bắc hành – 2016, phần 45

hé thăm địa đạo Vịnh Mộc, Vĩnh Thạch, Vĩnh Linh. Điều đặc biệt là huyện Vĩnh Linh có nhiều xã là đất đỏ bazan (một số xã là đất cát), người dân trồng nhiều hồ tiêu, cao su… Cũng chính nhờ cái đất ấy nên địa đạo mới có thể hình thành được, đơn giản là với phương tiện thô sơ ngày trước, không thể đào hầm trong đất cát. Quy mô nhỏ hơn địa đạo Củ Chi nhiều…

Nhưng Vịnh Mốc có một vai trò khác biệt, là điểm gần với đảo Cồn Cỏ nhất, con đường tiếp tế cho đảo đi qua đây, thế nên Vịnh Mốc chịu sự đánh phá ác liệt. Toàn bộ cuộc sống ở đây ngày xưa được tổ chức dưới lòng đất, nhìn tổng thể như một pháo đài 3 tầng, ngầm trong một sườn đồi, hướng ra biển cả. Bức ảnh cô du kích Vịnh Mốc ai đó chụp đến là đẹp!

Hành trình tiếp tục đi ven biển, cửa Tùng (sông Bến Hải), cửa Việt (sông Thạch Hãn)… Biển Cửa Tùng, Cửa Việt rất đẹp, bắt đầu từ nơi đây trở vô Nam, con đường di dân của người Việt ngày xưa từ phía Bắc, bắt đầu chủ yếu bằng đường biển với ghe thuyền, chứ không phải trên bộ như các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh nữa. Đất miền Trung dài và hẹp vì như thế!

Người ta chỉ đi bằng ghe thuyền đến các vùng đất có thể cư trú được dọc theo bờ biển, rồi cứ thế tiếp tục xuôi về Nam, chứ không mở rộng ra về phía núi (phía Lào). Một lúc nào đó, cùng với chiếc kayak của mình, tôi sẽ rong chơi cho bằng hết tất cả những vụng biển, đầm phá, bãi bờ, sông nước này! Đến để thấy một nụ cười hồn nhiên thật quá là xinh! 😀

Chặng 45: Vịnh Mốc ⇒ tt. Cửa Tùng ⇒ tt. Cửa Việt ⇒ tx. Quảng Trị ⇒ Hải Lăng ⇒ An Lỗ ⇒ Sịa ⇒ Bao Vinh ⇒ tp. Huế

Bắc hành, 2016, phần 1
Mai Châu, Mộc Châu, 2016
Điện Biên, 2016
Lai Châu, 2016
Hà Giang, 2016
Cao Bằng, 2016
Lạng Sơn, 2016
Bắc Ninh, 2016
Ninh Bình, 2016
Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành – 2016, phần 15

iện tượng rét bất thường trên toàn miền Bắc, khi tuyết rơi ở Ba Vì, ngay gần Hà Nội chứ không phải chỉ ở Sapa, Mẫu Sơn, Y Tý, Bát Xát… như các năm trước, nhiều nơi đã xuống độ âm. Thời tiết ở Điện Biên ngày này thấp nhất 3℃ vào giữa trưa, lạnh hơn cả năm ngoái cũng tầm này lúc tôi ở Sapa, trời mù, mưa lâm thâm, nhưng thật ra vẫn không quá khó chịu.

Thời tiết thật lý tưởng để đi bộ tham quan khắp cánh đồng Mường Thanh, cho cơ thể được vận động chút, thay vì đi xe máy: sông Nậm Rốm, cầu Mường Thanh, hầm chỉ huy của tướng Christian de Castries, đồi A1 (Eliane 2)… Đã đọc khá nhiều đầu sách về Điện Biên Phủ, nhưng phải đến tận nơi đây, chui vào các lô cốt và các đường hầm, thì mới hiểu được tại sao…

Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau này là thượng tướng) phải mất hơn 50% quân số của trung đoàn 174, đại đoàn 316 (chỉ mới tính số hy sinh, chưa tính số bị thương) và 36 ngày đêm ròng rã mới chiếm lĩnh được ngọn đồi này! A1 đổi chủ không biết bao nhiêu lần trong suốt 36 ngày đêm đó, mỗi bên chiếm một nửa, giằng co qua lại trong phần lớn thời gian!

