúc trung tâm, lớn nhất của Yên Tử.

Nhưng thực ra, Hoa Yên chỉ là một công trình tương đối nhỏ, đơn giản, mộc mạc, chính điện hình chữ công và tả vu, hữu vu ở hai bên. Nhưng trong mắt tôi, chính những công trình nhỏ, nguyên bản như thế mới phản ánh đúng lịch sử, và mới toát lên vẻ đẹp của một chốn Thiền môn linh thiêng ngày xưa. Từ chùa Hoa Yên trở lên, có một số công trình hiện đại đang được xây dựng quy mô rất lớn, rất bề thế, như tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đúc nguyên khối bằng đồng nặng trên 130 tấn…

Một trong những điều tốt đẹp mà Yên Tử còn giữ được, nhờ bởi uy linh của đức Phật hoàng, chính là cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp, những rặng tùng cổ thụ, những rừng trúc xanh mướt. Cái tên Trúc Lâm chính là bắt nguồn từ những rừng trúc này, một giống trúc thanh cảnh, thân nhỏ chỉ bằng ngón tay, ngón chân. Gần đỉnh có thể thấy rất nhiều cây hoa trà my cổ thụ, thật tiếc mới chỉ đang mùa kết nụ. Có lẻ đó là một ân hạnh tuyệt vời nhất, cho những ai hành hương Yên Tử trong mùa hoa trà my nở!

bắc hành – 2017, phần 12

au nhiều do dự và cân nhắc, hành trình quyết định xuôi về miền đồng bằng thay vì miền núi. Cách Lạng Sơn không xa là Hải Dương, một tỉnh với nhiều di tích gắn liền với nhà Trần và nhất là Phật giáo thời Trần… Hành trình xuôi Nam lại đi qua địa phận ải Chi Lăng như năm ngoái, một vùng nay trồng nhiều mãng cầu (miền Bắc gọi là quả na), đến địa phận thị trấn Kép & Vôi (Bắc Giang) thì vào quốc lộ 37 đi về phía Chí Linh, mà sườn tây của thị xã là vùng Vạn Kiếp, thái ấp của Hưng Đạo vương xưa kia.

Vạn Kiếp nằm không xa Lục Đầu giang, là nơi hội tụ của 6 con sông: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Môn, sông Thái Bình. Phải đến đây thì mới hiểu những ghi chép mơ hồ, thiếu chi tiết thực tế trong sử sách về 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của nhà Trần, phần nhiều các trận đánh lớn đều diễn ra trên địa hình sông, đầm lầy, biển để lợi dụng sức mạnh của thuỷ binh, thế mạnh của nhà Trần, và hạn chế, né tránh bớt sức mạnh của kỵ binh Mông Cổ.

Ghé thăm đền Kiếp Bạc, thuộc địa phận 2 làng Kiếp và Bạc, thái ấp xưa kia của Hưng Đạo Vương. Dù đền thờ Trần Quốc Tuấn có tại rất nhiều nơi trên khắp cả nước (như đền Trần ở Nam Định), nhưng thiết nghĩ đền Kiếp Bạc ở Vạn Kiếp này mới là công trình tiêu biểu nhất. Dù thời gian đã xoá mờ phần nhiều những đường nét hoa văn, trang trí, những nét chữ xưa, nhưng đại để cũng hình dung ra được phần nào địa thế rất đẹp của công trình, trong chính điện, 1 tấm hoành phi lớn đề: Trần triều hiển thánh.

Cách đền Kiếp Bạc không xa là chùa Côn Sơn, công trình gắn liền với Nguyễn Trãi, người chọn nơi đây là nơi an dưỡng, trí sĩ những năm cuối đời. Nhưng chùa Côn Sơn ra đời từ rất lâu trước thời Nguyễn Trãi, Côn Sơn, cùng với Yên Tử và Quỳnh Lâm là 3 trung tâm lớn của Trúc Lâm thiền phái thời Trần. Chùa Côn Sơn phải nói là ngôi chùa cổ đẹp và hoành tráng nhất mà tôi từng thăm thú, dĩ nhiên không kể các công trình chùa chiền xây bằng kỹ thuật hiện đại (bê – tông giả gỗ) sau này.

Chùa nằm dưới chân một ngọn núi thấp, địa thế rộng rãi, bằng phẳng, tiền môn, cổng chính, tiền điện vẫn là những công trình cổ được tôn tạo lại. Nhưng chính điện và hậu điện đã không còn tồn tại được với thời gian, và đã được xây dựng mới dựa trên nguyên bản cũ, từ hình dáng cho đến kích thước, nên đại khái tạo nên một cảnh quan rộng rãi, hài hoà, đẹp mắt. Đứng giữa sân chùa này, tự dưng nhớ và đọc lại được suôn sẻ nguyên bản Hán Văn của Côn Sơn ca, một bài ngỡ đã quên từ lâu! 🙂

bắc hành – 2017, phần 11

ời Trà Cổ nhưng trong lòng vẫn không hết băn khoăn tại sao những cộng đồng di dân rải rác dọc khắp bờ biển Việt Nam đều mang một đặc tính chung là rất cô lập và cực kỳ bảo thủ, những ngữ âm địa phương ít nhiều giống nhau được bảo lưu với rất ít đổi thay trong suốt hơn 500, 600 năm lịch sử. Trong khi đó, những cộng đồng di dân về phía miền núi lại thường hoà nhập vào với môi trường bản địa tốt hơn, trong suy nghĩ của tôi, lý ra, điều ngược lại đúng hơn mới phải!?

