F337

337 – đoàn Khánh Khê, thành lập tháng 7/1978, là một sư đoàn non trẻ của quân đội VN, chưa từng kinh qua chiến tranh. Tháng 2/1979 hành quân từ khu IV lên chiến đấu tại mặt trận Lạng Sơn, bảo vệ sườn tây của F3 – Sao Vàng. Và từ đó mang chết cái tên: đoàn Khánh Khê, tên đặt theo cây cầu bắc qua sông Kỳ Cùng. Chỉ một số đơn vị quân đội VN là “có tên”, đa số còn lại chỉ mang số hiệu mà thôi, và nên giữ đúng truyền thống đó, ngày xưa trong chiến tranh, để “có được tên” không phải là điều đơn giản…

fm đầu bạc

rong chuyến đạp xe đi Vũng Tàu, ghé thăm bảo tàng vũ khí Robert Taylor năm ngoái, có nói về khẩu súng “FM đầu bạc”, tên chính thức là “trung liên Bren”, dưới đây là 1 số hình của khẩu súng đó trong 2 cuộc kháng chiến. Lưu ý rằng có 1 số khẩu Bren nhưng “đầu không bạc”, cũng là 1 kiểu súng nhưng do sản xuất ở những nhà máy khác nhau. 3 bức ảnh cuối là “ZB vz. 26” (băng đạn thẳng), cũng là 1 người anh em rất gần với Bren!

thích quảng đức

焚我残躯
熊熊圣火
生亦何欢
死亦何苦
为善除恶
唯光明故
喜乐悲愁
皆归尘土
怜我世人
忧患实多

hần ngã tàn khu, Hùng hùng thánh hoả. Sinh diệc hà hoan, Tử diệc hà khổ. Vi thiện trừ ác, Duy quang minh cố. Hỷ lạc bi sầu, Giai quy trần thổ. Liên ngã thế nhân, Ưu hoạn thật đa!

Dịch nghĩa: Đốt cháy thân ta, trên ngọn lửa thiêng. Sống có gì vui, chết có gì buồn? Vì thiện trừ ác, làm việc quang minh! Vui vẻ âu sầu, cũng về cát bụi. Chỉ thương chúng sinh, chìm trong bể khổ!

tin giả

ại nói về tin giả – fake news… ngày 29/04/1975, trong 1 nỗ lực cuối cùng, CIA rêu rao trên sóng radio rằng vừa có 1 cuộc đảo chính xảy ra ở Bắc Việt, VC buộc phải rút 3 sư đoàn trở về, SG đã được giải vây. Chuyện được kể lại trong phim tài liệu “Vietnam war” (Ken Burns & Lynn Novick, 2017). Đưa tin xong, chắc CIA cũng phải gãi đầu gãi tai: hình như không được thông minh cho lắm, còn người Việt thì cười khẩy: nói éo ai tin! Không phải đến giờ mới có vấn nạn tin giả, bản chất gian dối của nhân loại vốn đã có từ thời… còn là vượn người kia! Khác chăng là hiện đại, tin giả bùng nổ kinh hoàng với internet mà thôi. Giả, cái gì cũng giả, chỉ có khổ đau là có thật…

body count

ư dân mạng đến giờ vẫn bàn luận, rút cuộc là Mỹ đã thua hay không thua trong cuộc chiến VN. Nghe nhiều lắm rồi, thua hay không thua rút cuộc chỉ là từ ngữ, nhiều người cứ thích “chơi chữ” chứ không thích nhìn vào thực tế! Có 1 câu chuyện như sau, không biết thật đến mức nào: Nghe đồn là, hồi năm 64, 65 gì đó, bên dưới tầng hầm Lầu Năm Góc, bộ trưởng McNamara đã ra lệnh chế tạo 1 cái siêu, siêu máy tính!

Rồi người ta nhập vào đó 1 núi dữ liệu thống kê, hàng vạn chỉ số đo lường: số lượng bom đạn, pháo, tăng, máy bay, tên lửa, các chỉ số hoả lực, bình định, đếm xác này nọ, rồi hỏi máy tính chỉ duy nhất 1 câu: “đến khi nào thì ta thắng VN!?” Cũng nghe đồn là cái siêu máy tính chạy suốt từ đó đến giờ mà chưa cho ra được kết quả! 😀 Ảnh dưới: hố bom trên đường Trường Sơn, quay bằng flycam sau hơn 1/2 thế kỷ…

viết cho 3///

ôi không thích dùng từ ngữ bao đồng, xúc phạm, vì ở đâu, giới nào cũng luôn có người này, người khác (trong tất cả mọi phe phái). Nhưng thời gian đã qua đi gần nửa thế kỷ, những sự thật lịch sử hiển nhiên, nhiều người vẫn không muốn thừa nhận, hay tìm cách làm sai lệch nó đi! Dưới đây là bức tranh toàn cảnh sân khấu chính trị miền Nam Việt Nam, nói thật ra, Hà Nội có 1 sách lược từng bước, từng bước, hết sức rõ ràng:

Bước 1: lật chế độ Diệm, một chế độ độc tài, gia đình trị, thiên vị tôn giáo, ngu dốt và tàn ác. Được dựng lên bằng một cuộc bầu cử giả hiệu, gian lận, nhưng ít nhất người Mỹ cũng có thể “lu loa” với thế giới rằng đây là một chế độ “dân sự, dân cử, dân bầu”!

Bước 2: ai mà ra ứng cử thổng thống, thủ tướng với tư cách “dân sự” là kêu biệt động thành đi ám sát, ví dụ như vụ GS Nguyễn Văn Bông. Việc này “chính sử” đã thừa nhận, chẳng có gì phải ngại mà không công khai thông tin.

