tái hạ khúc

Khúc hát dưới ải: “Ngũ nguyệt Thiên sơn tuyết, Vô hoa chỉ hữu hàn, Địch trung văn Chiết liễu, Xuân sắc vị tằng khan. Hiểu chiến tùy kim cổ, Tiêu miên bão ngọc an – 五月天山雪,无花祇有寒。笛中闻折柳,春色未曾看。晓战随金鼓,宵眠抱玉鞍。” Đã tháng Năm rồi mà trên núi Thiên sơn, hoa vẫn chưa nở, nơi nơi băng tuyết giá lạnh.

Sáo ai đó đang thổi bài ca xuân “Chiết liễu”, Mà cảnh sắc mùa xuân chưa từng thấy qua. Sáng đánh nhau theo hiệu lệnh chiêng trống, tối ôm yên ngựa nằm ngủ… Tôi dám nói rằng: chỉ cần một bài thơ này của Lý Thái Bạch, tổng cộng, vẻn vẹn chỉ có 8 câu, 40 chữ là đã đủ cảm hứng để làm thành một bộ phim lịch sử – cổ trang hoành tráng rồi.

Nói để mọi người hiểu, gia tài văn hóa, văn học của người ta rộng lớn đến mức nào, sâu xa như thế nào, không phải kiểu một đám “đĩ miệng – nhà thơ” như ở VN hiện tại, còn không tự luận ra được khác biệt ở đâu. Và như thế, bài nào của Lý Bạch cũng có thể làm thành một bộ phim, nếu không phải “Tái hạ khúc” thì cũng là “Tái thượng khúc”…

cho tới chừ đây

Tình hình là gần nhà có một nguồn phát sóng gây nhiễu không xác định được, cả 2 con chuột không dây và 2 cái bàn phím không dây đều bị nhiễu đến mức không xài được! Bàn phím thì dễ vì nó có nhiều cách thức kết nối, chỉ cần đấu dây vào là xong, nhưng chuột thì thua, đành phải chạy đi mua một con loại có dây! :( Cho tới chừ đây tới chừ đây, Tôi mơ qua cửa khám bao ngày. Tôi thu tất cả trong thầm lặng, Như cánh chim buồn nhớ gió mây!

xuân giang hoa nguyệt dạ

Khi còn là đứa bé nhỏ xíu, mỗi lần đọc đến câu này là cứ trầm trồ, tấm tắc mãi thôi: Thùy gia kim dạ biên chu tử, Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu谁家今夜扁舟子,何处相思明月楼。。。 Dần dần trở thành một chủ đề tâm đắc, ảnh hưởng mãi đến về sau. Ai hiểu ý tứ hai câu này sẽ thấy có gì đó giống như Trương Chi – Mị Nương trong truyền thuyết của VN vậy:

Tây hiên Mị Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan mơ bóng con đò trôi, giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời. Đò trăng cắm giữa sông vắng, gió đưa câu ca về đâu? Nhìn xuống đáy nước sông sâu, thuyền anh đã chìm đâu. Đò ơi, đêm nay dòng sông Thương dâng cao mà ai hát dưới trăng ngà. Ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta… Trương Chi – Văn Cao

trường hận ca, 2

Bữa rảnh rỗi nhảy vô hỏi ChatGPT: bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị bắt đầu thế này, “Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc… – Hoàng đế nhà Hán say mê nữ sắc, luôn nghĩ đến giai nhân nghiêng nước nghiêng thành”, vậy cụm từ “Hán hoàng” thực ra là nói về ai!? ChatGPT trả lời : “Hán hoàng” là nói về Đường Minh hoàng, vị hoàng đế thứ 7 đời Đường. Khá là kinh ngạc vì ChatGPT thông minh như vậy, liền hỏi tiếp: nhưng “Hán hoàng” nghĩa đen tức là hoàng đế nhà Hán mà, sao lại nói về hoàng đế nhà Đường được?! ChatGPT liền giải thích loanh quanh: đây là một cách diễn đạt mang tính thi ca, ước lệ, thực chất không đề cập đến Hoàng đế nhà Hán!