Gần đỉnh đồi, cái hố cực lớn tạo ra bởi một tấn thuốc nổ, chỉ bằng cách đào đường hầm sâu vào trong thân ngọn đồi, đặt thuốc nổ để thổi bay nó đi thì đồi A1 mới thực sự bị đánh bại. Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến thắng bước ngoặt ở đồi A1 này, số phận của trận chiến Điện Biên đã được định đoạt. Lịch sử đã được viết bằng máu như thế đó!

bắc hành – 2016, phần 14

hăm bảo tàng Điện Biên, một công trình có phần hơi đơn giản, sơ sài, thiếu chi tiết, so với một sự kiện tầm cỡ như trận Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng nằm ở ngay trung tâm thành phố, bên trên một quả đồi cao (đồi D1, Dominique 2), cái công trình kiến trúc – điêu khắc ấy… không gây được trong tôi bất kỳ một cảm xúc thẩm mỹ nào, dù là nhỏ nhất!

Điều hứng thú duy nhất là đứng trên đỉnh đồi này, có thể nhìn ra bao quát toàn bộ cánh đồng Mường Thanh (không quá rộng lớn) và nhìn xuống trung tâm thành phố, những ngọn đồi bao quanh với mây mù vần vũ, một cảnh tượng rất ngoạn mục! Có cảm giác mọi quy hoạch đô thị ở cái thành phố này đều xoay quanh chủ đề… trận chiến Điện Biên Phủ.

Các loa phóng thanh khắp các phố phường vẫn hàng ngày loan tin, tạo ra một cái không khí như là… của thời bao cấp, hơn 30, 40 năm về trước! Đến cả cô hướng dẫn viên bảo tàng vẫn khóc mỗi khi thuyết minh cho du khách nghe về trận Điện Biên và Đại tướng. Không có ý bất kính, nhưng tôi đoán rằng mỗi ngày, cô ấy khóc khoảng chục lần như thế! 😬

Tin về nửa đêm, hoả tốc, hoả tốc! Ngựa bay lên dốc, đuốc chạy sáng rừng… Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…. Không cần phải nhờ đến tượng đài hay bảo tàng, lịch sử ngày xa xưa ấy tự nó đã là một điều vĩ đại! Dừng chân Điện Biên ít ngày trước khi bước tiếp hành trình!

17 tháng 2…

nh ở Lào Cai, Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Tháng hai mùa này con nước, Lắng phù sa in dấu đôi bờ. Biết em năm ngóng tháng chờ, Cứ chiều chiều ra sông gánh nước. Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt, Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong. Đài báo gió mùa em thương ở đầu sông, Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét. Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết, Tay em ngập dưới bùn lúa có thẳng hàng không? Nếu chúng mình còn cái thủa dung dăng, Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy. Em ra sông chắc em sẽ thấy, Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông… Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng, Nếu gặp dòng sông ngầu lên sắc đỏ, Là niềm thương anh gửi về em đó, Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh! (Gửi em ở cuối sông Hồng – Dương Soái)

