từ nguyên: cam sành

Cam – là một từ Hán Việt đã mượn từ rất xa xưa, thế còn “cam sành” thì sao?! Sành chính là âm đọc mới sau này của – âm Hán Việt xưa đọc là tranh – chanh! Từ này, ngay từ gốc là đã có sự nhập nhằng về nghĩa: vừa dùng để chỉ loại cam vỏ dày, vừa dùng để chỉ trái chanh! Để phân biệt thì người ta hay dùng 香橙 – hương tranh để chỉ trái chanh! Như thế cùng một mặt chữ là: , nhưng tiếng Việt mượn đến 2 lần, một lần đầu để chỉ quả chanh, và một lần sau để chỉ một giống cam vỏ dày gọi là (cam) sành!

Còn để chỉ loại chanh Tây quả to, màu vàng mới sau này, tiếng Trung hiện đại dùng chữ 柠檬, phiên âm trực tiếp từ tiếng Anh “lemon”, nhưng âm Hán Việt đọc là… “ninh mông”! Có thể thấy cái nhập nhằng ninh-linh, N và L đã có gốc gác xa xưa, không phải là chuyện đơn giản! Qua nhiều ví dụ khác có thể thấy rõ, những dạng phát âm tiếng Việt “không chuẩn”, như “N-L” ở miền Bắc, và “V-D” ở miền Nam, đều là do ảnh hưởng trực tiếp từ tiếng Trung (hoặc các phương ngữ TQ) tại nhiều thời điểm khác nhau!

“thuần việt”

Các nhà ngôn ngữ học đã tìm ra các quy luật biến âm dựa trên Phiên thiết, có thể truy nguyên một số từ tiếng Việt. Nhưng vẫn có rất, rất nhiều từ không nằm trong những quy tắc đó, không thể truy nguyên được nếu chỉ đứng từ góc độ sách vở thuần túy. Nhưng, những từ này lại có thể truy gốc dễ dàng nếu chịu khó xem kỹ các phim Trung Quốc. Vấn đề là tiếng Việt mượn từ tiếng Trung theo kiểu… “mua sỉ – wholesale”, nhập nguyên lô, nguyên kiện một số lượng từ ngữ vô cùng lớn, lại nhập tại rất nhiều thời điểm khác nhau! Nhiều từ, nếu chỉ tra từ điển thường là không có!

Ví dụ như từ… “ví dụ – 比如“, từ này, âm Hán–Việt đọc là: tỉ như, nhưng âm Bắc Kinh hiện đại đọc là… ví dụ. Một ví dụ cũng rất đặc sắc nữa là: đủ – (đầy đủ, no đủ)! Để ghi từ “đủ”, những người làm ra chữ Nôm đã bịa ra hơn 5, 6 cách khác nhau, nhưng không ai biết rằng, “đủ” đã âm thầm du nhập tại một lúc nào đó, là âm đọc của – âm Hán Việt là: câu, cú, mặt chữ vừa có tính hội – ý, vừa có tính hài – thanh như thế! Nếu đã biến âm nhiều đến mức như thế thì không cách nào truy ra gốc được, nhưng cứ xem phim là thấy rõ: từ âm đọc cho đến ngữ nghĩa đều giống y hệt.

Vài ví dụ khác: được – – đắc, cả – – cách, cút – – cổn, sốt – – thiêu, cùn – – độn, quýt – – quất, trễ – – trệ, thử – – thí, nung – – dong, khéo – – xảo v.v… Sự vay mượn tại nhiều thời điểm này, kỳ lạ thay, có xu hướng không mượn từ Quảng Đông, nơi gần VN hơn, mà mượn trực tiếp từ Quan thoại (hoặc Quan hỏa), mà Quan thoại thì, theo dòng lịch sử biến động, ngày càng khác Phiên thiết! Các từ điển Nôm hiện – có có những thiếu sót rất lớn khi không giải thích, truy nguyên được rất nhiều từ vay mượn, từ đó dễ dẫn đến suy nghĩ rằng chúng “thuần Việt”!

từ nguyên: viên

Tối qua sắp đi ngủ thì tự dưng nghĩ đến một hiện tượng “đồng âm” hơi lạ trong tiếng Việt: viên – – vườn (khu vườn) và viên – – vượn (con vượn)… không làm sao cắt nghĩa được cho rõ ràng. Suy nghĩ ban đầu cho rằng đây là cách phiên âm xưa cũ đã du nhập ngay từ thời Hán – Đường, vì Phiên thiết Hán – Việt thì thực ra mãi đến sau thời Tống mới được nghĩ ra!