Nghĩ kỹ, hóa ra ChatGPT không thông minh đến như thế, nó chỉ lặp lại những gì được nhồi nhét cho mà thôi, thực sự không có chút tìm hiểu hay suy luận nào! Một ví dụ nữa là bài “Yên ca hành” của Cao Thích, mở đầu thế này: “Hán gia yên trần tại đông bắc”, rõ ràng là nói chuyện thời nhà Đường, nhưng mở đầu cứ phải là “Hán hoàng, Hán gia”. Đơn giản là vì Bạch Cư Dị, Cao Thích là quan lại, thần tử của Đường Huyền tông, người đương thời không ai dám nói về “đương kim hoàng đế” một cách trực tiếp thẳng thừng cả, đều phải nói chệch, nói tránh đi! Đây là điều mà ChatGPT không hiểu, nhưng thực ra kiến thức của nó cũng đã hơn rất nhiều người!

trường hận ca, 1

Rất lâu về trước, đọc lại Trường hận ca – Bạch Cư Dị, đến đoạn: Quy lai trì uyển giai y cựu, Thái Dịch phù dung Vị Ương liễu. Phù dung như diện liễu như mi, Đối thử như hà bất lệ thùy… 歸來池苑皆依舊,太液芙蓉未央柳。芙蓉如面柳如眉,對此如何不淚垂。 để ý thấy: “cựu” và “liễu” không được hợp vận cho lắm, còn nếu đọc là “kiệu”, theo cùng một cách như rượu – riệu…

Thì lại rất đúng vần, hợp với “liễu”, từ đó có thể suy ra, ngay từ thời Đường, âm của nó đã là “kiệu”, “riệu”, còn “cựu” và “rượu” có lẽ là âm còn xưa hơn nữa. Đương nhiên, vấn đề ngữ âm không thể chỉ suy luận đơn giản như vậy, nhưng cũng có lý do để tin rằng lối đọc “kiệu, riệu….” không phải là một loại giọng địa phương của Việt Nam, mà chính là ảnh hưởng từ Trung Quốc!

bát trạo ca

Facebook nhắc lại ngày này năm trước, chùm “Bát trạo ca” của “Đức Thành thuyền tử” (cái tên này có nghĩa là: người chèo thuyền Đức Thành), thi nhân, thiền sư thời Đường. Đây là một chùm nhiều bài lấy chủ đề sông, nước, thuyền, trăng, câu cá (vì là nhà sư nên ông ta luôn câu bằng lưỡi thẳng, nôm na chính là… đi cho cá ăn). Các làng chài ven biển miền Trung Việt Nam có lối “Hát bả trạo”, là từ chữ “bát trạo” mà ra! Bát trạo ca, tức là bài ca chèo thuyền, chỉ là một trong vô số nội dung của thơ Đường. Nói về các chủ đề của Đường thi…

Đầu tiên là dòng thơ cung đình, những lời chúc tụng hoa mỹ, sáo rỗng. Đối lập với nó là dòng thơ điền viên, diễn tả niềm vui, an lạc của cuộc sống nơi thôn dã. Một dòng nữa tạm gọi là “khuê trung oán”, mô tả nỗi ai oán, sầu não của người phụ nữ chốn khuê phòng khi trượng phu ra trận đã lâu ngày. Dòng mà tôi thích đọc nhất là Biên tái, có nội dung về chiến trận, sa mạc, đời sống nơi biên ải, kiểu như: Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh, Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ!Chiến sĩ nơi trận tiền nửa sống nửa chết, Mà dưới trướng, người đẹp vẫn múa hát!