Gởi em ở cuối sông Hồng - Anh Thơ, Việt Hoàn 

Đêm tháng Năm vào bình độ bốn trăm, Đoàn xe trôi êm êm, tầm đại bác. Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc, Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu!? Lắc lư xe quan tài vượt về sau, Máu dỏ xuống đường cuốn vào cát bụi. Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi, Tốp thương binh bê bết máu mặt mày. Đám cướp kia Thánh, Phật dạy ăn chay, Chẳng kiêng gì ngày rằm mùng một. Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt, Tưới máu người cướp, giữ đất biên cương. Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân, Ông bảo rằng: sống chết thời vận số. Cả trung đoàn ào ào như thác lũ, Bình độ Bốn trăm bình địa trận người. Những chàng trai sống chết trận này ơi! Mưa đổ xuống ông trời tuôn nước mắt. Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất, Người trở về ăn, sống, ở ra sao? (Bình độ bốn trăm – Nguyễn Mạnh Hùng)

7554 – the điện biên phủ game

game to be published this October, to be precise, the first Vietnamese FPS (first person shooter) 3D game, and you know what it’s about, the famous Battle of Điện Biên Phủ. The game features 4 main characters, all joined the anti – colonial – French movements from the very early days, participated in various operations before arriving at the final confrontation at Điện Biên Phủ. Not yet to be released, but below are some nice preview screenshots. Having some experiences with game engines, I could say that PC 3D games nowadays are not that hard as before.

They are not really about low level graphics techniques, you would rarely even touch to OpenGL (or DirectX), the engines support most elements you would need. To make a game interesting, it is more about storyboard, scene building, animation, physical modeling and game AI. Anyhow, this is an interesting and promising project, since not only it’s the 1st real FPS game made in Vietnam, but also the first game that takes its inspirations and stories from our history!

cq – 88

ức tranh này do cậu bé TKXuyên vẽ năm 1988, màu nước trên giấy, hiện vẫn treo trong phòng làm việc của mình (mọi người đừng cười một người chưa bao giờ có khiếu vẽ vời gì dù chỉ là một chút xíu). Dĩ nhiên là tôi còn nhớ rất rõ là vẽ vì những lý do gì, trong bối cảnh như thế nào. Mọi người hẳn chưa thể nào quên sự kiện CQ – 88 mà ngay cả một cậu bé 9 tuổi là tôi lúc bấy giờ cũng từng ngày dõi theo. Nghĩ mà buồn, đến nay hơn 20 năm rồi mà mọi chuyện vẫn thế. Dòng chữ đề trong bức tranh: Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ, Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong, cụ Nguyễn Công Trứ có sống lại mà nhìn bối cảnh bây giờ… 😢

bare feet, iron will

ne more item in my to – be – read list: Bare Feet, Iron Will, by James Zumwalt, a retired Marine lieutenant colonel, son of the Vietnam war’s time US Navy’s Admiral. The book has recently been translated and published in Vietnamese. Though I haven’t got an English copy in hand, my interests rose after reading this interview with the author. Just like Archimedes Patti’s book Why Vietnam?, I would expect stories from intermediate – level officers to contains a lot of facts, events, numbers… that gives details into the things that happened, and offers closer, truer look into the figures involved, unlike those of high – level cadre supérieur (a.k.a politicians).

The author recently gave an interview with Vietnamese presses, in which he confirmed that his book was inspired by The sorrow of war, Bảo Ninh’s novel. He loves the novel and dedicates part of his book to write about this Vietnamese fiction and its author. I knew some 20 years ago that The sorrow of war would be a very profound impact (read more about it in my another post here). It’s just ridiculous that the VN government once forbade (and still limits) the novel, permits it to be appeared on news on occasions only to serve some political purposes, this time is a step toward tighter relation with the US. Below is some notable remarks from the author, James Zumwalt interviews:

Was the loss of a loved one any less significant just because it occurred on the other side of the battlefield? …It just opened my eyes to the fact that we have to recognise that our suffering is mirrored on other side.

When I made my second trip, one of the first places I went to was the Hanoi war museum. And there they had a section devoted to war criminals – one of whom was my father for his use of Agent Orange. (Asked: How did he react to being a war criminal?) He kind of smiled and said: Well it’s a good thing they didn’t arrest me when I was there.

