prepositive vs. postpositive

Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời
Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi…

ne miscellaneous linguistic notice, except for things borrowed from Chinese, which is largely unpopular to most people in daily, pragmatic uses, the Vietnamese language, in essence, is strictly postpositive, that is an adjective must be placed after a noun / pronoun that it modifies. So the following examples which are prepositive, are extremely rare, to the point of… bizzare, but they’re also very interesting, note the underlined, bold phrases. Add more examples to the list if you would find one! 😀

Chuyện tình yêu - Ngọc Lan (nguyên tác: Histoire d'un amour) 

Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời. Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi

Khúc ca muôn thủa - Thái Thanh (nguyên tác: Granada) 

Rằng từ sau khóe mắt xanh bồ câu xâm chiếm tim anh, quên lãng sao đành

Rừng xưa đã khép - Khánh Ly 

Ta thấy em trong tiền kiếp, với cọng buồn cỏ khô.

je ne pourrais jamais t’oublier

Bên thành rượu tiễn;
Buổi chia bào bịn rịn những ai ai.
Khách ra đi nao nức bốn phương trời,
Người ở lại luống ngậm ngùi năm tháng cũ.

iens, bonjour, comment vas — tu, dis — moi? Dis, te souviens — tu encore de moi? Moi, il m’arrive souvent de penser à toi. Mais à part ça, comment ça va? Toi, vraiment tu n’as pas trop changé. Moi, tu sais, j’ai beaucoup voyagé. Oui en effet, j’ai découvert d’autres pays. Et toi, qu’as — tu fait de ta vie?

Je parle trop, tu es pressé, je ne voudrais pas te déranger. Si j’en dis trop, c’est pour t’aider, à retrouver le temps passé.

Est — il vrai qu’elle me ressemble un peu? On dit qu’elle a aussi les yeux bleus. Es — tu certain d’être plus heureux maintenant? Moi, je t’aime, je t’aime toujours autant. C’est la vie, on n’y peut rien changer. Nous sommes aujourd’hui des étrangers. Je vois très bien, dans tes yeux, qu’il n’en reste rien. Notre amour que tu es loin!

Je parle trop, tu es pressé, je sais, je ne veux plus te retarder. Encore un mot, et je m’en vais, tu sais, je ne pourrai jamais t’oublier!

Je ne pourrais jamais t'oublier 
Mưa trên biển vắng 

môi tím

Môi tím – Ngọc Lan 

Tình mình là tình đẹp nhất đó anh.
Tình tuổi học trò mực tím áo xanh…

ost lại một bài đã đăng ở FB… một bản nhạc Nhật lời Việt từng rất phổ biến mà không cách nào tìm lại được bài gốc (trời ạ, lấy của ai, nguồn nào thì làm ơn ghi chú rõ giùm cái, chơi cái trò tam sao thất bổn này phiền quá…), chỉ biết là do Đặng Lệ Quân cover lại một ca khúc Nhật Bản (?), rồi ta tiếp tục cover lại bản F1 của Đặng Lệ Quân. Ngay cả khi viết trong một cái điệu rất Tây phương (pasodoble, really love all the pasodobles!) và qua mấy lần cover như thế này thì cái mùi Nhật vẫn chưa nhạt đi được…

đặng lệ quân

Lời Việt: Tan tác - Ngọc Lan 

Nhạc ngoại đặt lời Việt bất kể thế nào cũng phải cho nó một cái nội dung bi lụy, buồn phiền… để phù hợp với tâm lý đa số thính giả!

ần đây nghe nhiều nhạc của cô ca sĩ Đài Loan này. Những người bạn TQ tôi gặp, cả những người bạn Việt có học tiếng Hoa mỗi khi karaoke thì lại lôi những bài của Teresa Teng ra: Vầng trăng nói hộ lòng tôi (月亮代表我的心), Ngày nào anh trở lại (何日君再来)… Chẳng phải trước đây ở Trung Hoa (lục địa) người ta thường nói: ngày nghe Lão Đặng (Deng Xiao Ping), đêm nghe Tiểu Đặng đó sao!?

Điều này hơi hơi giống như sau 75, Hà Nội âm thầm và nồng nhiệt đón nhận giọng ca não nề Khánh Ly và loại âm nhạc thiểu não, trừu tượng của Trịnh Công Sơn như những liều thuốc an thần giúp lãng quên và xoa dịu đời sống tinh thần bế tắc… Điều khác biệt ở chỗ của người tràn đầy sức sống: 请爱着我请再爱着我, trong khi của ta xứng đáng được liệt vào loại vong quốc chi ca.

japanese pentatonic

Mais, c’est la guerre pentatonique,
cinq notes au lieu de sept.

1 1/2 2 1/2 2:

Dakishimete (Mayumi Itsuwa) 
Ngàn năm vẫn đợi - Ngọc Lan 

ùng một tác giả: Kokoro No Tomo (lời Việt: Khi cô đơn em gọi tên anh), Koibito Yo (lời Việt: Người yêu dấu ơi), Ai No Shinkinro (lời Việt: Sa mạc tình yêu), Ribaibaru (lời Việt: Trời còn mưa mãi), Nokibiri (lời Việt: Tàn tro)… Xem ra nhạc Việt mượn của cô ca sĩ Mayumi Itsuwa này nhiều thật. Nhớ khi nhỏ, khoảng cỡ lớp 7, lớp 8, chưa biết bài gốc tiếng Nhật, thích bài Ngàn năm vẫn đợi này lắm, người khác thì cứ bảo: chỉ là thứ nhạc vàng đặt lời nhảm nhỉ… Giá như người ta hiểu nhạc không phải là lời nhỉ! Nó là cái intangible formation bên trên, trước tiêu đề bài hát!

Translation: I, who have been intoxicated in meager happiness, even while knowing that someday my dream will end. That’s the kind of me, who will love you until I die. If you love, it only brings cruel fate. Tomorrow I will only know loneliness. Without you, I will live on, please don’t worry! Please hold me tight, without saying anything, until the tears stop falling, please hold me tight, without saying anything.