ngưu chử, bến nghé

ó phải tôi là người khá cũ chăng, nhưng việc dùng từ Hán Việt trong hành văn hàng ngày với tôi rất bình thường! Tiếng Việt thiếu quá nhiều từ, mà cuộc sống ngày một đa dạng, phong phú, có quá nhiều thứ phải diễn đạt, nên vay mượn là điều đương nhiên! Nên hơi ngạc nhiên khi thấy nhiều người phản đối từ “thu dung” (ví dụ: Tp.HCM triển khai bệnh viện dã chiến thu dung điều trị COVID-19) mấy ngày vừa qua! Xem lại câu vừa trích: “thành phố”, “triển khai”, “bệnh viện”, “dã chiến”, “điều trị”, có từ nào không phải là Hán-Việt không? 😀

Chữ “chử” (Ngưu Chử, Chử đồng tử) phải viết đúng là dấu hỏi, các từ điển Hán-Nôm đều không ghi nhận dấu ngã. Điều này thêm một lần nữa củng cố suy nghĩ của tôi, cho rằng “phân biệt hỏi ngã” là một phân biệt nhân tạo, tức là nó đã được người ta “bịa ra”, hay đã “over-engineer” trong quá trình phát triển hệ thống ký âm Quốc ngữ, rồi áp đặt lên người học, chứ về bản chất, không hề tồn tại trong văn ngôn tiếng Việt! Một suy nghĩ khác cho rằng “hỏi – ngã” là dấu vết của một phân biệt cổ đã biến mất, nhưng điều này không có nhiều chứng cứ!

Bến Nghé – Ngưu Chử, thơ Lý Bạch, Dạ bạc Ngưu chử hoài cổ:

Cảnh đêm Ngưu chử Tây giang,
Trời thu trong vắt không hàng mây trôi…
Sáng dong buồm chiếu đi rồi,
Lá phong đã rụng tơi bời bến sông!

Ngưu chử Tây giang dạ,
Thanh thiên vô phiến vân…
Minh triêu quải phàm tịch,
Phong diệp lạc phân phân.

牛渚西江夜
青天無片雲
。。。。。
明朝挂帆席
楓葉落紛紛

đọc sách

Ôi khát vọng xưa đất trời rộng bước,
Giận thói thường xích chặt tựa lao tù.
Đêm đông lạnh từ giấc nồng mộng ước,
Lại bừng sôi huyết thống của hoang vu!

hời đại sách vở, nhà nhà mua sách, người người đọc sách: oh, Tiếng gọi nơi hoang dã, em đọc rồi mà, hay lắm! Nhưng mới trích có 4 câu thì ngơ ngác hỏi ở đâu, mà 4 câu ngay đầu Chương 1: Into the primitive – Vào cõi nguyên thuỷ! Câu đầu tiên, chương đầu tiên, ôi má ơi, chưa nói đến việc đọc rồi có thấm được gì không! 😢 Nên mọi người thông cảm thái cho độ của mình, dù bất kỳ là ai, mở miệng nói chuyện sách vở thì câu đầu tiên mình văng ra là: Sách ccc!

lệ chi

hật đạm lệ chi tam bách khoả, Bất từ trường tác Lĩnh Nam nhân – 日啖荔枝三百顆,不辭長作嶺南人。。。 – Một ngày “thanh đạm”, chỉ ăn hết có 3 trăm quả vải. Mà suốt đời muốn làm dân đất Lĩnh Nam (Tô Thức). Trời nắng nóng, thèm món chè trái vải bọc hạt sen quá!

huỳnh văn nghệ

acebook nhắc ngày này năm trước… Huỳnh Văn Nghệ, đến tận giờ vẫn là con người rất kỳ lạ! Thơ từ mộc mạc, không trau chuốt, nhưng ý tưởng mới lạ, phóng khoáng, xứng đáng đại diện cho một lớp người “từ độ mang gươm đi mở cõi”… Bờ sông xanh chiều hôm nay buộc ngựa, Kiếm gối đầu theo gió thả hồn cao…

