bạc tần hoài

huyền mơ trong khúc Nam Ai, đàn khuya vẳng trên sông dài, ai luyến, ai tiếc khúc ca Tần Hoài… Bao kiếp giang hồ, ly biệt thường tình, có ai nhớ ai nơi Hương Bình (Đêm tàn bến Ngự – Dương Thiệu Tước). “Khúc ca Tần Hoài” nhắc đến trong bài hát là khúc ca nào?

Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng Hậu đình hoa.

Khói mờ sóng lạnh bãi trăng trong,
Đêm đậu bến Tần quán rượu đông.
Thương nữ không hay sầu nước mất,
Hậu đình hoa hát vọng sang sông.

Ấy chính là gợi nhớ lại bài thơ “Bạc Tần Hoài” – Đỗ Mục đã có nhắc đến về trước… 🙂 Giờ đây, phim ảnh Trung Quốc bắt đầu đưa Tần Hoài trở lại, xem 4, 5 phim đều thấy có cảnh này, còn ở Việt Nam người ta đã quên mất từ lâu, chỉ có họ Dương kia là còn nhớ!

杜牧
泊秦淮

烟籠寒水月籠沙
夜泊秦淮近酒家
商女不知亡國恨
隔江猶唱後庭花

máy học

ai mươi năm trước, khoa CNTT, trường KHTN đã có người nghiên cứu tương tự như thế này, dùng các kỹ thuật xử lý ảnh và máy học để nhận dạng trận địa phòng không. Nga từ lâu đã bỏ cách bố trí trận địa phòng không theo những khuôn mẫu hình học cố định như thế này, vì dễ bị nhận dạng qua không ảnh, nhưng Trung Quốc vẫn còn đang xài.

tặng thiếu niên

ặng thiếu niên – Ôn Đình Quân – Giang hải tương phùng khách hận đa, Thu phong diệp há Động Đình ba. Tửu hàm dạ biệt Hoài Âm thị, Nguyệt chiếu cao lâu nhất khúc ca!

溫庭筠
贈少年

江海相逢客恨多
秋風葉下洞庭波
酒酣夜別淮陰市
月照高樓一曲歌

thủ không thuyền

hứ lai giang khẩu thủ không thuyền, Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn, Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự, Mộng đề trang lệ hồng lan can… – Thuyền không đậu bến mặc ai, Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng. Đêm khuya chợt nhớ tuần tuổi trẻ, Lệ trong mơ, hoen vẻ phấn son…

白居易
琵琶行

去來江口守空船
繞船明月江水寒
夜深忽夢少年事
夢啼妝淚紅闌干

bạc thuyền qua châu

hai bút đầu xuân – Bạc thuyền Qua châu – Vương An Thạch. Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc… tốt nhất cứ đọc nguyên văn chữ Hán, tiếng Việt chỉ mang tính tham khảo, dịch ra rồi, chẳng còn mùi vị gì!

Kinh Khẩu Qua Châu nhất thuỷ gian,
Chung San chỉ cách sổ trùng san.
Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn,
Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn?

Qua Châu, Kinh Khẩu một sông,
Chung Nam cách núi mấy trùng trơ vơ.
Giang Nam xuân lại xanh bờ,
Đường về nào biết bao giờ trăng soi?

王安石
泊船瓜洲

京口瓜洲一水間
鍾山只隔數重山
春風又綠江南岸
明月何時照我還

early bird

áng hôm đó dậy thật sớm, lang thang ở vùng vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan… thật là phong cảnh hữu tình, trời mấy hôm đó cũng thật tuyệt! Phải đi sâu vào phía trong thì mới hiểu tại sao đầm Ô Loan từ xưa đã được gọi là danh thắng, chứ đứng ngoài QL1 sẽ không thấy được gì! Loay hoay cả thời gian dài, không quyết định được nên làm con chim dậy sớm (early bird 🦜) hay là nên làm con sâu dậy muộn (sleeping worm 🐛)… 🙂

nhạc kinh

ễ Kinh viết rằng: hàng năm, chư hầu phải triều cống thiên tử, và mỗi 5 năm một lần, thiên tử phải đi tuần thú thiên hạ, chỉ với một mục đích duy nhất là lắng nghe dân ca, dân nhạc các vùng miền, để đoán biết lòng dân, phong vận, văn hoá như thế nào… tiếc rằng trong 6 bộ kinh, Nhạc Kinh đã thất truyền, chỉ còn Ngũ Kinh nên chỉ còn biết như thế!

