giãn cách, 30

ách mà đọc 10 trang 1 phút! 😮 😮 Kể cả là trang A5, A6 đi nữa cũng không đọc nổi, và đọc như vậy không lưu lại được cái gì, cũng giống như nước chảy lá khoai mà thôi! “Nhà tiên tri Vanga và vũ trụ huyền bí”, “Đọc vị bất kỳ ai”, cái CỨT gì thế!? Văn hoá đọc CCC! Mịa, cái thời mà sách vở cũng toàn ba thứ hàng chợ, tạp nham, hạ cấp, vớ vẩn khoác vẻ trí thức, đạo mạo! Giọng điệu của một thằng “con buôn, bán giấy lộn” rẻ tiền chính hiệu! 😢😢

Nên đúng là phải sợ cái mạng xã hội, người ta tìm cách chứng minh sự hiện diện của mình, bằng những cách ngu nhất có thể! Mà thường là như thế, thùng rỗng kêu to, còn đúng đắn nó thường giản dị và im lặng! Ví dụ như đám “y tế mạng” giờ khôn lắm, không dám viết sai sự thật vì sợ bị nắm đầu. Có nhiều bài rất khôn, nói nhăng cuội, nhưng nội dung trống rỗng, đọc xong éo hiểu muốn nói gì, lòng vòng không có một tí thông tin nào!

Rồi những đám buôn bán ba cái tào lao là trùm viết những nội dung trống rỗng như vậy. Đọc không có thấy cái gì quá sai đến mức hiển nhiên, phi lý, nhưng cũng chẳng có thông tin gì xài được! Mà nói đến nội dung, ý tưởng, thì đám tào lao đó làm gì có, bố chúng nó cũng không tự nghĩ ra được, vì bại não gia truyền mà! Nên chúng nó chỉ cóp nhặt đâu đó một vài tin giật gân, một số nội dung kiểu “tào lao thiên địa” về xào xáo lại mà thôi!

Đôi lúc nghĩ vẩn vơ, cái con Covid này rất quái đản, một mặt, nó gây tác hại cho kinh tế rất nhiều, nhưng mặt khác, nó không gây hậu quả chết người, hậu quả XH thật thảm khốc như các đại dịch trăm năm trước! Thế nên người dân không sợ, không rút ra được bài học gì, không có gì thay đổi gì, cách suy nghĩ, cách sống! Dịch rồi sẽ qua đi, nhưng XH không tiến bộ được, tiến bộ có chăng là ở phương Tây, chứ như VN rồi cũng y như thế!

Rồi vẫn sẽ tiếp tục sống bằng tin giả, tin bá vơ thất thiệt, bằng những nội dung nhảm nhí, trống rỗng, buôn bán sợ hãi, và lừa gạt nhau, éo có một cái tinh thần nào cho nó sáng sủa! Cái cần thay đổi là tâm tính, phẩm chất con người thì quá khó, người ta cần cái gì đó dễ thôi, ăn liền được! Lên net hóng hớt để thoả mãn cái tôi phán xét, “tôi là một cái gì đó”, hùa theo những trào lưu, ah ta biết rồi, thằng A là như thế này, con B là như thế kia!

Nói gì thì nói, thời gian dịch bệnh là một quãng tĩnh lặng để nhận ra xã hội VN vốn đang bệnh, và thực ra là bệnh trầm kha, kinh niên từ nhiều chục năm nay! Về thể chất thì lên net tìm mua thuốc chống béo phì cho bản thân, rồi chống béo phì cho cả con chó nuôi trong nhà! Về tinh thần thì suốt ngày chỉ hóng hớt toàn mấy cái nhảm nhí, xàm xí! Con người nó yếu đuối từ thể chất cho tới tinh thần, là hậu quả hiển nhiên của cách sống vậy!