Tôi là người lăn lóc giữa đường trần,
Không phân biệt lúc mài gươm múa bút.
Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực,
Còn yêu thương là chiến đấu không thôi.
Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi,
Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác?
Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát,
Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…

hoạ văn tự

guyên lai là một bài thơ Đường 4 câu 28 chữ của Chương Kiệt, ý phê phán Tần Thuỷ Hoàng đốt sách, chôn Nho, phê luôn cả Lưu Bang, Hạng Vũ đều là người không đọc sách! Đúng là hoạ văn tự thời nào cũng có mà! 😃 Ở Trung Quốc, “đốt sách chôn Nho” là một chủ đề nhạy cảm, vì Mao Trạch Đông từng nhiều lần bày tỏ quan điểm ủng hộ Tần Thuỷ Hoàng, đốt hết các sách Nho gia, Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín vớ vẩn gì đó, chỉ giữ lại sách của Pháp gia, sách dạy trị quốc bằng pháp luật! Điều này theo tôi căn bản không sai, chỉ có điều, thi hành chính sách quá hà khắc ác liệt, dân tình oán thán mà thôi!

Trúc bạch yên tiêu đế nghiệp hư,
Quan hà không toả tổ long cư.
Khanh hôi vị lãnh Sơn Đông loạn,
Lưu Hạng nguyên lai bất độc thư.

Sách vở thành tro đế nghiệp tàn,
Núi sông một phút bỗng tan hoang.
Hố tro chưa nguội Sơn Đông loạn,
Lưu, Hạng đọc thơ được mấy hàng?

dantri.com.vn – Bay 16 tỷ USD vốn hóa chỉ vì CEO đăng một bài thơ lên mạng

章碣
焚书坑

竹帛烟销帝业虚
关河空锁祖龙居
坑灰未冷山东乱
刘项原来不读书

tử viết, tử viết…

ại nói truyện chưởng Kim Dung, Thiên Long bát bộ, hồi 58, 59. Nguyên lai, Tô Tinh Hà của Tiêu Dao phái có 8 đệ tử gọi là Hàm Cốc bát hữu, 8 vị này tuy võ công không cao, nhưng mỗi người có những “tuyệt nghệ” riêng, người chơi đàn, kẻ đánh cờ, người đọc sách… Trong Hàm Cốc bát hữu đó, hàng thứ 3 gọi là Cẩu Độc, tên này nghĩa là: bạ cái gì cũng đọc, đọc vô số sách vở, cứ mở miệng ra là: “Tử viết, Tử viết” (Khổng tử nói thế này, thế kia), luôn mồm trích dẫn, tầm chương trích cú. 2 hồi này trong Thiên Long bát bộ có rất nhiều “Tử viết, Tử viết”, thật là một màn trào phúng, châm biếm rất thú vị!

Chuyện “Tử viết, tử viết” (子曰,子曰。。。 Khổng tử nói thế này, Khổng tử nói thế kia…) trước đã nói nhiều, nay đến chuyện “Khổng tử không nói”… 子不語怪力亂神 – Tử bất ngữ quái lực loạn thần – Khổng tử không bàn chuyện quái dị, bạo lực, phản loạn và thần quỷ. Nhiều lần, nhiều người hỏi Khổng Ni về thần tiên, ma quỷ, về “thế giới bên kia”, đều được đáp rằng: chuyện người sống còn chưa biết rõ, bàn làm gì chuyện người chết! Tư tưởng của Khổng tử tập trung hoàn toàn vào vai trò, tư cách, đạo đức của con người trong xã hội, ông ấy từ chối trả lời các vấn đề siêu hình, siêu nhiên…

vận bút

ể chuyện thời cấp 3, thầy cô giảng bài kệ, ở dưới mình chán, chép thơ chữ Hán. Bạn có đứa thấy nên hỏi: bạn học chữ Hoa à, mình đáp: vâng, nó không tin, bắt tự viết tên ra, thế là tôi viết chữ Xuyên – – tượng hình dòng nước chảy 3 vạch dọc, ku bạn éo muốn tin, chữ Hoa gì mà như thế, đích thị là tôi bịa ra lừa gạt! Bài học rút ra là: đừng nhiều chuyện với kẻ không biết, đối với nó, biết hay không éo khác gì nhau! 😢