Có dòng thơ hiện thực khốc liệt của Đỗ Phủ, hay lãng mạn cao vời của Lý Bạch, lại có những dòng thơ thể hiện rõ ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo như của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên. Cứ thử đọc thử vài ngàn bài, để thấy cái thế giới tâm hồn, cái kỹ năng sử dụng ngôn từ của người ta phong phú đến cỡ nào, mà đó là thời hơn một ngàn năm ba trăm trước nhé! Có tác giả đã nhận xét về Đường thi: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần… Không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch!

Nhiều khi nghĩ mà buồn, có những loại bên trong trống hoác, đến bản thân dốt, kém chỗ nào cũng chưa thể tự nhận thức, không thể tự luận ra được! Lại có những loại ngồi trước TV xem toàn phim Trung Quốc suốt mấy chục năm, ấy thế mà vẫn không học được điều gì! Và cũng có những loại, loay hoay hiểu được một vài câu chữ rồi… mắc cứng luôn vào đó, dùng câu chữ như một loại “bùa chú” để “lòe người” chứ không thực sự lĩnh hội được cái tinh thần, hồn cốt bên trong! Và khổ nỗi, đó chính là những loại vỗ ngực: “ta đây là nhà thơ” các kiểu!

thi ca

Đường thi là một đỉnh cao, cao vời vợi của thi ca cổ điển TQ, sẽ không bao giờ có lại một thời đại mà nhà nhà làm thơ, tạo ra không biết bao nhiêu cách diễn đạt, ý tưởng mới lạ, làm giàu thêm đời sống văn hóa. Sang đến thời Tống, dù văn nhân vẫn tiếp tục làm thơ theo thể Đường luật, họ tiếp tục sáng tạo ra thể loại Tống từ mới, cách diễn đạt uyển chuyển, gần với âm nhạc hơn. Sang đến thời Nguyên, với sự cai trị của đế chế Nguyên Mông, ngôn ngữ có sự thay đổi lớn, dần dần trở thành có 4 âm thay vì 6 âm như trước. Nên rất nhiều thơ làm theo lối Đường luật trở nên… sai âm luật. Dù vẫn tiếp tục làm theo thể Đường thi, Tống từ, nhưng thời Nguyên phát triển mạnh về Nguyên khúc, hình thức hý kịch mang tính âm nhạc sinh động. Sang đến thời Minh, dù vẫn thấy Đường thi, Tống từ, nhưng đời sống tinh thần sang một trang mới, văn xuôi dạng tiểu thuyết phát triển mạnh!

Nên cụ Nguyễn Du mới chuyển thể Kim Vân Kiều truyện thành thể lục bát vốn quen thuộc với người Việt, chứ văn xuôi nhiều chữ như thế, đa số không đọc nổi. Sang đến thời hiện đại, các văn nhân thi thoảng vẫn làm Đường thi, Tống từ, nhưng đó chỉ là sự “hoài cổ” bất chợt, không ai muốn tiếp tục một cái thể loại đã không còn đúng, hay về âm điệu, không có sự mới mẻ trong ý tưởng. Ngay tại TQ, thi ca hiện đại đã như một dòng sông ngừng chảy, chưa biết đi về đâu. So với Hoa ngữ, tiếng Việt vẫn giữ được một lợi thế rõ rệt là còn bảo lưu đủ 5, 6 âm! Nhưng bù lại, sự tìm tòi sáng tạo trong ý tưởng, trong cách diễn đạt thực sự không thể so bì được. Mà nói cho cùng thì, thời thế góp một phần vô cùng quan trọng trong việc việc định hình nên ngôn ngữ thi ca, chỉ có số phận bi thảm như Văn Thiên Tường mới viết lên nổi một bản “Chính khí ca” hùng tráng đến vậy!