Đã đến với Trà Cổ, Móng Cái, vùng đất địa đầu tổ quốc, hành trình quay ngược lại theo quốc lộ 4B đi về phía Lạng Sơn, cách không xa chỉ chừng hơn 100 km. Nhưng trước khi đến thành phố Lạng Sơn, ghé qua bản Chu, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, nơi vẫn còn lưu giữ một ít lịch sử di dân của tộc Việt. Ở miền biên viễn này, có những thôn xóm nhìn vào như là của người Tày, từ nhà ở, trang phục cho đến phong tục tập quán… nhưng cư dân ở đó lại không nói tiếng Tày, chỉ nói tiếng Việt.

Đó là con cháu của những cư dân Việt di cư đến nhiều thế kỷ trước, như nhà họ Vi, vốn gốc Đông Thành, Nghệ An, chuyển đến châu Lộc Bình này từ thời Lê Lợi. Đến đời cụ tổng đốc Vi Văn Định là 14 đời làm thổ ti cai quản xứ Cao Lạng (Cao Bằng, Lạng Sơn). Đó là một chính sách giữ đất nhất quán của các triều đại phong kiến xưa, di dân người Việt, dùng người miền núi quản mặt núi, dùng người miền biển giữ mặt biển! Sau bao thời gian chiến tranh tàn phá, nay chỉ còn duy nhất một chiếc cổng!

Bản Chu nằm trong một thung lũng nhỏ sườn đông nam của đỉnh núi Mẫu Sơn, một cộng đồng Tày – Việt với nhiều di tích hoang tàn (bản bị tàn phá nhiều nhất trong chiến tranh biên giới năm 1979, nằm cách đường biên chỉ tầm 6, 7 km theo đường chim bay), nhưng vẫn còn đây đó một số vết tích cổ: giếng nước, tường thành, bờ ao, các công trình phòng thủ… Và nhất là những ngôi nhà cổ xây gạch hai tầng khang trang bề thế, tất cả giúp hình dung nên những nề nếp sinh hoạt xưa.

Hành trình tạm dừng đón Tết ít ngày ở thành phố Lạng Sơn, thời gian trôi qua ở thành phố “mậu biên” này, những tiếp xúc nhiều hơn với người địa phương, những cảm nhận thực hơn về cuộc sống, những mối quan tâm của giới trẻ, những suy nghĩ toan tính của lớp già… Có nhiều cân nhắc về những chặng kế tiếp của hành trình, có một sự phân vân không hề nhẹ giữa ước muốn đi lên miền núi đầy màu sắc ở phía Bắc, hay xuôi về những cộng đồng Việt giàu truyền thống ở đồng bằng…

bắc hành – 2017, phần 10

ạ Long và Tuần Châu là những khu đô thị mới, được xây dựng rất khang trang và hiện đại, cảnh quan nhìn rất rộng rãi. Hành trình tiếp tục ghé qua Bãi Cháy, vượt cầu Bãi Cháy bắt qua cửa vịnh Cửa Lục để đi về thị xã Hồng Gai cũ, nay là một phường của tp. Hạ Long. Cầu Bãi Cháy nằm trên một địa thế chênh vênh, phức tạp, nối liền hai ngọn đồi cao nơi cửa vịnh, độ tĩnh không 50 m cho thuyền lớn lưu thông, là một cảnh tượng khá ngoạn mục. Dải bờ biển Hồng Gai là một vùng rất rất đẹp.

Một vùng biển nước êm xanh mướt với vô số những hòn đảo nhỏ nằm rải rác cách bờ không xa, như những bức bình phong chắn sóng gió. Trong một giây phút, tôi ước gì mình có thể sắp đặt cuộc sống của mình quanh vùng này, cảnh tượng hoành tráng, đẹp không thua gì dải bờ biển Phan Thiết – Cam Ranh, nhưng lại có nét đặc sắc rất riêng. Cảnh quan này thật đúng là: Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy, Núi bày cờ thế, biếc liền mây… (thơ của vua Lê Thánh Tông khắc trên núi Bài Thơ).

Quá Hồng Gai một chút, đoạn bắt đầu của vịnh Bái Tử Long, đã thấy dấu vết của những vùng khai thác than, tàu chở than đậu san sát trên mặt vịnh. Ven bờ là những nhà máy “tuyển than”, bụi than đen bám khắp sông ngòi phố xá. Nhưng khai thác xuất khẩu than đã bị hạn chế lại đáng kể những năm gần đây, không còn dạng xuất than vô tội vạ đi Trung Quốc, chính sách chung là để dành than cho những nhà máy nhiệt điện đang được xây ven bờ biển Việt Nam suốt dọc từ Bắc vào Nam.