Rất nhiều người tìm cách đưa ra một lý giải khác, cố đi tìm “từ nguyên” cho các từ trong tiếng Việt, nào là gốc Mon – Khmer, nào là gốc Nam – Á, nhưng những ví dụ đó rất thiếu sức thuyết phục, thậm chí là vô cùng khiên cưỡng. Đến hơn 90% trường hợp mà ta chưa tìm được nguồn gốc, vô số những từ ta nghĩ 100% là “thuần Việt” thì hầu như… cũng là gốc Hán đó thôi!

từ nguyên: ấn loát

In ấn, đã in sao lại còn ấn? Thực chất “in” là âm hiện đại của “ – âm Hán Việt: ấn”, cả hai chỉ là một chữ mà thôi. Kỹ thuật in đầu tiên chính là khắc gỗ, về hình thức, không khác gì với ấn – triện, như thế có thể xác định là khi kỹ thuật in truyền vào VN thì âm của nó đã là “in” chứ không còn là “ấn” nữa. Tiếng Việt có rất nhiều trường hợp như thế, chỉ một chữ viết nhưng âm có nhiều hơn một, do du nhập vào VN tại nhiều thời điểm khác nhau!

Còn ấn loát – 印刷, loát là cái bàn chải, động từ nghĩa là lau, xoa… Dùng chữ “ấn loát” vì ngày xưa khi in mộc bản, thạch bản, họ dùng cái bàn chải/cọ lớn để xoa, vỗ lên mặt giấy cho mực ăn đều! Vậy tại sao là “ấn loát” mà không phải là “in loát”!? Hình: lấy từ cuốn “Giới tử viên họa phổ”, công trình đồ sộ nhiều tập, xuất bản 1679, in mộc bản 5 màu, được xem là cẩm nang lý luận và thực hành mà tất cả họa gia (cổ điển) TQ phải học!

từ nguyên: khai căn, luỹ thừa, giai thừa

Một chút về các thuật ngữ toán học cơ bản. Ví dụ: “khai căn – 开根“, khai là mở, căn là gốc, 2×2=4, 2 được xem là gốc của 4, 4×4=16, 4 được xem là gốc của 16. Trong tiếng Anh, từ “square root” cũng chính là mang ý này, “root” lấy nguồn từ tiếng Latin “radix”, bản thân từ này là chuyển ngữ của “jadhr” trong tiếng Ả-rập, và có lý do để nghĩ rằng tất cả đều quay về từ “gốc – căn – 根” trong Hán ngữ cổ!

Rất có thể là những người Ả-rập đã học từ nguồn Trung Quốc hay Ấn Độ cổ đại! Một ví dụ tiếp nữa là từ: “luỹ thừa – 累乘“, luỹ là nối tiếp nhau, thừa là phép nhân, nên “luỹ thừa” là phép nhân một số với chính nó, nhân nhiều lần. Cũng tương tự như vậy, “giai thừa – 阶乘“, giai là bậc thềm, nên giai thừa chính là nhân một số với những số nhỏ hơn nó, giảm dần về 1 như hình giảm từng bậc của một bậc thang!

đức năng thắng số

Em là em ghét chữ nghĩa, chủ trương “ý tại ngôn ngoại, đắc ý vong ngôn”, nhưng có nhiều khi gặp phải các thể loại chữ nghĩa tào lao, rỗng tuếch nên cứ phải nói. “Đức năng thắng số – 德能胜数” hiểu đơn giản là: đức độ có thể thắng được số mệnh. Chữ “năng” ở đây hiểu là “có thể, có khả năng”. Người đọc câu này không hiểu, nên bịa ra khái niệm “đức năng”, rồi bịa tiếp luôn khái niệm “số năng”…