Bước 3: làm cho chính giới SG chỉ còn lại các tướng lĩnh, mà các ông này thì chẳng ai chịu ai, ghen ghét nhau. Điển hình như vụ Thiệu, Kỳ & Nguyễn Chánh Thi, cánh miền Nam & cánh miền Trung đánh nhau năm 1966 ở Đà Nẵng, hàng trăm lính thương vong!

Bước 4: dùng phong trào đấu tranh Sinh Viên và đấu tranh Phật Giáo, đòi hỏi một chế độ “dân sự”. Nhưng trong một cái bẫy đã giương sẵn thì người Mỹ kiếm đâu ra một “chế độ bầu cử, dân sự”, trước sau chỉ có “quân phiệt, độc tài” thôi!

Bốn bước trên làm cho miền Nam không bao giờ có được một chế độ dân cử, dân bầu, trước sau đều là các “chính phủ tạm thời” cho giới tướng lĩnh đảm nhiệm. Như thế, tính “chính danh” của VNCH gần như là không có, vì đó có phải là 1 chính phủ dân bầu đâu!? Nói trắng ra, là gì nếu không phải là một bộ máy quân sự cho người Mỹ tạo dựng lên, bơm tiền nuôi sống và giật dây điều khiển!? Mà sự thật trước sau cũng chỉ có thế!

Ngay trong giới quân phiệt cũng không đồng nhất! Thành phần già như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn… tương đối có tư cách, không muốn dính líu quá sâu với người Mỹ, thậm chí muốn đàm phán hoà bình với MTGP. Thấy không thể chống cộng với các tướng lĩnh già, Mỹ giật dây cho các tướng trẻ lên nắm quyền. Từ 1963 đến 1973, trong 10 năm có 10 cuộc đảo chính khác nhau, chẳng lúc nào yên, tình hình như thế chỉ có lợi cho MTGP.

Lúc đảo chính họ Ngô, ông Nguyễn Văn Thiệu mới là… đại tá – sư trưởng, 40 tuổi, ông Nguyễn Cao Kỳ còn là… trung tá, 33 tuổi, 4 năm sau thì 1 người trở thành tổng thống, 1 người thành thủ tướng, ở cái độ tuổi… trên dưới 40 (!!!). Trong những thể chế chính trị thông thường khác thì phải 20 năm sau nữa, các ông ấy mới “đủ tuổi” để ngồi vào 2 cái ghế ấy! Nên nói cho đúng chỉ là 1 junta – tập đoàn tướng lĩnh tay sai mà thôi!

Phật giáo thời gian đầu giữ lập trường không can thiệp chính trị vốn có của họ. Nhưng trước thực trạng bị đàn áp, sát hại quá nhiều, nên họ mới phải cử người ra đấu tranh, trước sau đều bằng các biện pháp bất bạo động kiểu Gandhi! Tại thời điểm 1963, ông Trí Quang cũng chỉ 40 tuổi, trong hàng giáo phẩm Phật giáo mới ở cỡ… trung bình, các ông “boss” thực sự như Thích Tịnh Khiết, Thích Đôn Hậu, etc… vẫn còn chưa ra mặt.

1000 người chết trên chiến trường chỉ là 1 con số, đôi khi chẳng ai biết đến! Nhưng 1 cái chết như của hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu lại làm rung chuyển thế giới, đánh thức lương tâm loài người! Rất nhiều lực lượng khác nhau, gần như là toàn XH: 1 số là CS, 1 số thân CS, 1 số có liên hệ với CS, 1 số chẳng dính gì đến CS, tất cả đều cùng đấu tranh, đó là phản ứng chung, hiển nhiên trong tình trạng XH dầu sôi lửa bỏng!

Nên nói các bạn “ba que”, người Mỹ không hiểu Việt Nam đã đành, các bạn mang tiếng là người Việt Nam, sống trong lòng dân tộc, mà các bạn chẳng hiểu éo gì về dân tộc. Đương thời, các bạn chẳng đại diện được cho đa số dân chúng, còn đến lúc thua rồi cũng không biết vì sao mà thua, lại còn cay cú đơm đặt, hoang tưởng! Cũng còn may là đất nước, dân tộc này vẫn còn những nguồn nội lực âm thầm & thâm hậu khác!

thích trí quang

高高山上行船
深深海底走馬

Cao cao sơn thượng hành thuyền, Thâm thâm hải để tẩu mã.

Cao cao trên đỉnh núi ta chèo thuyền, Sâu sâu dưới đáy biển ta cỡi ngựa.

ại lão Hoà thượng Thích Trí Quang đã về cõi Phật, giới trẻ bây giờ còn không biết người này là ai. Người ta chụp lên đầu ông đủ thứ “mũ” khác nhau, bên thì gán là CS, bên thì nghi là CIA, người khác nữa thì cho là đại diện “bên thứ 3”, vâng vâng. Riêng ông thì bảo: “Càng nhiều mũ càng tỏ rõ thật không có mũ nào. Trái lại, càng nhiều mũ càng tốt…” Và tôi cũng nghĩ như vậy, trước sau, ông chỉ có 1 cái mũ ni tu hành đó mà thôi!

Lại nói, đám bô bô cái mồm, cái gì mà… “Tiết trực tâm hư” – 節直心虛 (lòng ngay thẳng, tâm trống rỗng như đốt tre) chẳng những không có tư cách để hiểu con người này đã đành (và đã phải nhận lãnh nghiệp chướng vì không hiểu sức mạnh thâm trầm của đạo pháp), mà rất nhiều người khác cũng không hiểu ông nốt. Trong một thời đại mà người ta phải “chọn phe”, đứng giữa 2 làn đạn như ông là 1 bản lĩnh phi thường!!!

nguyễn văn bảy

hông nhiều người biết đây là phi công chiến đấu số 1 VN mọi thời kỳ! Nổi tiếng với lối áp sát bắn ở cự ly 200, 300 mét, khoảng cách đó trên không cũng giống như dưới mặt đất, bộ binh bắn ở khoảng cách 2, 3 mét, không thể nào trật được! 😃 Về công danh nhiều người hơn ông, kiểu như: “Nước này còn lắm gian truân, Việc gì phải gởi Phạm Tuân lên trời?”. Về thành tích cũng nhiều người hơn, vì sau khi hạ 7 chiếc máy bay Mỹ thì bác Hồ lệnh ko cho ông Bảy bay nữa, sợ mất 1 người anh hùng. Nhưng về bản lĩnh chiến đấu – dogfight, thì Nguyễn Văn Bảy là số 1!

nguyễn văn minh

huyện về thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn (PXA) thì nhiều người đã biết và biết khá nhiều rồi. Nhưng có 1 câu chuyện khác, 1 nhân vật khác cũng ly kỳ không kém, theo một đường hướng hoàn toàn khác.