Lại tương truyền rằng Khổng Tử chu du thiên hạ, qua đến đất Giao Châu, thấy nhà nhà, người người mở loa kẹo kéo, hú hét như bầy khỉ vượn, quá kinh hãi, vất cả đàn, kiếm mà chạy một mạch về Khúc Phụ, than ngắn thở dài mà nói rằng: đạo ta tàn rồi! Từ đó về sau đóng cửa không ra ngoài, chỉ chuyên chú san định kinh sách cho đến khi qua đời! 😢

đối ngoại và đối nội

ập tranh đả kích, châm biếm, một số xem cũng hay hay, vui vui, nhưng một số đúng là ấu trĩ. Khi TQ nói “hiện đại hoá” là họ thực sự sẽ làm như thế, có đầy đủ gốc rễ nền tảng văn hoá để làm được… 😢

cẩu thả

ừ nguyên, cẩu thả – 狗且, trong tiếng Việt thường hiểu “cầu thả” là: không cẩn thận, lộn xộn, tắc trách, nhưng nghĩa gốc của nó lại hoàn toàn khác, và rất thô tục nên từ điển chính thống cũng không ghi nhận. “Cẩu” là chó thì đã dễ hiểu, còn “thả”, mười mấy năm trước, An Chi đã giải thích, chính là chữ tượng hình, chỉ “nam tính sinh thực khí”, cứ nhìn hình dạng của chữ là rõ. Như thế, “cẩu thả” không phải là làm việc lộn xộn, mà chính là chỉ hành vi nam-nữ tính-giao bất-chính, nghĩa hiện dùng chỉ là phái-sinh về sau.

George Ivanovich Gurdjieff

urdjieff không phải là nhạc sĩ, ông chỉ tìm cách miêu tả lại những gì đã nghe thấy được tại Caucasian, ở quê hương ông, Armenia, lúc đó là một phần của đế chế Nga cũ, với sự giúp đỡ của một học trò là nhạc sĩ, Thomas De Hartmann. Mấy chục tác phẩm nhỏ, dưới dạng những “chants” – tụng ca, những đoạn ca nhỏ mang tính chất cầu nguyện, ca vũ tôn giáo, những tiểu khúc cho piano rất kỳ lạ, huyền bí và đầy cảm hứng!

Caucasia

ừ Caucasia, lan toả đi cái gọi là Aryan, và trở thành Hy Lạp, La Mã, trở thành Byzantine, Iran, Iraq, Ấn Độ, etc… Một số thành phần văn hoá Châu Âu, một cách kín đáo, vì không muốn liên quan đến vấn đề quan điểm chủng tộc, vẫn hoài niệm và tự hào một cách mơ hồ về Scythia, Sarmatia, Parthia, India… những khởi nguồn xa xưa, trước cả Hy-La!

Album guitar “Nhạc dể dành cho người khó” – “Simple Music For Difficult People” (Bert Lams & Fabio Mittino), gồm những tác phẩm mang màu sắc tôn giáo của Gurdjieff & De Hartmann… Hơn mười lăm năm trước, nghe những bản này chuyển soạn cho piano, nhưng âm thanh của những nhạc cụ dây – gảy nghe có vẻ là thích hợp và nguyên bản hơn…

lỳ như trâu

ói về “gần gũi, thân mật với nước” thì trước tiên phải kể đến bơi, lặn, thứ nữa mới đến các loại ván, xuồng, tàu bè… Nhà xây từ móng, chơi xuồng bè mà bơi lội không giỏi thì đích thị là chuyện tào lao! Có cái kỹ năng backup – dự phòng đó mới có tự tin làm chuyện khác!

Thể hình người VN trời cho không tốt, nên “thể thao thành tích” còn thua kém! Nhưng các môn đòi hỏi lì lợm, bền bỉ thì người Việt chả kém ai! Từ anh lính ôm bản đồ chạy 3 ngày liên tục xuyên rừng trong KC chống Pháp, đến anh đặc công bơi 3 ngày gắn bom vào tàu Mỹ!