Lại nói chuyện “vận bút”, bàn tay con người thật kỳ diệu, ngoài “gross motor skill”, còn kỹ năng “fine motor skill”, cái sau là cái giúp cho 2 bàn tay có thể làm những việc vô cùng phức tạp và khéo léo, như đánh đàn hay thư pháp, kỹ năng “vận bút’ như trong video thực là quá siêu đẳng, cần có năng khiếu và rất nhiều năm rèn luyện. Mà bàn tay chèo thuyền của tui chỉ có “gross skill” thôi, chứ mộng mị “fine skill” đã bỏ từ lâu! 😅

polaris

Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê triền buổi có buổi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi đông lại đoài.

hực ra về mặt thiên văn rất là dễ hiểu, hình dung Bắc đẩu như 1 con dao, thì Polaris nằm ngoài cùng đằng cán, và nằm gần sát với phương chính Bắc, ngay trên trục quả đất, nên khi trái đất xoay luân chuyển giữa ngày và đêm thì “con dao” Bắc đẩu đó cũng xoay tròn tương đối (chuyển động biểu kiến) quanh cán, nếu cán nằm thẳng đứng thì chính là ban đêm!

đường xa

ace nhắc ngày này năm trước. Chuẩn bị sắp xếp công việc, dự kiến hành trình, cho thuyền bơi tới trước… 😀

Đường xa bao nỗi truân chuyên,
Ngọn đèn đêm gió, con thuyền biển khơi.
Đèn vẫn tỏ, thuyền bơi tới trước…

bắc đẩu

徐安貞
聞鄰家理箏

北斗橫天夜欲闌
愁人倚月思無端

ai bức “sơ đồ” chòm sao Bắc Đẩu, cái đầu vào nửa đêm, chòm sao thẳng đứng, cái sau ban ngày, chòm sao nằm ngang. Thơ của Từ An Trinh thời Đường: – Bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan, Sầu nhân ỷ nguyệt tứ vô đoan – Đêm tàn, Bắc đẩu quay sang, Người ngồi dựa nguyệt, ngổn ngang mối tình… Sao Bắc đẩu xoay ngang tức là trời sắp sáng… 🙂

từ nguyên: giả dụ, rút cuộc & sốt

ừ nguyên: giả dụ (假如, âm Hán Việt: giả như) & rút cuộc (如果, âm Hán Việt: như quả). Để ý hiện tượng 1 chữ “như” (âm Hán Việt) nhưng có đến hai cách đọc (dụ, rút), chứng tỏ từ ngữ du nhập vào VN tại nhiều thời điểm, thậm chí là từ nhiều nguồn (địa phương) khác nhau.

Sốt: (âm Hán Việt: thiêu) từ này nhiều người cho rằng bắt nguồn từ tiếng Pháp “chaud” có nghĩ là nóng, nhưng tôi lại cho rằng 1 từ rất cơ bản như thế không phải mượn từ Pháp ngữ muộn đến vậy! Dĩ nhiên, lần nữa chỉ “propose” như thế, không dài dòng giải thích!

bảo ninh

ễ tang Nguyễn Huy Thiệp, người cầm bút viết, áo dạ nâu xám, đầu bạc trắng xoá là Bảo Ninh, người anh hùng B3 của tôi. Rất nhiều điều BN viết mang dáng dấp, chi tiết của trận Ia-drăng, mặc dù BN ở chiến trường B3 từ 69 đến 75, sau thời điểm đó!