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh, những dòng thơ mà người người, đời đời truyền tụng và ngưỡng vọng, đấy là loại thơ ca được viết ra bằng mồ hôi và máu, so với những kiểu được viết bằng… nước bọt hẳn không cùng một loại! Phải có thời thế đổi thay, lịch sử biến động, phải có cuộc sống phong phú, con người vận động thì mới có cảm hứng và chất liệu cho những loại thơ ca đích thực được. Tại Việt Nam, thơ Mới cũng giống như một buổi hoàng hôn rực rỡ, chính là báo hiệu màn đêm sắp buông xuống! Với những tia nắng cuối ngày: Anh đi đấy, anh về đâu? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm! (Nguyễn Bính) Về đâu thì chưa biết, nhưng chắc chắn là phải có cách diễn đạt mới lạ cũng như ý tưởng khác biệt. Không thể cứ lặp lại mãi vài câu chữ nghèo nàn trong cái thể lục bát cũ rích rồi vỗ ngực “ta đây nhà thơ” được!

Mà để tạo ra sự khác biệt, cũng có người đã vò đầu, bứt tai, dày vò bản thân để tạo ra câu chữ hiểm hóc, kiểu như Giả Đảo, Lý Hạ, Mạnh Giao thời Đường, tạo ra cả một “trường phái khổ thi”, suốt ngày chỉ vặn vẹo câu chữ! Tuy cũng có người khen ngợi, nhưng toàn là loại thi ca thiếu sức sống, thực chất chính là phản ánh sự đau khổ, ốm yếu, bệnh tật của các tác giả làm ra nó! Ngay ở thời Đường, đã có nhiều dòng thơ và vô số tác giả khác đáng đọc hơn nhiều: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần… không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch! Giả, Mạnh so với Lý-trích-tiên như đom đóm với trăng rằm mà thôi. Mà để được như họ Lý, đầu tiên là phải cỡi ngựa, đánh kiếm, chèo thuyền… sống một cuộc đời cho nó đủ đầy ý nghĩa đã! Nôm na, ngắn gọn là cứ tập thể dục đi rồi hẵng nói chuyện thi ca, nhé! :D

lắng nghe thinh lặng

Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau,
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan…

Lắng nghe sự thinh lặng, hơn 30 năm trước, hồi đó tôi… 14 tuổi, viết văn “cưa gái”! Mà “gái” cũng dạng “đọc hiểu” tốt, nên cô ấy giữ lá thư lại cho đến bây giờ, nhờ đó mà vẫn còn nhớ được đại ý hồi đó mình viết gì! “Những năm thiếu niên, nghe tiếng mưa rơi mà tưởng đến những cây nến hồng, nhỏ từng giọt từng giọt trong đêm tân hôn.

Ở tuổi trung niên, ngồi trên chiếc xuồng nhỏ giữa dòng sông, nghe tiếng mưa rơi mà nghĩ đất trời mênh mông, cuộc đời phiêu bạt. Đến lão niên, nghe tiếng mưa rơi trên mái ngói, đều đặn như tiếng kinh cầu trong một ngôi chùa…” Nói là “nghe mưa”, thực ra là “nghe tâm” mà thôi! 14 tuổi đã viết như thế, dường thấy trước được nhiều điều….

ngữ văn

Đề Ngữ văn quốc gia mà câu cú thế này đây: Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi… Câu sượng như cơm sống, viết tiếng Việt còn chưa suông, ngữ nghĩa vô cùng mơ hồ! Nguyên văn tiếng Pháp, Albert Camus: L’artiste se forge dans cet aller retour perpétuel de lui aux autres, à mi-chemin de la beauté dont il ne peut se passer et de la communauté à laquelle il ne peut s’arracher Cụm từ “à mi-chemin” phải dịch là nửa đường, lưng chừng, dịch “tại quãng đường” là hoàn toàn vô nghĩa, tôi nghĩ đây là… dịch tự động bằng máy tính! Các cụm từ “tương quan liên tục”, “tôi luyện bản thân” đều không đúng!