PXA là 1 điệp viên hạng nhất, điều đó không có gì phải bàn cãi. Sinh ra trong 1 gia đình công chức thuộc địa cao cấp, 1 địa chủ giàu có, được ăn học đàng hoàng. Tham gia CM năm 45, kết nạp Đảng năm 53 bởi chính Lê Đức Thọ, ông trùm nội chính VN, được hướng dẫn bởi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, 1 nhân sĩ được ông Hồ hết sức yêu mến và tin tưởng, được hỗ trợ và chỉ đạo từ Mười Hương, Tư Cang… những nhân vật tình báo chuyên nghiệp (chuyên nghiệp hiểu trong ngữ cảnh VN, chứ chưa thể so với CIA hay KGB được). PXA là 1 điệp viên hạng nhất trên mọi phương diện, định hướng hoạt động tình báo chiến lược từ sớm, được tổ chức gởi đi Mỹ học, làm việc cho những thông tấn xã hàng đầu thế giới như Time và Reuter, có quan hệ với tất cả những nhân vật tinh hoa, chóp bu của giới quân sự và chính quyền miền Nam, các nhân vật tình báo hàng đầu của tất cả các bên như William Colby, Edward Lansdale, Lucien Conein, Bs. Trần Kim Tuyến…

Còn Nguyễn Văn Minh (Ba Minh – NVM) sinh ra trong một gia đình nghèo khó đông con, chỉ mới học hết lớp 5, gia cảnh khó khăn và sức khoẻ kém, đã từng muốn vào chiến khu tham gia CM nhưng không thực hiện được (cũng vì lý do sức khoẻ). Cho đến năm 54, cái gọi là “hoạt động CM” của ông chỉ dừng lại ở mức “cảm tình viên” ở cấp quận, huyện, chủ yếu là cung cấp những tin tức thuộc loại làng nhàng. Hoạt động tố Cộng, diệt Cộng của Ngô Đình Diệm những năm 55, 56 làm nhiều tổ chức, đường dây bị vỡ, NVM mất liên lạc suốt gần 10 năm. Một số lần đường dây được nối lại, nhưng rồi lại đứt. Những hoạt động của ông giai đoạn đầu chưa thể xem là tình báo, chỉ mới ở mức độ thông tin cấp thấp. Năm 55, ông học đánh máy chữ, chủ động bán nhà lấy tiền hối lộ để được vào làm nhân viên đánh máy ở Bộ tổng tham mưu chế độ cũ, hàm “thượng sĩ nhất”. Đây là bước đi đầu tiên chứng tỏ ông có một kế hoạch, một bài bản để làm tình báo chuyên nghiệp.

Trong suốt 18 năm, từ 1955 đến 1973, NVM tìm cách nối lại đường dây liên lạc với tổ chức, nhiều lần không thành công. Một số lần thành công thì cái vị trí, cấp bậc quá thấp của những người trong đường dây làm cho những tin tức của ông không được đánh giá đúng, mặc dù theo như lời NVM, ông đang “ngồi trên một núi vàng”, vì rõ ràng cái vị trí dù chỉ là nhân viên đánh máy trong Bộ tổng Tham mưu cho phép NVM tiếp cận với những thông tin thuộc loại tối mật. Không mất kiên nhẫn, trong suốt 18 năm đằng đẵng, NVM tìm cách liên hệ và chờ đợi cái ngày mà người ta đánh giá đúng những thông tin mà ông có thể cung cấp! Không biết chắc là vì những lý do gì, nhưng mãi cho đến cuối năm 1973, mạng lưới điệp báo A.3 mới chính thức được thành lập, và 1 dòng chảy thông tin trực tiếp từ Bộ tổng Tham mưu được hình thành. Người ta bắt đầu đánh giá đúng về giá trị của tình báo viên NVM, dù chỉ trong khoảng 1 năm rưỡi cuối cùng của cuộc chiến.