Khi nhỏ chính mắt thấy nhiều người bơi hàng chục km trong mưa bão, bản thân không bằng, nhưng cỡ 10km là điều từng làm! Đầu năm nói chuyện âm nhạc, thể thao, người Việt rất có “thiên phú” về khoản “lỳ hơn trâu”, cũng chính là ưu điểm vậy!! 🐃🐃 🐂🐂 🙂🙂

青年与青春

青春流淌你身中,希望闪烁你眼中。那怕苦难和悲痛,那怕困难多重重。青春流淌你身中,希望闪烁你眼中。青年恋爱着理想,青年永远向前走。

看春风轻轻吹过大地,多少花在枝头齐开放。朋友你难道还不快乐听小鸟争着唱春之歌。

姑娘们来吧舞蹈,小伙子来吧赛跑。蹦蹦跳我们跑闹,哈哈笑我们喊叫。

春天带来了欢笑与歌唱,带来了理想与希望,虽然有时烦恼渺茫。让我们来歌唱春天,让我们欢笑与歌唱,把握着现实与理想,冲破烦恼迎接万丈光芒。

xuân dạ lạc thành văn địch

huỳ gia ngọc địch ám phi thanh, Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành. Thử dạ khúc trung văn chiết liễu, Hà nhân bất khởi cố viên tình? – Sáo ngọc nhà ai tiếng mơ màng, Theo gió xuân vào khắp Lạc Dương. Văng vẳng đêm nay bài chiết liễu, Ai người không chạnh nỗi tha hương?

李白
春夜洛城聞笛

誰家玉笛暗飛聲
散入春風滿洛城
此夜曲中聞折柳
何人不起故園情

liêm chính

ăn hoá TQ và VN, giống và khác như thế nào? Giống thì nhiều, khác vài điểm quan trọng. Người TQ nói câu nào, chữ nào đều có ngữ nghĩa đầy đủ, và cố gắng làm trọn ngữ nghĩa ấy! Người VN xem câu chữ như trò chơi đánh đố, chơi chữ, hơn thua kiểu lươn lẹo, không thật hiểu thấu đáo nội hàm! Thấy “đối phương” nói câu gì cũng lập tức lên Google, học lóm đâu đó 1 vài câu chữ để có thể khả dĩ lấp liếm, bắt bẻ, bài xích được. Vốn dĩ câu từ lý luận nhị nguyên, thảy đều có 2 mặt, ví như: “người không vì mình thì trời tru đất diệt”, nhưng cũng có câu: “người chỉ vì mình thì cũng trời tru đất diệt”.

Luôn có sự đối lập như thế, khác biệt chỉ ở chỗ nói có thực nghĩa như vậy hay không mà thôi! Nên càng nói năng nhiều chữ, càng đao to búa lớn, cách mạng công nghiệp, 4.0, đi tắt đón đầu các kiểu, là càng xa rời sự thật! Từ bao giờ người ta quên đi mất những điều rất đơn giản nhỉ, ví dụ như: “liêm chính” !!! Nhìn nhận một con người cũng vậy thôi. Tôi quan sát thấy ai nghe 1 câu đơn giản mà không hiểu hay cố tình không muốn hiểu, đến lần thứ 2 là người đó sẽ “lên đường”! Xưa giờ mấy chục năm vẫn y thế, mặc dù biết rằng điều đó làm mình “khó sống”. Từng câu, từng chữ, thảy phải đều có ý nghĩa!

khí thôn ngưu

ản mạn về bài thơ Thuật hoài, Trần triều tướng quân, Phạm công Ngũ Lão, nguyên văn: Hoành sáo giang san cáp kỷ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu, Nam nhi vị liễu công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu… Sách vở cũ (như Trần Trọng Kim) đều lý giải “ngưu” là sao Ngưu, sao Đẩu, nên giải nghĩa câu này: chí khí ba quân mạnh mẽ như hổ báo, muốn nuốt cả sao trên trời. Khi nhỏ đọc vậy thì chỉ hiểu vậy, không thắc mắc!

Nhưng giới văn học sử hiện đại khoa học hơn, lý giải “khí thôn ngưu” đơn giản là “nuốt trôi con trâu”, ngữ nghĩa hợp lý nếu liên hệ với 2 chữ “hổ báo” phía trước, không cần phải lãng mạn hoá “trên trời”. Vậy câu này hiểu đúng là: ba quân chí khí mạnh mẽ như hổ báo muốn nuốt trôi trâu! (“ngưu” là bò, “thủy ngưu” mới là trâu, nhưng dùng đã quen, không sửa). Hy vọng năm mới, vận sự đổi thay, Covid tiêu tán, nuốt trôi được con trâu Tân Sửu này! 😀