Lỗi là ở người ra đề, trích dẫn những ấn phẩm xuất bản gần đây, mà những ấn phẩm đó, nói thật, rất có vấn đề! Câu từ nhộn nhạo, chắc chắn dịch tự động bằng máy tính, hành văn trúc trắc, nhiều chỗ xàm xí, vô nghĩa! Dù biết rằng: Traduire, c’est trahir – Dịch, tức là phản, nhưng nếu là tôi thì sẽ phỏng dịch như sau: Người nghệ sĩ buộc mình trong những mối “quan hệ đẩy tới đẩy lui” thường trực với mọi người, lơ lửng lưng chừng ở đâu đó giữa hai bờ, một bên là nghệ thuật mơ mộng, đẹp đẽ, và bên kia là cái cộng đồng “ngu dốt, xàm l…” nhưng lại không thể tách rời khỏi nó được! :D Đương nhiên là tôi có thêm vào mấy chữ cho ngữ nghĩa “rõ ràng” hơn, nhưng đề này chẳng có gì trừu tượng, cũng không khó nghị luận!

les miserables

Cafe sáng, bàn kế bên có một ku đang hăng say nói về những “Những người khốn khổ” – Victor Hugo, mà chuyện này nghe nó giống như “thời trang” vậy, tôi đã nghe lặp đi lặp lại vài ba lần, ở 2, 3 nơi khác nhau, chỉ trong mấy ngày gần đây thôi, nghe là biết “bài” chúng nó đang “diễn”, thế nên ngứa miệng hỏi một câu: “Anh có vẻ mê tác phẩm Những người khốn khổ nhỉ, vậy con gái nhân vật Jean Valjean tên là gì ấy nhỉ?!” Thế là ú ớ, không trả lời được, mình dự là nếu anh ta trả lời được sẽ hỏi tiếp: “Thế người yêu của cô con gái của ông Jean Valjean tên gì ấy nhỉ?”, nếu mà vẫn trả lời được sẽ hỏi tiếp: “Thế người con gái yêu đơn phương anh chàng người yêu của cô con gái của ông Jean Valjean tên là gì?” Giờ sao toàn người cứ muốn “kể chuyện”, nhưng lại không hề chịu đầu tư công sức đọc truyện, cứ nghĩ đọc được vài “câu kinh” là có thể trở thành “Phật” được chăng!? Phật thì chắc chắn là không thành được rồi, còn em thì chỉ muốn làm rõ là đến cả vài “câu kinh” cũng chưa đọc cho nó đàng hoàng tử tế! “Ngứa miệng” hỏi ngang thế thôi, đúng ra nên để cho mọi thứ nhân quả vận hành theo lẽ tự nhiên!

Đạo lý nếu chỉ nói đằng mồm, chỉ “đĩ miệng” mà có được thì chúng ta đã ở “nước thiên đàng” lâu rồi! Về cô gái mang cái tên Eponine, người đơn phương yêu chàng thanh niên quý tộc nghèo Marius, chồng tương lai của Cosette, con gái ông Jean Valjean, đây có lẽ là nhân vật được xây dựng cá tính hấp dẫn nhất trong toàn bộ bộ tiểu thuyết đồ sộ 3 ngàn trang, 600 ngàn chữ này, không phải là nhân vật chính Jean Valjean, không phải viên thanh tra Javert, cũng không phải là ông giám mục Myriel! Mà là Eponine, con gái nhà Thenardiers, một gia đình tội phạm bất hảo, nhưng vì tình yêu với Marius mà cứu rỗi được tâm hồn! Cách mạng Pháp bùng nổ, chết trên chiến lũy dựng lên trên đường phố Paris ngày hôm đó, kỳ lạ thay là hai đứa con rất sáng giá của cái gia đình vô cùng hắc ám là Thenardiers. Cậu bé Gavroche chết khi đang gom nhặt đạn hỗ trợ các chiến sĩ cách mạng, còn người chị gái Eponine chết vì đỡ đạn thay cho Marius, hai tay chụp lấy nòng súng, đạn xuyên qua cả hai bàn tay và đi vào ngực! – Et puis, tenez, monsieur Marius, je crois que j’étais un peu amoureuse de vous!