Nhà nghèo với 10 đứa con, lương của một “thượng sĩ nhất” không đủ nuôi chừng đó miệng ăn. Nhưng ngày nào ông cũng làm việc 15, 16 tiếng chép tay lại toàn bộ thông tin để đưa ra ngoài. NVM học thêm tiếng Anh chừng 1 năm để có thể copy được tài liệu tiếng Anh, và như ông có nói: tôi ít học, không đủ trình độ để phân tích, đánh giá thông tin, tôi chỉ làm 1 việc nhỏ nhoi, nhưng làm rất tốt! Có lần, tổ chức đưa 200 000 để ông mua chiếc xe máy để tiện cho việc đi lại, liên lạc. NVM mua chiếc xe Honda 67 hết hơn 100 000, trả phần còn lại! Sau này được hỏi về hành động đó, sao không giữ lại tiền mà nuôi 10 đứa con, ông trả lời: “tôi không bán tin, tôi cũng làm CM như các anh thôi!” Cách trả lời cho thấy ông ấy hoàn toàn ý thức về vai trò cũng như giá trị của một điệp viên hạng nhất! Chất lượng của những thông tin ông ấy cung cấp không phải bàn cãi, khi sau 75, người ta thăng anh “thượng sĩ” lên đại tá, và trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Tóm tắt về nhân vật, để thấy rằng NVM không có những gì PXA có: không sinh ra trong 1 gia đình truyền thống giàu có, không được học hành đầy đủ, thậm chí không có được sức khoẻ tốt! Không được “giác ngộ cách mạng” với những nhân vật lão thành hàng đầu như Lê Đức Thọ, Phạm Ngọc Thạch, không được hỗ trợ bởi 1 đội ngũ điệp báo hạng nhất như Mười Hương, Tư Cang, không được định hướng và đào tạo về hoạt động tình báo bài bản từ sớm như PXA. NVM khởi đầu chỉ là một “cảm tình viên” cấp quận, huyện, và hầu như không có một tiếp xúc, định hướng, huấn luyện nào về nghiệp vụ tình báo! Đôi lúc có cảm tưởng rằng, mọi đường đi nước bước là tự ông ấy tính toán lấy, từ việc vào làm ở Bộ Tổng tham mưu, cho đến việc móc nối, chờ đợi 18 năm để người ta có thể hiểu đúng giá trị của mình! Và thậm chí có cảm giác rằng, trong nhiều năm, người ta không tin tưởng NVM, có thể vì ông ấy không nằm trong diện được đào tạo, được “quy hoạch”.

Sự thực là suốt 20 năm hoạt động tình báo, NVM chưa bao giờ là Đảng viên, ông chỉ gia nhập đảng CS sau 1975, 1 bước “thủ tục” cần thiết để có thể thăng ông ấy lên đại tá và trao tặng danh hiệu Anh hùng. Nhiều sự việc nằm ngoài hiểu biết của tôi, hay có điều gì “một nửa sự thật” mà ngành tình báo đến giờ vẫn không thể nói ra!? Trong suy nghĩ của tôi, điều đó gần như là không thể, khi con 1 nhà lao động nghèo ít học, không có được bất kỳ tiếp xúc gì với các thành phần “lý tưởng”, “tinh hoa CM”, gần như không được hướng dẫn, hỗ trợ bởi một tổ chức! Gần như là đơn phương, đơn tuyến, tự mình vạch ra đường đi nước bước, tự mình liên hệ và chờ đợi để người ta hiểu đúng về giá trị của những thông tin mà mình cung cấp! Lòng yêu nước “thuần thành” hay còn điều gì khác!? PXA đã là 1 câu chuyện ly kỳ, NVM là 1 điều kỳ diệu! Dân tộc VN tồn tại được qua nhiều biến động của lịch sử vì có những điều kỳ diệu chưa thể được lý giải đầy đủ như thế!

bắc hành – 2016, phần 45

Chặng 45: Vịnh Mốc ❯ tt. Cửa Tùng ❯ tt. Cửa Việt ❯ tx. Quảng Trị ❯ Hải Lăng ❯ An Lỗ ❯ Sịa ❯ Bao Vinh ❯ tp. Huế

Bắc hành 2016 p1
Mai Châu, Mộc Châu 2016
Điện Biên 2016
Lai Châu 2016
Hà Giang 2016
Cao Bằng 2016
Lạng Sơn 2016
Bắc Ninh 2016
Ninh Bình 2016
Bắc hành 2016 p2

hé thăm địa đạo Vịnh Mộc, Vĩnh Thạch, Vĩnh Linh. Điều đặc biệt là huyện Vĩnh Linh có nhiều xã là đất đỏ bazan (một số xã là đất cát), người dân trồng nhiều hồ tiêu, cao su… Cũng chính nhờ cái đất ấy nên địa đạo mới có thể hình thành được, đơn giản là với phương tiện thô sơ ngày trước, không thể đào hầm trong đất cát. Quy mô nhỏ hơn địa đạo Củ Chi nhiều…

Nhưng Vịnh Mốc có một vai trò khác biệt, là điểm gần với đảo Cồn Cỏ nhất, con đường tiếp tế cho đảo đi qua đây, thế nên Vịnh Mốc chịu sự đánh phá ác liệt. Toàn bộ cuộc sống ở đây ngày xưa được tổ chức dưới lòng đất, nhìn tổng thể như một pháo đài 3 tầng, ngầm trong một sườn đồi, hướng ra biển cả. Bức ảnh cô du kích Vịnh Mốc ai đó chụp đến là đẹp!

Hành trình tiếp tục đi ven biển, cửa Tùng (sông Bến Hải), cửa Việt (sông Thạch Hãn)… Biển Cửa Tùng, Cửa Việt rất đẹp, bắt đầu từ nơi đây trở vô Nam, con đường di dân của người Việt ngày xưa từ phía Bắc, bắt đầu chủ yếu bằng đường biển với ghe thuyền, chứ không phải trên bộ như các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh nữa. Đất miền Trung dài và hẹp vì như thế!

Người ta chỉ đi bằng ghe thuyền đến các vùng đất có thể cư trú được dọc theo bờ biển, rồi cứ thế tiếp tục xuôi về Nam, chứ không mở rộng ra về phía núi (phía Lào). Một lúc nào đó, cùng với chiếc kayak của mình, tôi sẽ rong chơi cho bằng hết tất cả những vụng biển, đầm phá, bãi bờ, sông nước này! Đến để thấy một nụ cười hồn nhiên thật quá là xinh! 😀



bắc hành – 2016, phần 15

iện tượng rét bất thường trên toàn miền Bắc, khi tuyết rơi ở Ba Vì, ngay gần Hà Nội chứ không phải chỉ ở Sapa, Mẫu Sơn, Y Tý, Bát Xát… như các năm trước, nhiều nơi đã xuống độ âm. Thời tiết ở Điện Biên ngày này thấp nhất 3℃ vào giữa trưa, lạnh hơn cả năm ngoái cũng tầm này lúc tôi ở Sapa, trời mù, mưa lâm thâm, nhưng thật ra vẫn không quá khó chịu.