đọc sách

Ôi khát vọng xưa đất trời rộng bước,
Giận thói thường xích chặt tựa lao tù.
Đêm đông lạnh từ giấc nồng mộng ước,
Lại bừng sôi huyết thống của hoang vu!

hời đại sách vở, nhà nhà mua sách, người người đọc sách: oh, Tiếng gọi nơi hoang dã, em đọc rồi mà, hay lắm! Nhưng mới trích có 4 câu thì ngơ ngác hỏi ở đâu, mà 4 câu ngay đầu Chương 1: Into the primitive – Vào cõi nguyên thuỷ! Câu đầu tiên, chương đầu tiên, ôi má ơi, chưa nói đến việc đọc rồi có thấm được gì không! 😢 Nên mọi người thông cảm thái cho độ của mình, dù bất kỳ là ai, mở miệng nói chuyện sách vở thì câu đầu tiên mình văng ra là: Sách ccc!

sách cũ – 2

hững ngày đầu năm mới, với toàn những kỷ niệm cũ… “Cô bạn béo ú na ú nần” này đã quen từ nhiều năm trước, cứ y như rằng cửa hàng sách cũ nào cũng có 1 bé mèo nằm đó làm nhiệm vụ “canh gác” (lũ chuột)…

bark canoes and skin boats

ón qùa của một người bạn già Mỹ gởi tặng… cuốn sách hard – copy, hard – cover: The bark canoes and skin boats of North America – Ca-nô bọc vỏ cây và bọc da thú vùng Bắc Mỹ. Cuốn sách chứa đựng rất nhiều thông tin, bản vẽ về những chiếc ca-nô, kayak cổ xưa của thổ dân da đỏ bản địa. Những “nguyên mẫu” trong sách này chính là “tổ tiên” của những thiết kế ca-nô, kayak hiện đại. Thank you so much for the gift! 😀

kayak roll

t is on the list! To quote the upside down text 😬 (to be read when you’re already bottom-up): the same lines which represented the starting position now represent a fish-eye view of the fully capsized position. The phantom lines represent the upright position, or goal. To right himself, the kayaker:

1. Flicks his wrists to swing his knuckles toward his face, thus causing the outboard edge of the paddle to assme a slight planing angle (not show) with the water surface. The remaining steps constitute one continuous movement, to be done as quickly as possible.

2. With his hips and right hand serving as pivot points, he sweeps his forward paddle blade, and his torso, outward in a 90-degree planing arc on the water surface, as shown from position 1 to 3, while pulling down on his left hand and pushing up on his right, thus lifting himself to the surface.

3. Complete the roll by flicking his wrists to flatten the blade angle, then sharply increasing his opposing hand pressures, thus raising himself in a chinning attitude as the paddle blade sinks and is drawn inward. The roll is now completed.

armchair sailor

“So beware, dear reader… like a moth to the flame, the sea has an attraction that defies explanation and those of us who fall under her spell are forever changed!”

“Cẩn thận nhé bạn đọc… giống như con thiêu thân lao vào đám lửa, biển có một sức cuốn hút không thể lý giải, và những ai mắc vào lời nguyền của nó sẽ vĩnh viễn đổi thay, một lần và mãi mãi!”

hat’s enough of an armchair sailor I am, at least for the time being. As I’m writing these lines, the clock is approaching zero hour on the first day of the 2016 new year. On the Sài Gòn river (I’m living quite near by), all those big ships is blowing their horns, repeatedly and continuously, to celebrate the new year Eve turning point, really fascinating sounds to hear coming from afar.

A series of 20 posts, specially written toward Vietnamese audience, to introduce briefly about the very big and diverse world of seafarers. Go to sea are noble gentlemen, or just another average Joe – sixpack, on a $200 boat or a $200,000 yacht, running from a mid – life crisis or seeking for new adventures, all share the same passions, obsessions for the ultimately – free immense water space out there.

I met great difficulties in making these bilingual writings, as for the English nautical terms, and in a broader sense, the spirits of seafarers, are totally absent from the Vietnamese mind and language. We’re having a huge void in our souls in this particular area, which can only be filled by open our eyes, read and see how they did it. Well, all adventure starts from these aspiring books, just make sure to keep them dry on all the way of your journeys! 😀

hực ra tôi chỉ đang cố làm một thuỷ thủ “trên giấy”, ít nhất là trong thời gian hiện tại. Khi viết những dòng này, đồng hồ đang gõ nhịp những giây cuối cùng của năm cũ. Trên sông Sài Gòn (rất gần nơi tôi đang ở), những con tàu lớn bắt đầu kéo còi liên tục và lặp đi lặp lại, để chào mừng thời khắc giao thừa 2016, những âm thanh trầm ấm nghe thật hào hứng vọng đến từ xa.