In one case, a doctor told his wife he would probably be gone for six months to a year. He was gone for eight years, and only got back to visit his wife once… Many of those I interviewed had difficulty pinpointing particular years, but they could tell me if it was in dry or monsoon season. That was the way they looked at it. The year didn’t matter. That shows the mindset they operated under.

There were some 1,400 mothers who lost three or more sons in the war. I think we’d be hard pressed in this country to find more than a handful of mothers who lost more than one son in Vietnam. They considered it a sacrifice they had to make.

In the interviews I did with hundreds of NVA / VC I asked them what their motivation was. It was not communism but rather it was nationalism and the desire to reunify the country… I believe it is part of the Vietnamese people’s DNA. To them, there was never any alternative, they just had to prevail.

Look at the Vietnamese who defeated the Japanese in 1945, the French in 1954, the Americans in 1975, and again the Chinese in 1979, I don’t think we realised we were probably fighting against Vietnam’s own Greatest Generation. (yes we sacrificed our best seeds in those wars, you know what the sh… is left as of today! 😢)

un vietnamien bien tranquille

aving a time to read some notable documents: The spy who loved us – Thomas Bass, and The perfect spy – Larry Berman. At first, I’d thought: oh, all these stories I’ve knew quite well already, there’s no need to read more. But then I considered it’s good to be reflective, reading the same stories in another language, from other points of view.

I’d read these two books (in English), which contains quite some interpreting errors (most of them are unintentional I think) then I proceeded to their Vietnamese translations (which are really bad, lots of linguistic mistakes), but again another reflections of reflections. All readings confirmed my understanding about the Vietnamese legendary intelligence agent Phạm Xuân Ẩn, whose role is now recognized as crucially decisive in the second IndoChina war.

Espionage and Journalism

As the first IndoChina war was approaching its end, the Việt Minh leaders knew that it’s just a matter of time before the American get their hands in. They had lived and fought with the French long enough that they had extensively well understanding on their enemy, the same is not true for the Americans. During the 9 years of the first IndoChina war, Ẩn had already worked against the French, under his cousin Phạm Xuân Giai, head of South Vietnam’s Cinquième Bureau – department for psychological warfare, who was working for the French’s Deuxième Bureau.

In 1957, Phạm Xuân Ẩn was ordered to go to the States, studying journalism (as a cover), learning their language, culture, their way of thinking… a preparation that later turned out to have devastating effects. During the time in America (and even long before), Ẩn has developed a sympathy (if not admiration) for American people and culture, and at the same time, touting his horns in a war to come against them.

These two professions were very contradictory, but also very similar. The intelligence job involves collecting information, analyzing it, and jealously keeping it secret, like a cat covering its droppings. The journalist, on the other hand, collects information, analyzes it, and then publishes it to the world. (Phạm Xuân Ẩn)

Information and disinformation

Upon coming back (1959), Ẩn worked for several presses: Việt Tấn Xã, Reuters, Time… Among all journalists in Saigon at the time, Ẩn is considered to be the best informants: new – comers introduced with him for guidances, seasoned ones seeked him for tips. He had various sources in the governments, army officers, secret polices… he had the best ears on the ground for everything. He is dubbed: “the weatherman” who foretell the political atmosphere, generals consulted him before planning coup d’état, the Buddhist monks informed him in advance if they prepare a protestant self – burning.

He made very good friend and closed cooperation with Edward Lansdale, head of IndoChina CIA division, the legendary agent nick – named: the king – maker, who manipulated every puppets on the Southern political stage, yet Lansdale had never doubted it. People was thinking he could be a CIA agent, a French sûreté, a South VN secret police, or he could be both. But none ever thought of him working for the Red NLF.

After the war, upon learning about the fact, some of his colleagues have tried to prove that Ẩn could had been giving disinformation at times. In fact, all his written records at the Time magazine (where he worked for 10 years) proved the opposite. Had he done it, with all the overwhelming clandestine agents among the presses, things could have easily been cross – checked and that would betray Ẩn, the espionage. And he of course hadn’t made those preliminary mistakes.