“Thà chết không hàng… Anh em, thà chết…” – tiểu đoàn trưởng gào to, như điên, mặt tái dại, hốt hoảng hoa súng ngắn lên, và ngay trước mắt Kiên anh ta tự đọp vào đầu, phọt óc ra khỏi tai, Kiên líu lưỡi, kêu oá oá trong họng. Bọn Mỹ xông tới, tiểu liên kẹp bên sườn…”

nguyễn huy thiệp

hú thật, tác gia VN đương đại, tôi chỉ thích đọc có 2 người, đầu tiên là Bảo Ninh, kế đến là Nguyễn Huy Thiệp. Mà cũng ko dám nói là “đương đại”, vì NHT tôi đã đọc từ hơn 20 năm trước! Đọc NHT, người ta có cảm giác trở về với nguồn cội của mình, “cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, cảm giác như được trở về quê nhà, tháo giày và đi chân trần trên cát, để cảm nhận sự gắn kết lạ lùng với mảnh đất này, để hình dung một quê hương nửa hiện thực, nửa thần thoại, nửa lãng mạn văn vẻ, nửa thô bỉ trần tục…

Chảy đi sông ơi, Băn khoăn làm gì. Em thì nông nổi, Anh thì mê mãi, Anh đi tìm gì, Lòng đời đen bạc, Mỹ nhân già đi. Lời ai than thở, Thoảng trong gió chiều, Anh hùng cười gượng, Nét buồn cô liêu…

tiếng Việt có 8 thanh

âu về trước, 1 đêm khó ngủ, chui vô cái hang thỏ Alice – in – wonderland trên Internet và xem được cái này, 1 người nước ngoài học tiếng Việt với cảm quan nhạy bén đã nhận ra tiếng Việt có 8 thay vì 6 thanh (tones). Điều này có vẻ không được “đúng đắn” cho lắm, vì nhìn từ hệ thống chữ viết Latin thì tiếng Việt chỉ có 6 thanh, nhưng về phân tích ngữ âm học, thanh “sắc” và “nặng” có thể được chia thành 2 thanh con. Hơi khó để nhận ra với người đã quen chữ Quốc ngữ, nhưng với một người “chưa biết gì” do mới học tiếng Việt (hoặc có khi chính là “biết rất nhiều”) thì lại nhìn ra được!

Nếu đọc các tác giả cũ như Dương Quảng Hàm hay Trần Trọng Kim thì sẽ thấy họ dùng cách “phân loại” xa xưa có nguồn gốc Trung Quốc gọi là “Tứ thanh – 四声“. Tứ thanh bao gồm: bình – , thượng – , khứ – , nhập – . Mỗi thanh này lại chia thành 2 thanh con là: phù – & trầm – , tức cao & thấp, nên tổ hợp lại sẽ có 4×2=8 thanh. Điều này… rất đáng ngạc nhiên, đi rất gần với các phân tích ngữ âm học hiện đại! Nếu theo cách giải thích này thì tiếng Việt có 8 hoặc 7 thanh, 7 thanh là do “hỏi” và “ngã” đã nhập làm một. “Tứ thanh” là nền tảng căn bản rất quan trọng của thơ ca Đường, Tống.

Từ “Tứ thanh” phát triển thành hàng trăm niêm luật khác nhau của Đường thi, và hàng ngàn luật của Tống từ. Sang đến thời Nguyên, xã hội có nhiều biến động, các bộ tộc phương Bắc tràn xuống, ngôn ngữ dần mất bớt thanh sắc và còn lại 4 thanh như tiếng Quan thoại ngày nay. Bắt đầu từ đó, người TQ bắt đầu làm thơ… “sai luật”, sai khi đọc theo âm Hán-Việt nhưng vẫn “đúng” khi đọc với giọng Quan thoại! Đó là lý do tại sao người Việt đọc Đường thi, Tống từ thấy hay và dễ tiếp thu, nhưng sang Nguyên khúc thì bắt đầu thấy “lạc vận”, đến Minh, Thanh thì rất dễ nhận ra “âm luật” “sai” rất rõ ràng!