Một loạt 20 bài viết chủ yếu hướng đến độc giả Việt, nhằm giới thiệu một phần nhỏ bé của cái thế giới mênh mông đa dạng những người đi biển. Họ có thể là những quý ông quý tộc, hay một người bình dân vô danh, ra khơi trên những con tàu trị giá $200 hoặc $200 000, chạy trốn một cuộc khủng hoảng tuổi trung niên, hay đang tìm kiếm những phiêu lưu mới. Tất cả đều chia sẻ chung một niềm đam mê đến ám ảnh với cái không gian tự do rộng lớn ngoài kia.

Tôi gặp nhiều khó khăn khi viết song ngữ thế này, những thuật ngữ hằng hải, hay rộng hơn là tinh thần của những người đi biển, hoàn toàn xa lạ và trống vắng trong ngôn ngữ, trong tâm trí người Việt. Giống như chúng ta đang có một khoảng trống cực lớn trong tâm hồn chỉ có thể bù đắp bằng cách mở rộng tầm mắt ra, đọc xem họ đã làm những điều ấy như thế nào! Tất cả những cuộc phiêu lưu đều bắt đầu từ những cuốn sách đầy cảm hứng này, hãy bảo đảm là chúng luôn khô ráo trong suốt các chuyến hải hành của mình! 😀

Một số tựa sách sailing lý thú:

a voyage for mad men

一路豪歌,向天涯,向天涯。。。

‘m reading this extremely fascinating book, A Voyage for Madmen – Peter Nichols: In 1968, nine sailors set off on the most daring race ever held: to single – handedly circumnavigate the globe nonstop. It was a feat that had never been accomplished… Ten months later, only one of the nine men would cross the finish line and earn fame, wealth, and glory. For the others, the rewards were… failure, madness, and death.

Robin Knox – Johnston was the only man to complete and win the competition, on his 32′ Suhaili Bermudan ketch, in a little more than 10 months. But that’s not all the stories still! Another competitor, Bernard Moitessier, could have won, but near the finish, he decided to break out the race attempting to… circumnavigate the globe a second time 😀! His adventures are recounted in another (my next) book: The long way.

It should be noticed that sailing in the 60s is completely different from that of nowadays. No GPS yet, sailors still had to use sextant and chronometer, no auto – pilot system but simple self – steering wind vane, no saltwater desalination, boats need to have large container for fresh water, no satellite phone, the only electronics is the complex, unreliable long range radio, radar and sonar are not yet available for small sailing vessels.

xét lại

ột là đừng đọc, hai là đọc thì phải biết suy nghĩ, nhận định. Tôi lấy ví dụ như tự truyện Papillon người tù khổ sai (Henri Charrière), một thời gây biết bao ấn tượng. Nhưng các phân tích hiện đại đã xác minh có không đến 10% những sự kiện xảy ra trong 2 tập sách ấy là sự thật! Phần lớn những câu chuyện là của các tù nhân khác được tác giả vơ về mình!

Như thế thì tác phẩm nên được xem như là “tiểu thuyết” hơn là “hồi ký, tự truyện”, và mức độ tin cậy của các sự kiện cũng chỉ nên xem như là sản phẩm tưởng tượng. Ví dụ thứ hai là các tác phẩm của Nguyễn Tường Bách viết về tôn giáo, triết học… Với tư cách là một nhà vật lý thiên văn thì ông đã là một học giả nổi tiếng được cả thế giới ghi nhận.

Nhưng có điều gì không ổn khi các so sánh triết học giữa phương Tây và phương Đông của ông đều rập khuôn theo kiểu: con voi có cái đầu, con chuột có cái đầu, con voi có bốn chân, con chuột cũng có bốn chân, cả hai đều có đuôi, thế nên… con voi là con chuột! Nhưng so sánh, liên tưởng kiểu như thế rất là mộng mơ, nếu không muốn nói là lầm lạc.