The source had given me the story on condition that I shouldn’t reveal it before it happened. These are the ethics of the press. You have to observe them, no matter how tough it may be. These are also the ethics of an intelligence agent who knows the propaganda value of burning monks. (Phạm Xuân Ẩn)

Balance and Objective

One thing Ẩn learned in American news career is that: a writing must be well – balanced, not biased in any directions, and at the same time it has to be objective, giving useful information to help coming to some helpful conclusions. Yet the two are usually contradictory. Similarly, questions have been raised about the nature of a man who lived an extremely dangerous double life for 30 years, about the one who deeply admires American culture but fiercefully fights against them.

In fact, Ẩn made true friend to many American journalists, help them in many cases, many of whom still love him even after learning that he was a spy. Many would recall how he saved the life of Robert Sam Anson, the war correspondent who was arrested by the VC in Cambodia. Ẩn came closest to getting discovered when he promised to Anson’s wife (who was begging for help) that he would do everything he could, a dangerous remark which implies he really could do something. Anson was later released as per request Ẩn made to his superiors, a truth Anson would only know for sure years later.

He was a man of wisdom, courage, and clear – headed patriotism. He was also – even if it seems ironic to say this under the circumstances – a man of extraordinary integrity. He loved us at our best even while confronting us at our worst. (Daniel Ellsberg)

Strategy and Tactic

A pattern in Ẩn’s stories, as usual, as an amusing raconteur: I’m a strategic analyst, I was concentrating on background information and situation assessment. Yet it’s a reason he gives in order not to get into too much details that he wouldn’t want to release even in the next 50 years: that’s related to too many people, many have died, but some still alive with their relatives, there’s no reason to cause harm to them anyway (Ẩn has always been loyal and protective to his information sources, from either sides, many of which is built upon personal relations).

But Western researchers found this an “undeniable fact”: he’s been awarded with 16 medals, among which 2 are general (one “Hero of the People’s Army” medal, the highest military award in VN, and another medal for “50 years of Party’s service”), the other 14 are all credited to specific battles, 4 of which is apparently known: the Ấp Bắc battle (1963), the Tết offensive (1968), the Lam Sơn 1972 operation, and the final 1975 campaign. That gives some obvious hints on his role as a tactical adviser who devised detailed tactics to be used in various battles.

He would have had enough knowledge of the battlefield tactics, rules of engagement, logistics and battle – readiness of both the Vietnamese and Americans in that area at that time to give pretty good advice on the way to set up a trap for them. Certainly Ấp Bắc had the hallmarks of a trap. (Nick Turner)

Nguyễn Văn Tào (nom de guerre: Tư Cang), head of the H.63 spy ring, direct ‘boss’ of Phạm Xuân Ẩn, famous for his ability of pistol shooting with both hands, and never miss a shot.

Phạm Xuân Ẩn (nom de guerre: Hai Trung), the strategic analyzer whose information, documents, assessments… greatly changed the pace of war.

Nguyễn Văn Thương (nom de guerre: Hai Thương), one of the couriers who run Ẩn’s messages. He was arrested, tortured, both his 2 legs were cut off six times, each without any narcotic. He could had saved his life, but he chose to save the network.

How could someone so voluble and open about his life be a spy? How could someone so funny and pointed in his remarks about human stupidity be a Communist? …He was a divided man of utter integrity, someone who lived a lie and always told the truth. (Thomas Bass)

The spy who loved us – Thomas Bass
(pdf.tar.gz) (mobi.tar.gz)

Perfect spy – Larry Berman
(pdf.tar.gz) (mobi.tar.gz)

Communists and Nationalists

This is the point of hatred conflicting among Vietnamese communities for so many years. My point of view, which is also reflected tho – throughly throughout the books (can be seen as 2 American views) is that: the communists, they had an ideologue (no matter right or wrong it could be), and they had determinations. On that basics, they’d had detailed planning and extensive efforts to carry it out, and they’d made sacrifices to carry it out to the end. The same is not true with the so called southerners’ nationalism.