Trở lại vấn đề tiếng Việt có 6 thanh hay là 8 thanh, thực ra 6 hay 8 thanh, với đa số người Việt không quá quan trọng (!?!?). Nhưng cần hiểu rõ, hiểu sâu về hệ thống “âm luật cổ” để có hướng phát triển cho hệ thống ký âm Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ, một hệ thống chữ viết nhân tạo và có phần “hơi vội vàng, tạm bợ, hơi duy ý chí và áp đặt” đã khiến chúng ta có cái ấn tượng sai lạc là tiếng Việt chỉ có 6 (hoặc 5) thanh! Đúng hơn, về mặt ngữ âm học, cần phải nói rõ là tiếng Việt có 8 (hoặc 7) thanh, nhưng hệ thống chữ ký âm Quốc ngữ chỉ sử dụng có 5 ký hiệu để biểu diễn thanh điệu mà thôi!

lạc hà thu thuỷ

acebook lại nhắc, hồi đó mới chèo được 2, 3 năm… xuồng đi thuê ở khu du lịch chứ chưa tự đóng. Vạn sự khởi đầu nan, lúc mới đầu nhảy xuống nước, từ con kênh nhỏ vài chục mét ra đến con sông SG ngang mấy trăm mét nhìn mênh mông đáng sợ, cảm giác hồi hộp vô cùng.

Giờ mấy chục cây số ngang biển vẫn thấy nhỏ. Cái gì cũng phải tập từ từ, tự tay làm rồi mới hiểu, hồi xưa, nghe “bọn Tây” nói chuyện chèo vài ngàn cây số bằng cái xuồng ngang 50cm, nếu không đã tự tay chèo vài trăm cây, thì e là nghe như chuyện khoác lác, tào lao…

bát trạo ca

am thập niên lai hải thượng du, Thủy thanh ngư hiện bất thôn câu. Điếu can chước tận trùng tài trúc, Bất kế công trình đắc tiện hưu. – Ba chục năm qua dạo sông chơi, Nước trong nên cá chẳng ham mồi. Hết cần trồng trúc làm cần mới, Đâu quản nhọc nhằn được mới thôi!

德成禪師
得便休

三十年來海上遊
水清魚現不吞鉤
釣竿斫盡重栽竹
不計功程得便休

bạc tần hoài

huyền mơ trong khúc Nam Ai, đàn khuya vẳng trên sông dài, ai luyến, ai tiếc khúc ca Tần Hoài… Bao kiếp giang hồ, ly biệt thường tình, có ai nhớ ai nơi Hương Bình (Đêm tàn bến Ngự – Dương Thiệu Tước). “Khúc ca Tần Hoài” nhắc đến trong bài hát là khúc ca nào?

Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng Hậu đình hoa.

Khói mờ sóng lạnh bãi trăng trong,
Đêm đậu bến Tần quán rượu đông.
Thương nữ không hay sầu nước mất,
Hậu đình hoa hát vọng sang sông.

Ấy chính là gợi nhớ lại bài thơ “Bạc Tần Hoài” – Đỗ Mục đã có nhắc đến về trước… 🙂 Giờ đây, phim ảnh Trung Quốc bắt đầu đưa Tần Hoài trở lại, xem 4, 5 phim đều thấy có cảnh này, còn ở Việt Nam người ta đã quên mất từ lâu, chỉ có họ Dương kia là còn nhớ!

杜牧
泊秦淮

烟籠寒水月籠沙
夜泊秦淮近酒家
商女不知亡國恨
隔江猶唱後庭花

tặng thiếu niên

ặng thiếu niên – Ôn Đình Quân – Giang hải tương phùng khách hận đa, Thu phong diệp há Động Đình ba. Tửu hàm dạ biệt Hoài Âm thị, Nguyệt chiếu cao lâu nhất khúc ca!

溫庭筠
贈少年

江海相逢客恨多
秋風葉下洞庭波
酒酣夜別淮陰市
月照高樓一曲歌