Chừng nào mà cái sự đọc còn chưa vượt qua được cái ngưỡng tư duy logic cơ bản ấy, chừng nào mà còn chưa phân biệt được tác phẩm hay với loại làng nhàng, thì tất cả những lập luận tiếp theo đều vô nghĩa. Chừng nào còn đem những lí luận kiểu “bán hàng đa cấp” đi gạt người khác, thì những kêu gào chính trị, chính quyền, dân chủ… xem ra rất hài hước.

Tôi không có ý định khuyến khích hay ngăn cản ai trong việc đọc khi viết loạt bài này. Thực ra, từ rất lâu tôi không còn đọc nhiều nữa rồi. Cuộc sống là của các bạn, bạn sống cho mình chứ không phải người khác. Cũng như thế, bạn đọc cho mình chứ không phải người khác! Cái nồi lẩu VN đã đủ hổ lốn từ xa xưa rồi, có thêm các loại xàm xàm thì nó cũng thế thôi!

sách cũ

老鼠看書
咬文嚼字

hi nhỏ, trong nhà đã có vài chục ngàn đầu sách. Lớn lên chút, mỗi khi không biết đi đâu, thì cứ đạp xe thẳng ra khu sách cũ, đường Trần Huy Liệu và một số điểm quanh chợ Bà Chiểu. Sách cũ thì hên xui, chủ các tiệm đa phần không hiểu biết lắm về sách, nhưng họ biết cuốn nào người ta cần, cuốn nào nhiều người đọc, cứ như thế mà định giá tiền!

Thực ra mà nói, lúc còn tuổi teen, tôi đọc nhiều, nếu không muốn nói là rất nhiều. Nhưng cũng chính vì đọc nhiều như thế nên tôi… “ghét đọc sách”. Người Việt có thói xấu là cái gì cũng muốn tỏ ra ta đây “hiểu biết”, nên cứ thế mà lôi một mớ kiến thức chết ra để “tụng niệm”, xem việc “biết nhiều” là hơn người. Như thế thì cũng chẳng khác gì con mọt sách!

Tôi nói con mọt sách là theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen của nó! Đọc, học với động cơ biết thêm một chút để loè người khác, không hấp thụ được tinh thần gốc của sách vở, thì chẳng khác nào con mọt, cả đời chỉ đăm đăm đục khoét, huỹ hoại bằng hết những tinh thần mà sách muốn truyền tải. Biết nhiều thì đã làm sao, mà không biết thì đã làm sao!?

Cái việc đọc sách, với bản tính tiểu nông thủ cựu, thì chỉ mang tật vào thân. Sách vở nó ám vào người, không học hỏi được điều gì hay ho, chỉ lảm nhảm lải nhải những thứ kiến thức chết chả đâu vào đâu. Nói ngắn gọn thì, tôi không tin những người, ví dụ như: nói thích các sách phiêu lưu mạo hiểm, mà thực sự là… không biết bơi, đơn giản như thế!

Trên nhiều mặt, cách làm của người Việt ngược với thế giới. Người trẻ phải được dạy cách hành động trước, gieo nên tinh thần rộng rãi, khai phá và thực tế, để đến khi có tuổi một chút, đọc thêm một số sách vở để cô đọng, tóm tắt lại những giá trị, thành quả đã xây dựng được! Cũng giống như Âu Dương Phong luyện Cửu âm chân kinh ngược mà thôi!

văn(g) học

ột số tựa sách tôi thích đọc khi nhỏ… Điều đáng lưu ý là bên cạnh những tác phẩm nổi tiếng của thế giới, cả Đông và Tây được dịch sang tiếng Việt, tình hình “văn học” những năm bao cấp và sau đó cũng đầy dẫy những loại tiểu thuyết ba xu rẻ tiền, ái tình sướt mướt, chẳng khác loại “ngôn tình” bây giờ là mấy… tất cả tạo nên một đống vàng thau lẫn lộn!

Một số người tự nhận là “đọc nhiều hiểu rộng”, một cách “hồn nhiên mặc định”, liệt kê tất cả loại rẻ tiền ấy với văn học chân chính, xem chúng như nhau, thật là… đáng ngạc nhiên chưa!? Điều tôi không hiểu là họ có thật sự đọc và hiểu chúng hay không, cái gì đã tạo nên tình trạng “thực bất tri kỳ vị” một cách hàm hồ, sơ đẳng và mông muội như thế!?