Thời tiết thật lý tưởng để đi bộ tham quan khắp cánh đồng Mường Thanh, cho cơ thể được vận động chút, thay vì đi xe máy: sông Nậm Rốm, cầu Mường Thanh, hầm chỉ huy của tướng Christian de Castries, đồi A1 (Eliane 2)… Đã đọc khá nhiều đầu sách về Điện Biên Phủ, nhưng phải đến tận nơi đây, chui vào các lô cốt và các đường hầm, thì mới hiểu được tại sao…

Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau này là thượng tướng) phải mất hơn 50% quân số của trung đoàn 174, đại đoàn 316 (chỉ mới tính số hy sinh, chưa tính số bị thương) và 36 ngày đêm ròng rã mới chiếm lĩnh được ngọn đồi này! A1 đổi chủ không biết bao nhiêu lần trong suốt 36 ngày đêm đó, mỗi bên chiếm một nửa, giằng co qua lại trong phần lớn thời gian!

Gần đỉnh đồi, cái hố cực lớn tạo ra bởi một tấn thuốc nổ, chỉ bằng cách đào đường hầm sâu vào trong thân ngọn đồi, đặt thuốc nổ để thổi bay nó đi thì đồi A1 mới thực sự bị đánh bại. Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến thắng bước ngoặt ở đồi A1 này, số phận của trận chiến Điện Biên đã được định đoạt. Lịch sử đã được viết bằng máu như thế đó!



bắc hành – 2016, phần 14

hăm bảo tàng Điện Biên, một công trình có phần hơi đơn giản, sơ sài, thiếu chi tiết, so với một sự kiện tầm cỡ như trận Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng nằm ở ngay trung tâm thành phố, bên trên một quả đồi cao (đồi D1, Dominique 2), cái công trình kiến trúc – điêu khắc ấy… không gây được trong tôi bất kỳ một cảm xúc thẩm mỹ nào, dù là nhỏ nhất!

Điều hứng thú duy nhất là đứng trên đỉnh đồi này, có thể nhìn ra bao quát toàn bộ cánh đồng Mường Thanh (không quá rộng lớn) và nhìn xuống trung tâm thành phố, những ngọn đồi bao quanh với mây mù vần vũ, một cảnh tượng rất ngoạn mục! Có cảm giác mọi quy hoạch đô thị ở cái thành phố này đều xoay quanh chủ đề… trận chiến Điện Biên Phủ.

Các loa phóng thanh khắp các phố phường vẫn hàng ngày loan tin, tạo ra một cái không khí như là… của thời bao cấp, hơn 30, 40 năm về trước! Đến cả cô hướng dẫn viên bảo tàng vẫn khóc mỗi khi thuyết minh cho du khách nghe về trận Điện Biên và Đại tướng. Không có ý bất kính, nhưng tôi đoán rằng mỗi ngày, cô ấy khóc khoảng chục lần như thế! 😬

Tin về nửa đêm, hoả tốc, hoả tốc! Ngựa bay lên dốc, đuốc chạy sáng rừng… Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…. Không cần phải nhờ đến tượng đài hay bảo tàng, lịch sử ngày xa xưa ấy tự nó đã là một điều vĩ đại! Dừng chân Điện Biên ít ngày trước khi bước tiếp hành trình!



17 tháng 2…

nh ở Lào Cai, Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Tháng hai mùa này con nước, Lắng phù sa in dấu đôi bờ. Biết em năm ngóng tháng chờ, Cứ chiều chiều ra sông gánh nước. Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt, Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong. Đài báo gió mùa em thương ở đầu sông, Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét. Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết, Tay em ngập dưới bùn lúa có thẳng hàng không? Nếu chúng mình còn cái thủa dung dăng, Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy. Em ra sông chắc em sẽ thấy, Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông… Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng, Nếu gặp dòng sông ngầu lên sắc đỏ, Là niềm thương anh gửi về em đó, Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh! (Gửi em ở cuối sông Hồng – Dương Soái)

Gởi em ở cuối sông Hồng - Anh Thơ, Việt Hoàn 

Đêm tháng Năm vào bình độ bốn trăm, Đoàn xe trôi êm êm, tầm đại bác. Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc, Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu!? Lắc lư xe quan tài vượt về sau, Máu dỏ xuống đường cuốn vào cát bụi. Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi, Tốp thương binh bê bết máu mặt mày. Đám cướp kia Thánh, Phật dạy ăn chay, Chẳng kiêng gì ngày rằm mùng một. Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt, Tưới máu người cướp, giữ đất biên cương. Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân, Ông bảo rằng: sống chết thời vận số. Cả trung đoàn ào ào như thác lũ, Bình độ Bốn trăm bình địa trận người. Những chàng trai sống chết trận này ơi! Mưa đổ xuống ông trời tuôn nước mắt. Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất, Người trở về ăn, sống, ở ra sao? (Bình độ bốn trăm – Nguyễn Mạnh Hùng)

7554 – the điện biên phủ game

game to be published this October, to be precise, the first Vietnamese FPS (first person shooter) 3D game, and you know what it’s about, the famous Battle of Điện Biên Phủ. The game features 4 main characters, all joined the anti – colonial – French movements from the very early days, participated in various operations before arriving at the final confrontation at Điện Biên Phủ. Not yet to be released, but below are some nice preview screenshots. Having some experiences with game engines, I could say that PC 3D games nowadays are not that hard as before.