As long as the Americans were pumping money in, the Southern government staffs were trying to steal as much as possible, and pretend to be supportive to the Americans’ causes while avoiding fights and casualties on the battle fields. They’d lost, as they presented nothing, not nationalists, not even anti – communists, but only their own personal and family’s interests. The consequence can be seen clearly: the majority of southern people took side, they have always been sympathetic to the Communists’ national independence causes, although they’re not communists.

Communism and Patriotism

It would eventually become clear why so many people have made extreme efforts and sacrifices, it was not because of any ideology. Of the total 43 members of the H.63 espionage network, 25 were captured, tortured, many of them chose to die, but the network remained unbroken. They were couriers, who in 15 continuous years, ran the total 498 messages (reports) from Phạm Xuân Ẩn to the Iron Triangle Củ Chi, from where it would be delivered directly to the Politburo in Hà Nội. Ẩn always kept an poison pill in his pocket, ready for a death that was hanging over him for those 15 years.

Many who survived the war found themselves disillusioned with the post – war living, finding that the new regime has become even more corrupted than the previous one, and that is not what they were fighting for. Yet they were fighting not for any individual, any ideology, any government… Many failed to realize it is patriotism in the truest and deepest meaning! Phạm Xuân Ẩn to the last year of his life, works as an consultant to TC2 (the Vietnamese equivalence of Deuxième Bureau), who doesn’t understand and doesn’t trust him, but badly need his razor – sharp analyses and assessments.

Lessons learnt

If something can be learnt from Phạm Xuân Ẩn’s life, it’s something about cultural understanding. While most VC has very limited knowledge about American culture and values, they’d succeeded in cultivating at least one spy who could think like an American, a spy who loved Americans and was loved by them in return. That way he can get deep into the adversary’s mind and soul, and know the way to defeat them.

It’s all about understanding, the French had stayed in Vietnam for a considerable amount of time, they’d learnt to divide and conquer the Vietnamese, a job they’d done excellently. It took a few generations to absorb their culture, to gain enough understanding to have successful retaliations. What the American had done in Vietnam to some extent was repeating things the French had done already, in a far larger scale.

Those above are indeed the small part of the lessons. Ẩn said: the American are very good at collecting and analyzing information, but they don’t know what to do with them (at least in scopes of the Vietnam war). Similarly, we can say: the Vietnamese know how to obtain a victory (or it supposes to be called so), but then they don’t know what to do with it. Phạm Xuân Ẩn in person is a talkative one, he can talk about his thinking all day.

But as a spy, a strategic analyzer, he is actually a very quite Vietnamese, who had much more profound thoughts and understanding but can’t say it out. Lots of our own problems are briefly reflected throughout the American books, but they’re not recognized tho – throughly by our own people… Things get passed silently in our sleeping – pleasing minds until another war, another revolution that is… just pending.

diệc lạc hồ

text=双鸟齐飞&font=1&size=17&color=0000FF

text=黄莺飞到北京都&font=2&size=17&color=222222
text=会遇金鹏亦乐乎&font=2&size=17&color=222222
text=大事未成行小事&font=2&size=17&color=222222
text=双鸟齐飞至善图&font=2&size=17&color=222222

Song điểu tề phi

Hoàng Oanh phi đáo Bắc Kinh đô,
Hội ngộ Kim Bằng diệc lạc hồ!
Đại sự vị thành, hành tiểu sự,
Song điểu tề phi chí thiện đồ!