Điều này cũng tương tự như âm nhạc miền Nam những năm 60, thời quân đội Mỹ đồn trú tại Việt Nam, bên cạnh những tinh hoa nhạc Việt, là cơ man không biết bao nhiêu là loại nhạc hộp đêm, nhà thổ, đĩ điếm, lưu manh cặn bã khác. Và cũng không có gì ngạc nhiên nếu giờ đây, một số người nhận định về âm nhạc Việt, lại xem chúng không có gì khác nhau cả!

Về nguyên nhân, một phần là do nhà cầm quyền, dù cho là ở dưới thể chế chính trị nào cũng thế, cũng nhận ra một điều là, xã hội luôn bao gồm nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần cần có những loại “thuốc” khác nhau. Một phần là do người làm xuất bản văn hoá vô tình hay cố ý (mà tôi nghĩ cố tình là phần chính) đánh đồng chúng như nhau.

Không khó để nhìn ra những dụng ý của giới show – biz, giới xuất bản, vì lợi nhuận, hay vì các mục đích chính trị xã hội khác, cố tình lập lờ, đánh tráo khái niệm, làm hỗn loạn tình hình đối với đa số dân đen thiếu hiểu biết (sẽ đề cập chi tiết trong một post khác). Ngày xưa hay bây giờ thì cũng như thế, CS hay QG thì cũng như thế, chưa có gì thay đổi cả!

Văn hoá, văn học Việt Nam chưa bao giờ thoát ra được tình trạng một nồi lẩu thập cẩm, vàng thau lẫn lộn, xưa đã thế, nay càng thế! Nên tất cả những gì chúng ta “biết”, hãy đặt một chữ: xét lại, xem xét kỹ càng thì mới nhận chân được đâu là giá trị đích thực. Nguyên nhân gốc không nằm ở lịch sử, chính quyền, chính trị… nó nằm trong bản chất, cá tính người Việt!

Và ngay trong cách tiếp cận văn học đích thực, cũng có rất nhiều vấn đề không thoả đáng, như đã gián tiếp đề cập đến trong một post trước, nhưng đó là một chủ đề khác sẽ được trình bày kỹ sau. Một thời không internet, không điện thoại, thậm chí có lúc còn không có điện, cần mẫn bút lông với mực Tàu ngồi tự học chữ Hán và chép thơ Đường.

Cái sự học trong chỗ khó khăn thực ra mới hiệu quả, như việc đếm nét và tra một chữ Hán với từ điển giấy rất mất thời gian, không tiện lợi như tra cứu máy tính như bây giờ. Công nghệ chỉ làm người ta lười biếng đi! Một thời nghiền ngẫm những tựa sách này, nhất là Thơ Đường (2 tập) và Hán Việt từ điển, đăng hình chúng ở đây như cách gợi lại kỷ niệm.

sếu đầu mùa

Anh là bồ câu trắng,
Bay trên tận trời xanh.
Còn em bồ câu nhỏ,
Nhẹ nhàng bay bên anh.

hứ nhất là giai đoạn tôi lớn lên không có nhiều thứ để đọc, dù không hảo văn học Sô – viết lắm (rập khuôn, giáo điều), nhưng rất thích nhiều khía cạnh của văn học Nga (rộng lớn mà chi tiết), hai thứ ấy không phải là một! Thứ hai là tôi ghét đọc, cho rằng nên đọc càng ít càng tốt, thậm chí nghĩ rằng đọc sách chỉ thêm hại đối với người không biết suy nghĩ thấu đáo.

Cũng giống như được ăn những món sơn hào hải vị mà bị sình bụng, không thể tiêu hoá được, không hấp thu được gì bổ dưỡng cả! Thứ ba là tôi ghét đọc dài, mất thời gian vô ích, nhưng những tiểu thuyết mà tôi thích nhất lại… siêu dài, ví dụ như: Bác sĩ Zhivago, hay Pie đệ nhất, thích đến mức đọc đi đọc lại hàng ngàn trang sách ấy những 5, 7 lần!