They are not really about low level graphics techniques, you would rarely even touch to OpenGL (or DirectX), the engines support most elements you would need. To make a game interesting, it is more about storyboard, scene building, animation, physical modeling and game AI. Anyhow, this is an interesting and promising project, since not only it’s the 1st real FPS game made in Vietnam, but also the first game that takes its inspirations and stories from our history!

cq – 88

ức tranh này do cậu bé TKXuyên vẽ năm 1988, màu nước trên giấy, hiện vẫn treo trong phòng làm việc của mình (mọi người đừng cười một người chưa bao giờ có khiếu vẽ vời gì dù chỉ là một chút xíu). Dĩ nhiên là tôi còn nhớ rất rõ là vẽ vì những lý do gì, trong bối cảnh như thế nào. Mọi người hẳn chưa thể nào quên sự kiện CQ – 88 mà ngay cả một cậu bé 9 tuổi là tôi lúc bấy giờ cũng từng ngày dõi theo. Nghĩ mà buồn, đến nay hơn 20 năm rồi mà mọi chuyện vẫn thế. Dòng chữ đề trong bức tranh: Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ, Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong, cụ Nguyễn Công Trứ có sống lại mà nhìn bối cảnh bây giờ… 😢

bare feet, iron will

ne more item in my to – be – read list: Bare Feet, Iron Will, by James Zumwalt, a retired Marine lieutenant colonel, son of the Vietnam war’s time US Navy’s Admiral. The book has recently been translated and published in Vietnamese. Though I haven’t got an English copy in hand, my interests rose after reading this interview with the author. Just like Archimedes Patti’s book Why Vietnam?, I would expect stories from intermediate – level officers to contains a lot of facts, events, numbers… that gives details into the things that happened, and offers closer, truer look into the figures involved, unlike those of high – level cadre supérieur (a.k.a politicians).

The author recently gave an interview with Vietnamese presses, in which he confirmed that his book was inspired by The sorrow of war, Bảo Ninh’s novel. He loves the novel and dedicates part of his book to write about this Vietnamese fiction and its author. I knew some 20 years ago that The sorrow of war would be a very profound impact (read more about it in my another post here). It’s just ridiculous that the VN government once forbade (and still limits) the novel, permits it to be appeared on news on occasions only to serve some political purposes, this time is a step toward tighter relation with the US. Below is some notable remarks from the author, James Zumwalt interviews:

Was the loss of a loved one any less significant just because it occurred on the other side of the battlefield? …It just opened my eyes to the fact that we have to recognise that our suffering is mirrored on other side.

When I made my second trip, one of the first places I went to was the Hanoi war museum. And there they had a section devoted to war criminals – one of whom was my father for his use of Agent Orange. (Asked: How did he react to being a war criminal?) He kind of smiled and said: Well it’s a good thing they didn’t arrest me when I was there.

In one case, a doctor told his wife he would probably be gone for six months to a year. He was gone for eight years, and only got back to visit his wife once… Many of those I interviewed had difficulty pinpointing particular years, but they could tell me if it was in dry or monsoon season. That was the way they looked at it. The year didn’t matter. That shows the mindset they operated under.

There were some 1,400 mothers who lost three or more sons in the war. I think we’d be hard pressed in this country to find more than a handful of mothers who lost more than one son in Vietnam. They considered it a sacrifice they had to make.

In the interviews I did with hundreds of NVA / VC I asked them what their motivation was. It was not communism but rather it was nationalism and the desire to reunify the country… I believe it is part of the Vietnamese people’s DNA. To them, there was never any alternative, they just had to prevail.

Look at the Vietnamese who defeated the Japanese in 1945, the French in 1954, the Americans in 1975, and again the Chinese in 1979, I don’t think we realised we were probably fighting against Vietnam’s own Greatest Generation. (yes we sacrificed our best seeds in those wars, you know what the sh… is left as of today! 😢)

un vietnamien bien tranquille

aving a time to read some notable documents: The spy who loved us – Thomas Bass, and The perfect spy – Larry Berman. At first, I’d thought: oh, all these stories I’ve knew quite well already, there’s no need to read more. But then I considered it’s good to be reflective, reading the same stories in another language, from other points of view.

I’d read these two books (in English), which contains quite some interpreting errors (most of them are unintentional I think) then I proceeded to their Vietnamese translations (which are really bad, lots of linguistic mistakes), but again another reflections of reflections. All readings confirmed my understanding about the Vietnamese legendary intelligence agent Phạm Xuân Ẩn, whose role is now recognized as crucially decisive in the second IndoChina war.

Espionage and Journalism

As the first IndoChina war was approaching its end, the Việt Minh leaders knew that it’s just a matter of time before the American get their hands in. They had lived and fought with the French long enough that they had extensively well understanding on their enemy, the same is not true for the Americans. During the 9 years of the first IndoChina war, Ẩn had already worked against the French, under his cousin Phạm Xuân Giai, head of South Vietnam’s Cinquième Bureau – department for psychological warfare, who was working for the French’s Deuxième Bureau.

In 1957, Phạm Xuân Ẩn was ordered to go to the States, studying journalism (as a cover), learning their language, culture, their way of thinking… a preparation that later turned out to have devastating effects. During the time in America (and even long before), Ẩn has developed a sympathy (if not admiration) for American people and culture, and at the same time, touting his horns in a war to come against them.

These two professions were very contradictory, but also very similar. The intelligence job involves collecting information, analyzing it, and jealously keeping it secret, like a cat covering its droppings. The journalist, on the other hand, collects information, analyzes it, and then publishes it to the world. (Phạm Xuân Ẩn)

Information and disinformation

Upon coming back (1959), Ẩn worked for several presses: Việt Tấn Xã, Reuters, Time… Among all journalists in Saigon at the time, Ẩn is considered to be the best informants: new – comers introduced with him for guidances, seasoned ones seeked him for tips. He had various sources in the governments, army officers, secret polices… he had the best ears on the ground for everything. He is dubbed: “the weatherman” who foretell the political atmosphere, generals consulted him before planning coup d’état, the Buddhist monks informed him in advance if they prepare a protestant self – burning.

He made very good friend and closed cooperation with Edward Lansdale, head of IndoChina CIA division, the legendary agent nick – named: the king – maker, who manipulated every puppets on the Southern political stage, yet Lansdale had never doubted it. People was thinking he could be a CIA agent, a French sûreté, a South VN secret police, or he could be both. But none ever thought of him working for the Red NLF.