Cứ đi dọc bờ vịnh Bái Tử Long như thế đến thị trấn Cửa Ông, nay là phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả. Rồi từ Cửa Ông, qua một loạt 3 chiếc cầu để ra đảo Vân Đồn. Dọc bờ biển vùng từ Hạ Long đến Cẩm Phả này, có thể thấy khá nhiều di tích lịch sử gắn liền với triều Trần, như đền Trần Quốc Nghiễn, đền Cửa Ông, đền Cửa Suốt, đền Cặp Tiên… Tiếp tục đi dọc bờ biển đến thành phố Móng Cái, ghé thăm đảo Trà Cổ, mũi đất Sa Vĩ, vùng đất địa đầu tổ quốc sát biên giới với Trung Quốc.

Đình Trà Cổ (1461) có kiến trúc tương tự như đình Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây), đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) đã ghé thăm trong các chuyến xuyên Việt trước, nhưng có tuổi đời nhiều hơn đến 2, 3 thế kỷ! Trà Cổ do một nhóm lính gốc Đồ Sơn vâng lệnh triều đình ra trấn thủ biên cương lập nên. Một ngạc nhiên đến sửng sờ khi phát hiện ra, cư dân ở đây vẫn còn bảo lưu một giọng nói thô ráp, cứng cáp đặc trưng của vùng Thanh Hoá, khác hẳn với chất giọng mềm mại của miền Bắc!

bắc hành – 2017, phần 9

ang thang dọc bờ biển Cát Bà, gặp một bác ngư dân đang… đóng thuyền. Trò chuyện một lúc thì nhận thấy, chiếc vỏ composite, dày khoảng 6, 7 ly, được đúc hàng loạt, khá chắc chắn ở một nơi khác. Bác ngư dân mua về, tự làm thêm phần mộc (boong, cabin…) và phần cơ khí (máy móc, tời kéo…) để thành chiếc tàu cá như ý. Thử hỏi một vài câu, kiểu như: nếu cái vỏ này thủng thì vá như thế nào, thì biết người ngư dân hiểu về composite và rành rẽ cách làm việc với sợi thuỷ tinh và keo.

Tuy không thích đa số các mẫu thiết kế thuyền trong vịnh Bắc bộ, nhưng phải thừa nhận một điều rằng người ngư dân miền Bắc chịu khó, nhanh nhạy và biết việc hơn hẳn những vùng khác. Người ngư dân miền Trung, miền Nam vẫn còn khá trung thành với gỗ, chưa chấp nhận và hiểu nhiều về composite, hoặc có hiểu nhưng làm chưa đúng. Với tình hình gỗ tốt ngày càng hiếm và đắt như hiện này, thì việc chuyển sang chất liệu composite ở các dạng thuyền nhỏ là xu thế không tránh khỏi.

Quyết định ở thêm ít ngày tại Cát Bà, mua một tour nhỏ một ngày đi thuyền trong vịnh Lan Hạ để quan sát thêm về vùng biển quanh đây. Về cái tên Lan Hạ, thực chất đó là vấn đề thương hiệu, để tránh xung đột với cái tên Hạ Long, thực chất, chỉ có một vùng biển, một vịnh biển duy nhất, mỗi công ty du lịch được quyền khai thác một phần của nó! Hoá ra, đây là điều tuyệt vời nhất tôi được chứng kiến, được trải nghiệm trong suốt cả hành trình này: đi thuyền trên vịnh Hạ Long!

Tàu đưa du khách đi qua những vùng biển nước trong xanh như ngọc, luồn lách giữa hàng trăm đảo lớn, nhỏ đủ mọi kích cỡ. Riêng quần đảo Cát Bà này đã có khoảng hơn 340 đảo lớn nhỏ, nhiều cái chỉ bé như một hòn đá với muôn ngàn hình thù kỳ dị nổi lên giữa biển khơi. Rải rác đây đó là những bãi cát, rạng san hô nho nhỏ, những địa điểm lý tưởng để sau này tôi có thể neo thuyền dựng lều, cắm trại! 🙂 Những “thuỷ lộ” xinh đẹp mở ra giữa một “thạch lâm” – khu rừng đá!

Chỉ có một số thằng Tây trẻ với thằng Việt già (+khùng) này mới chèo kayak 5km xuyên qua những hang ngầm và bơi 1km trong cái thời tiết rét căm căm này! Nước biển rất rất lạnh, sau cái sốc nhiệt ban đầu thì mọi việc hoá ra cũng không tệ như tôi nghĩ. Một chút vận động, lại được chèo kayak, lại được vẫy vùng giữa biển khơi! Rời Cát Bá trong luyến tiếc, tôi đáp chuyến phà Gia Luận – Tuần Châu đi về đảo Tuần Châu, rồi chạy về thành phố Hạ Long qua cầu nối đất liền với đảo!