Ai đã từng cầm trên tay những tập sách này, sẽ nhận thấy sức nặng của… giấy và của kỷ niệm! Mà này, tôi nói thẳng nhé, nếu đọc sách mà chẳng tích luỹ thêm được tí giá trị gì vào người, không bồi bổ được chút gì về phương châm, lý tưởng sống, không đào thải ra khỏi đầu óc những thứ suy nghĩ vụn vặn, tạp nham, rẻ tiền… thì đọc để làm gì vậy!?

Hay chỉ để làm màu cho thiên hạ thấy!? Thế có phải là phí thời gian, tiền bạc, công sức không, mà cũng chẳng loè được ai đâu! Đấy, như tôi đã nói đấy, thực ra sách vở chả có tốt đẹp gì cả, nó đẩy biết bao con người vào vòng nhảm nhí, vớ vẩn, vào chốn hoang tưởng, huyễn hoặc do tự chính mình tạo ra, vô phương cứu chữa! Bỏ đi cho nó lành!

Nên mới bảo đọc sách không hề dễ tí nào, phải có nội lực thì mới tiếp thu được, không thì chỉ tẩu hoả nhập ma mà thôi. Vì từ tư tưởng, cảm hứng, cho đến hành động vẫn còn xa, xa lắm, nên nói đọc mà không phải là đọc tức là như thế! Còn những loại đến không phân biệt được sách hay, sách dở, sách lăng nhăng, làm xàm, thì không cần phải bàn tới!

semper idem

Nằm đây, tưởng chuyện ngàn sau,
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan…

ột tựa đề quen quen thoáng hiện trên mặt báo, nghĩ mãi mà không nhớ ra, đành phải nhờ đến Mr. Google… Chỉ một phút, cả một trời ký ức hiện về, một tựa sách phiêu lưu viễn tưởng của Jules Verne từng thích thú thời còn bé tí: L’épave du Cynthia, tựa tiếng Anh: The waif of the Cynthia, tựa tiếng Việt: Chú bé thoát nạn đắm tàu. Thế là bỏ ra một nửa buổi tối ngồi đọc lại, từng câu chữ, từng đoạn văn lũ lượt kéo về trong trí nhớ, gần 30 năm mà tưởng đâu như mới ngày hôm qua.

Không khó cho một trí óc trưởng thành để phát hiện ra những chi tiết không logic, thiếu hợp lý và mạch lạc trong bố cục toàn bộ câu chuyện, và sau một hồi đọc lại, nhận ra truyện không hấp dẫn như những tác phẩm khác như: Đi tìm thuyền trưởng Grant, Bí mật đảo Lincoln, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Từ trái đất đến mặt trăng, Cuộc du hành vào lòng đất etc… của cùng một tác giả. Và từ lúc nhỏ, dù rất thích các tác phẩm của Jules Verne nhưng không thực sự là đến độ mê mệt.

Truyện tôi thích nhất của Jules Vernes có lẽ là Bí mật đảo Lincoln. Từ góc độ khoa học, truyện rất hay vì nó dạy cho học sinh cấp 2, 3 những vấn đề thực tế: làm sao để chế tạo xà phòng từ chất béo (như dầu dừa), làm sao kiểm soát hàm lượng carbon khi luyện quặng sắt thành thép, những bài toán lượng giác dùng trong đo đạc, định vị, etc… (tất cả những điều nêu trên đều có trong chương trình PTTH VN), nhưng dưới các hình thức sống động thay vì chỉ lảm nhảm những kiến thức chết như trong SGK.

Những câu chuyện của ông là sự xen lẫn của hai yếu tố: phiêu lưu và viễn tưởng. Nhưng thực sự tôi không thích viễn tưởng cho lắm, một con tàu phải có những cột buồm có thể trèo lên được, biển và mồ hôi phải có vị mặn, chèo thuyền trên những quãng đường dài thực sự là rất vất vả, gian nan… Chỉ thích những phiêu lưu có thật, cảm nhận hơi thở chân thật của cuộc sống, của sóng gió tự nhiên… Nó phải có gì giống như Moby Dick, một sự lãng mạn khắc kỷ mang màu sắc Puritan – Thanh giáo.

Semper Idem: câu châm ngôn (motto) tiếng Latin của nhân vật chính Erik, của gia đình Durrieu trong truyện, với nghĩa: trước sau như một.