After the war, upon learning about the fact, some of his colleagues have tried to prove that Ẩn could had been giving disinformation at times. In fact, all his written records at the Time magazine (where he worked for 10 years) proved the opposite. Had he done it, with all the overwhelming clandestine agents among the presses, things could have easily been cross – checked and that would betray Ẩn, the espionage. And he of course hadn’t made those preliminary mistakes.

The source had given me the story on condition that I shouldn’t reveal it before it happened. These are the ethics of the press. You have to observe them, no matter how tough it may be. These are also the ethics of an intelligence agent who knows the propaganda value of burning monks. (Phạm Xuân Ẩn)

Balance and Objective

One thing Ẩn learned in American news career is that: a writing must be well – balanced, not biased in any directions, and at the same time it has to be objective, giving useful information to help coming to some helpful conclusions. Yet the two are usually contradictory. Similarly, questions have been raised about the nature of a man who lived an extremely dangerous double life for 30 years, about the one who deeply admires American culture but fiercefully fights against them.

In fact, Ẩn made true friend to many American journalists, help them in many cases, many of whom still love him even after learning that he was a spy. Many would recall how he saved the life of Robert Sam Anson, the war correspondent who was arrested by the VC in Cambodia. Ẩn came closest to getting discovered when he promised to Anson’s wife (who was begging for help) that he would do everything he could, a dangerous remark which implies he really could do something. Anson was later released as per request Ẩn made to his superiors, a truth Anson would only know for sure years later.

He was a man of wisdom, courage, and clear – headed patriotism. He was also – even if it seems ironic to say this under the circumstances – a man of extraordinary integrity. He loved us at our best even while confronting us at our worst. (Daniel Ellsberg)

Strategy and Tactic

A pattern in Ẩn’s stories, as usual, as an amusing raconteur: I’m a strategic analyst, I was concentrating on background information and situation assessment. Yet it’s a reason he gives in order not to get into too much details that he wouldn’t want to release even in the next 50 years: that’s related to too many people, many have died, but some still alive with their relatives, there’s no reason to cause harm to them anyway (Ẩn has always been loyal and protective to his information sources, from either sides, many of which is built upon personal relations).

But Western researchers found this an “undeniable fact”: he’s been awarded with 16 medals, among which 2 are general (one “Hero of the People’s Army” medal, the highest military award in VN, and another medal for “50 years of Party’s service”), the other 14 are all credited to specific battles, 4 of which is apparently known: the Ấp Bắc battle (1963), the Tết offensive (1968), the Lam Sơn 1972 operation, and the final 1975 campaign. That gives some obvious hints on his role as a tactical adviser who devised detailed tactics to be used in various battles.

He would have had enough knowledge of the battlefield tactics, rules of engagement, logistics and battle – readiness of both the Vietnamese and Americans in that area at that time to give pretty good advice on the way to set up a trap for them. Certainly Ấp Bắc had the hallmarks of a trap. (Nick Turner)

Nguyễn Văn Tào (nom de guerre: Tư Cang), head of the H.63 spy ring, direct ‘boss’ of Phạm Xuân Ẩn, famous for his ability of pistol shooting with both hands, and never miss a shot.

Phạm Xuân Ẩn (nom de guerre: Hai Trung), the strategic analyzer whose information, documents, assessments… greatly changed the pace of war.

Nguyễn Văn Thương (nom de guerre: Hai Thương), one of the couriers who run Ẩn’s messages. He was arrested, tortured, both his 2 legs were cut off six times, each without any narcotic. He could had saved his life, but he chose to save the network.

How could someone so voluble and open about his life be a spy? How could someone so funny and pointed in his remarks about human stupidity be a Communist? …He was a divided man of utter integrity, someone who lived a lie and always told the truth. (Thomas Bass)

Communists and Nationalists

This is the point of hatred conflicting among Vietnamese communities for so many years. My point of view, which is also reflected tho – throughly throughout the books (can be seen as 2 American views) is that: the communists, they had an ideologue (no matter right or wrong it could be), and they had determinations. On that basics, they’d had detailed planning and extensive efforts to carry it out, and they’d made sacrifices to carry it out to the end. The same is not true with the so called southerners’ nationalism.

As long as the Americans were pumping money in, the Southern government staffs were trying to steal as much as possible, and pretend to be supportive to the Americans’ causes while avoiding fights and casualties on the battle fields. They’d lost, as they presented nothing, not nationalists, not even anti – communists, but only their own personal and family’s interests. The consequence can be seen clearly: the majority of southern people took side, they have always been sympathetic to the Communists’ national independence causes, although they’re not communists.

Communism and Patriotism

It would eventually become clear why so many people have made extreme efforts and sacrifices, it was not because of any ideology. Of the total 43 members of the H.63 espionage network, 25 were captured, tortured, many of them chose to die, but the network remained unbroken. They were couriers, who in 15 continuous years, ran the total 498 messages (reports) from Phạm Xuân Ẩn to the Iron Triangle Củ Chi, from where it would be delivered directly to the Politburo in Hà Nội. Ẩn always kept an poison pill in his pocket, ready for a death that was hanging over him for those 15 years.

Many who survived the war found themselves disillusioned with the post – war living, finding that the new regime has become even more corrupted than the previous one, and that is not what they were fighting for. Yet they were fighting not for any individual, any ideology, any government… Many failed to realize it is patriotism in the truest and deepest meaning! Phạm Xuân Ẩn to the last year of his life, works as an consultant to TC2 (the Vietnamese equivalence of Deuxième Bureau), who doesn’t understand and doesn’t trust him, but badly need his razor – sharp analyses and assessments.