hân kỷ niệm 60 năm quốc khánh nước CHND Trung Hoa (1/10/1949 ~ 1/10/2009), trích đăng lại ở đây bài thơ của một nhân viên ngoại giao đoàn Việt Nam (đăng trên Tạp chí Sông Hương, 2002): Bài thơ thể hiện tình hữu nghị cao quý của nhân dân hai nước Việt – Trung. Bài thơ được làm năm 1991, sau một thời gian dài 10 năm (kể từ 1981), khi hai nước tuy không còn những đối đầu quân sự lớn, nhưng hai bên vẫn tiến hành một đường lối tạm gọi là artillery diplomaticngoại giao pháo binh – chân lý, lẽ phải đứng trên đầu nòng đại bác.

Các địa danh đẫm máu như Vị Xuyên, Ngọc Đường, Lũng Cú… những người từng bám trụ 10 năm ở đó đến nay vẫn nhiều người còn sống, vẫn còn kể lại chuyện ngày xưa ở đâu đó quanh đây. Trở lại với bài thơ, năm 1991, một đoàn ngoại giao VN sang TQ, những bước đi đầu tiên của tiến trình bình thường hóa quan hệ. Trưởng đoàn phía VN là ông Vũ Oanh, trưởng đoàn phía TQ là ông Lý Bằng.

Cả “Oanh” và “Bằng” đều là tên của hai loài chim (không giống nhau), như được thể hiện rất rõ trong bài thơ trên đây: Song điểu tề phiĐôi chim cùng bay. Không cần phải biết chữ Hoa, đọc phiên âm Hán Việt hẳn mọi người cũng sẽ dễ dàng hiểu nội dung bài thơ! Chúng ta thấy lại cái điệp khúc Diệc lạc hồ ở đây! Diệc lạc hồ (hay Bất diệc lạc hồ) đều có thể hiểu theo nhiều kiểu: vui lắm thay, há không vui hay sao… hay theo phương ngữ miền Nam: vui quá hén! 😬

tiens bien fou

Le Chant des Partisans (Anna Marly) 

Le Chant des Partisans (or in English: The guerrillas’ song) was a famous French song, widespread among members of France’s resistant movement against the Nazi, many of whom later fought at Điện Biên Phủ battle, including De Castries, Langlais, Bigeard… The guerrillas’ song was once used by French against the Nazi, now ironically used by Vietnamese fighting the French.


Éliane-2 hill nowadays, vestige of the blew-away top.

ay, 6th, 1954, 11 PM: Nguyễn Hữu An, commander of the 174th regiment, 316th division, ordered the last attack on the Éliane-2 height (Vietnam nomenclature: A1 hill). The hill ownership has been shifted from side to side many times during the past 55 days, on the Viet Minh side, a price of about 2000 deaths was paid for the area of 2000 m2 of the hilltop. Finally, a tunnel was digged into the hill foot, one ton of TNT explosive was placed in to blow up the whole fortification. The mine blast was starting signal for the ultimate assault into Điện Biên Phủ garrison, fate of the famous battle has just been decided.

May, 7th, 1954, 04 AM

Captain Pouget, from Éliane-2 called the commanding post on radio, asking for reinforcements, the situation was hopeless. Major Vadot, in an indifferent voice, told Pouget, like a professor trying to explain a hard problem to his student: Reinforcement? Be reasonable boy, we have no more such!. Then, he ordered Pouget to destroy the radio and defend to death. Suddenly, a voice intercepted on the wave, in French, the Viet Minh radio operator said: Hold the line, please! Gentleman, we invite you one piece of music: Le Chant des Partisants. Vadot listened to the whole song, then blew 3 carbine shots destroying the device.

Later the same day, May, 7th, 1945

Gia Lâm airport, Hà Nội, a certain French drunk soldier dragging his feet on the street, crying: Quoi? Điện Biên Phủ? C’est exactement: Tiens bien fou! (kind of French playing on words, literally translated into English as: What? Điện Biên Phủ? It’s exactly: should probably go mad there).