Vẫn là một sự đáng tiếc thường thấy khi các thuật ngữ hằng hải, địa lý trong nguyên bản được dịch không chính xác hay không đầy đủ. Hơn nữa, bản dịch tiếng Việt (hầu như chắc chắn là được dịch lần 2 qua một bản tiếng Nga) đã lược bỏ nhiều tình tiết, làm giảm tính hấp dẫn của nguyên tác.

Lẽ dễ hiểu vì lối hành văn với rất nhiều chi tiết, nhiều cách diễn đạt tinh tế, nhiều logic phức tạp đan xen vào nhau thường nằm ngoài khả năng tiêu hoá cũng như khẩu vị của đa số độc giả Việt, những người thường chỉ muốn một cốt truyện ngắn gọn đơn giản có thể lĩnh hội chóng vánh!

boating books

ome very worth reading books on boating. Some are very well – known novels that I’ve read already (a few of them in multiple times), some are new documents that I’m reading or plan to. According to my categorization, they fall into the following 3 groups: Fiction, purely imaginary, although not real, they’re highly inspirational, Non – fiction, real accounts of real peoples and their adventures, Technical, the fundamental details that help building those archivements. My 3 simplified, consecutive steps of a self – actualization process… All these books are available in public domain, I collected and compiled into PDF format, click on each titles to download.

FICTION

NON – FICTION

TECHNICAL

essai sur la construction navale des peuples extra – européens

The first 2 images: a rowing boat and a sail, fishing boat of Touranne, Cochinchine, which is today Đà Nẵng, Việt Nam.

ome time ago, I posted several entries about The Junk Blue Book. What’s a small world of the internet that lately, I had my honor to be contacted by Capt. Robert Whitehurst, the collector, editor who made the original, rare book written by Capt. Marion C. Dalby available for us as a free ebook today. Mr. Whitehurst is kind enough to correct a mistake in my postings, and sent me various documents that he’ve spent times and efforts to collect and digitalize them. I would say a thousand thanks to him, an old captain who spent his younger years on the Mekong delta’s rivers, who loves Vietnamese boats, who has closed – relations with Vietnam in many ways.

Among the documents Capt. Whitehurst sent me was this invaluable copy of Essai sur la construction navale des peuples extra – Européens, (literally translated into English as: Essay on naval construction of peoples outside of Europe), a tremendously amazing work by French’s admiral François – Edmond Pâris, published in Paris in 1841. The work consists of two volumes, 160 pages in textual volume I, and 132 illustrations in graphical volume II, introducing boats and boat constructions from various parts of the world. I’ve just started my reading, but can’t suppress my eagerness to made some excerpts here to show the extremely beautiful illustrations below.

voiliers d’indochine – 3

ome texts quoted from the book, the English translation can only partially convey this old, romantic French writing style: if there is one region in the world where the picturesque ancient sailboat has sheltered and prevailed in its multiple facets, it is on the coasts of Indochina. A vast array of colours, the old scent of wood from the past… Nautical Indochina shows contrast especially in its fishing boats: each province has its own type of boat, all shapes of hulls, all the varieties of sails do their utmost to give us an image constantly renewed of maritime culture too regrettably ignored by the French and the Indochinese themselves. Very few are those who attempted to preserve their images, to describe their shapes, to speak of their poetry!

voiliers d’indochine – 2

r. Piétri was a biologist, and a biologist in the old days was trained in pen, ink anatomical drawing. His skill came into great uses for boats illustration. His writing style is that of a romantic, nostalgic, old – school sailor, he was describing something that would soon pass away in Indochina, as it already had in the Western world: large fleet of sailboats in their daily activities: fishing, cargo transporting… He provided various information into a beautiful world that has now gone, even today we still can find wood – workers who possess the knowledge of building traditional hulls in VN (the number of them can be counted with fingers on your hands), some in – depth details like blocks, tackles, shackles, lines, sails, rigging… can only be found in his book.