Chúng là những khái niệm… không có thực, vì cứ nghĩ rằng nó cũng tương tự như “điện năng”, “thế năng”, “động năng”, “công năng”… Cũng y hệt như vậy với câu: “Nhân định thắng thiên – 人定胜天“, không hề có cái gọi là “nhân định”. Chữ nghĩa mà cứ như thế này thì càng đi chỉ càng lầm lạc đến mức hoang đường mà thôi! Em mà bóc lỗi sai trên báo chí thì bóc từ năm này sang năm khác không hết!

chánh niệm

Để tưởng nhớ bậc thầy “chánh niệm”, chi Từ Hiếu, nhánh Liễu Quán, phái Lâm Tế, Thiền tông, Đại thừa… người vừa rời cõi tạm! Giờ ai cũng nhắc như vẹt “chánh niệm”, cái “chánh” áp cuối trong “Bát chánh đạo”. Chữ “niệm” này, chiết tự ra, trên là chữ “kim” – – hiện tại, dưới là chữ “tâm” – . Nên “niệm” có phải là cái tâm của bản thân, ngay tại đây, ngay lúc này không!? Nói thì dễ, nhưng làm siêu khó…

từ nguyên: ảo não

Từ nguyên: ảo não – 懊惱 – âm Hán Việt: áo não, chỉ tâm trạng buồn bực, rầu rĩ. Cuồn cuộn – 混混 – âm HV: cổn cổn, một âm khác là “cút” (không rõ du nhập vào Việt Nam tại thời điểm nào, có nghĩa là: lặn, biến đi). Lao đao, lảo đảo – 潦倒 – âm HV: lạo đảo. Rất nhiều lúc chợt nhận ra, hoá ra chữ Hán, tiếng Hoa thâm nhập vào ngôn ngữ Việt sâu đến như vậy, rất rất nhiều từ nghĩ chắc chắn là “thuần Việt”, nhưng rồi truy nguyên hoá ra vẫn là gốc Hán tự.

Chỉ đọc một bài Đăng cao – Đỗ Phủ là đã thấy mấy chữ rồi: Bất tận trường giang cổn cổn lai… Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi. Cảm giác tiếng Việt như cái thùng rỗng, chỉ được cái kêu to thôi, chứ nội dung trống hoác, cái gì cũng phải đi vay, mượn! Về mặt ngôn ngữ học, có nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp, những từ đó thâm nhập lúc nào, bằng những cách thức nào? Thường văn viết không thể có ảnh hưởng đến văn ngôn nhiều đến thế, nhất là ở nơi như VN!

từ nguyên: tự do

Từ nguyên: Tự do – 自由 – Freedom, Liberty. Giải thích theo Hán ngữ thì tức là: “vì nguyên do tự thân”, “tự dàn xếp ổn thoả với các lý do nội tại”, “tự mình điều phối được suy nghĩ, hành động của bản thân”, hay nôm na nghĩa là “tự do mình mà ra”. Từ mang hàm nghĩa con người có được “tự do” khi có thể sống ổn thoả với chính bản thân mình, ngữ nghĩa hướng nội kiểu rất “duy tâm” nhé!

Giải nghĩa như thế hình như chẳng có liên hệ gì với “freedom – liberty” của phương Tây, những khái niệm mang hàm ý: con người thoát ra khỏi ràng buộc của môi trường, của xã hội xung quanh. Một đằng chỉ liên hệ ngoại giới, ngoại thân, một đằng chỉ nội tình nội tại bên trong, nhưng bị cưỡng ép về cùng một nghĩa. Vậy lâu nay, các anh dùng từ “tự do” nhưng có thật sự hiểu nghĩa nó không?

từ nguyên: giả dụ, rút cuộc & sốt

Từ nguyên: giả dụ (假如, âm Hán Việt: giả như) & rút cuộc (如果, âm Hán Việt: như quả). Để ý hiện tượng một chữ “như” (âm Hán Việt) nhưng có đến hai cách đọc (dụ, rút), chứng tỏ từ ngữ du nhập vào VN tại nhiều thời điểm, thậm chí là từ nhiều nguồn (địa phương) khác nhau.

Sốt: (âm Hán Việt: thiêu) từ này nhiều người cho rằng bắt nguồn từ tiếng Pháp “chaud” có nghĩ là nóng, nhưng tôi lại cho rằng một từ rất cơ bản như thế không phải mượn từ Pháp ngữ muộn đến vậy! Dĩ nhiên, lần nữa cũng chỉ “ghi chú” như thế, không dài dòng giải thích!