voiliers d’indochine – 1

onsieur Piétri was Director of Fisheries of Colonial French Indochina (Vietnamese: Giám đốc nha ngư nghiệp Đông Dương), his career may had taken him to many watery parts of Vietnam, but only his passion for boat and sailing that resulted in Voiliers d’Indochine (Sailboats of Indochina), a book he’d spent many years working on, in the 30s the previous century, first published in Saigon, 1943, two decades ahead of The Junk Blue Book. I was reading it through an English translation of The Vietnam wooden boat Foundation, and its foreword: dedicate to Mr. J B Pietri in recognition of his passion to accurately record the creativity and ingenuity of the Vietnamese people in the building of unique wooden boats…

the junk blue book – 3

he Junk Blue Book – Marion C. Dalby, by its mission definition, is to provide knowledge to help identifying various Vietnamese indigenous boats, a military technical manual to be precise, not a book about boat design and construction. However it’s among the very rare well – written and fully – illustrated documents available today for us to know how, just half a century ago, our ancestors were operating sailing crafts. As in most of the world the working Vietnamese seamen had little interest in chronicling their environment, or perhaps they had no idea that such everyday life would be of interest to anyone… VN people is, as always, extremely easy to forget the past, and we’re today placed at a fait accompli of a now vanished culture!



Around mid 20th century, the Age of Sail has been long over in the Western world, while in Indochina, sailing crafts were widely used still, and Westerners came to VN seeing them from a “recreational sport” point of view. Many of whom were surprised by the diversity in boat designs and constructions, some were astonished by unique features that only VN boats have, some admired the beauty and performance characteristics of certain VN sailing crafts. One such person is J.B. Piétri and his book Voiliers d’Indochine (Sailboats of Indochina). A marvellous book, no photographs, but all beautiful hand – drawn sketches, not only do they clearly show technical details, but also illustrate the other artistic side of the subject. To be presented in my up – coming posts!



the junk blue book – 2

ore pictures from The Junk Blue Book – Marion C. Dalby, more about cargo boats (the previous post presents mainly fishing boats). First image in the series: a typical ghe bầu, the main “work – horse” of Southern people in the old days, ancestor of cargo boats usually seen in the Mekong delta nowadays (though the hull shape has changed significantly with introduction of combustion engine, I suppose). At the time of The Junk Blue Book, boats of this type were usually found around 100 ton in displacement, though in previous centuries, they were often constructed bigger at a few hundreds ton to be used for both trading and naval purposes. Ghe bầu composed the ‘spiral – cord’ of Vietnamese landlords’ navies in feudal time.



According to records of Western missionaries, adventurers, soldier – of – fortunes… who worked in Vietnam in the late 18th century, the Nguyễn and Tây Sơn lords’ navies both had a few 70 – guns mans – of – war, built and equipped to Western designs, but the majority is of ghe bầu type, with 20 ~ 60 guns mounted, capable of transporting upto 700 troops. Though these facts are likely, they’re still vague descriptions, there’s a lack of details and evidences. 50 – guns warship is a very strong frigate indeed, could be classified as 4th – rate ship – of – the – line, par the Royal Navy rating system, and should have the displacement at least at 1,000 (metric) tons, a question mark whether Vietnamese traditional boat building at the time was having such a capability.



the junk blue book – 1

ore pictures from The Junk Blue Book – Marion C. Dalby. Some history background: in the early 60s, Northern Vietnam government (DRV) started an infiltration campaign to support the Southern communists by way of sea. The task force, designated: Group 579, deployed numerous boats, built and camouflaged as Southern fishing or cargo boats, smuggled weapons and war materials onto various spots along southern coast below the 17th parallel. The advantages of secret lines of boats are obvious: only need a small number of well – trained sailors, much larger cargo capacity, harder to trace and intercept (compared to e.g: transporting by trucks, which required lots of labours for road building and protecting, which is hard to keep secret).



The US Navy took countermeasures, first by carrying out a study on VN indigenous boats: designs and constructions, outer appearances, sail plans, navigational equipments, operational zones and routes, methods and habits of fishing… in an effort to help identifying which are real Southern VN boats, and which are camouflaged Northern ones. The result is The Junk Blue Book, the study was taken place at a time when the majority of VN boats (over ~ 70%) was still operating primarily on sails. Ironical facts of history, that a work conducted initially against Vietnamese people, has now turned into a record of knowledge on Vietnamese sailing tradition, a tradition that has been long forgotten by its owner, very few people still care or even aware of it nowadays!