Lessons learnt

If something can be learnt from Phạm Xuân Ẩn’s life, it’s something about cultural understanding. While most VC has very limited knowledge about American culture and values, they’d succeeded in cultivating at least one spy who could think like an American, a spy who loved Americans and was loved by them in return. That way he can get deep into the adversary’s mind and soul, and know the way to defeat them.

It’s all about understanding, the French had stayed in Vietnam for a considerable amount of time, they’d learnt to divide and conquer the Vietnamese, a job they’d done excellently. It took a few generations to absorb their culture, to gain enough understanding to have successful retaliations. What the American had done in Vietnam to some extent was repeating things the French had done already, in a far larger scale.

Those above are indeed the small part of the lessons. Ẩn said: the American are very good at collecting and analyzing information, but they don’t know what to do with them (at least in scopes of the Vietnam war). Similarly, we can say: the Vietnamese know how to obtain a victory (or it supposes to be called so), but then they don’t know what to do with it. Phạm Xuân Ẩn in person is a talkative one, he can talk about his thinking all day.

But as a spy, a strategic analyzer, he is actually a very quite Vietnamese, who had much more profound thoughts and understanding but can’t say it out. Lots of our own problems are briefly reflected throughout the American books, but they’re not recognized tho – throughly by our own people… Things get passed silently in our sleeping – pleasing minds until another war, another revolution that is… just pending.

The spy who loved us – Thomas Bass (pdf.tar.gz) (mobi.tar.gz)

Perfect spy – Larry Berman (pdf.tar.gz) (mobi.tar.gz)

diệc lạc hồ

双鸟齐飞

黄莺飞到北京都
会遇金鹏亦乐乎
大事未成行小事
双鸟齐飞至善图

Song điểu tề phi

Hoàng Oanh phi đáo Bắc Kinh đô, Hội ngộ Kim Bằng diệc lạc hồ! Đại sự vị thành, hành tiểu sự, Song điểu tề phi chí thiện đồ!

hân kỷ niệm 60 năm quốc khánh nước CHND Trung Hoa (1/10/1949 ~ 1/10/2009), trích đăng lại ở đây bài thơ của một nhân viên ngoại giao đoàn Việt Nam (đăng trên Tạp chí Sông Hương, 2002): Bài thơ thể hiện tình hữu nghị cao quý của nhân dân hai nước Việt – Trung. Bài thơ được làm năm 1991, sau một thời gian dài 10 năm (kể từ 1981), khi hai nước tuy không còn những đối đầu quân sự lớn, nhưng hai bên vẫn tiến hành một đường lối tạm gọi là artillery diplomaticngoại giao pháo binh – chân lý, lẽ phải đứng trên đầu nòng đại bác.

Các địa danh đẫm máu như Vị Xuyên, Ngọc Đường, Lũng Cú… những người từng bám trụ 10 năm ở đó đến nay vẫn nhiều người còn sống, vẫn còn kể lại chuyện ngày xưa ở đâu đó quanh đây. Trở lại với bài thơ, năm 1991, một đoàn ngoại giao VN sang TQ, những bước đi đầu tiên của tiến trình bình thường hóa quan hệ. Trưởng đoàn phía VN là ông Vũ Oanh, trưởng đoàn phía TQ là ông Lý Bằng.

Cả “Oanh” và “Bằng” đều là tên của hai loài chim (không giống nhau), như được thể hiện rất rõ trong bài thơ trên đây: Song điểu tề phiĐôi chim cùng bay. Không cần phải biết chữ Hoa, đọc phiên âm Hán Việt hẳn mọi người cũng sẽ dễ dàng hiểu nội dung bài thơ! Chúng ta thấy lại cái điệp khúc Diệc lạc hồ ở đây! Diệc lạc hồ (hay Bất diệc lạc hồ) đều có thể hiểu theo nhiều kiểu: vui lắm thay, há không vui hay sao… hay theo phương ngữ miền Nam: vui quá hén! 😬

tiens bien fou

Le Chant des Partisans (or in English: The guerrillas’ song) was a famous French song, widespread among members of France’s resistant movement against the Nazi, many of whom later fought at Điện Biên Phủ battle, including De Castries, Langlais, Bigeard… The guerrillas’ song was once used by French against the Nazi, now ironically used by Vietnamese fighting the French.


Éliane-2 hill nowadays, vestige of the blew-away top.

ay, 6th, 1954, 11 PM: Nguyễn Hữu An, commander of the 174th regiment, 316th division, ordered the last attack on the Éliane-2 height (Vietnam nomenclature: A1 hill). The hill ownership has been shifted from side to side many times during the past 55 days, on the Viet Minh side, a price of about 2000 deaths was paid for the area of 2000 m2 of the hilltop. Finally, a tunnel was digged into the hill foot, one ton of TNT explosive was placed in to blow up the whole fortification. The mine blast was starting signal for the ultimate assault into Điện Biên Phủ garrison, fate of the famous battle has just been decided.

Le Chant des Partisans (Anna Marly) 

May, 7th, 1954, 04 AM

Captain Pouget, from Éliane-2 called the commanding post on radio, asking for reinforcements, the situation was hopeless. Major Vadot, in an indifferent voice, told Pouget, like a professor trying to explain a hard problem to his student: Reinforcement? Be reasonable boy, we have no more such!. Then, he ordered Pouget to destroy the radio and defend to death. Suddenly, a voice intercepted on the wave, in French, the Viet Minh radio operator said: Hold the line, please! Gentleman, we invite you one piece of music: Le Chant des Partisants. Vadot listened to the whole song, then blew 3 carbine shots destroying the device.

Later the same day, May, 7th, 1945

Gia Lâm airport, Hà Nội, a certain French drunk soldier dragging his feet on the street, crying: Quoi? Điện Biên Phủ? C’est exactement: Tiens bien fou! (kind of French playing on words, literally translated into English as: What? Điện Biên Phủ? It’s exactly: should probably go mad there).

the sorrow of war… film?

“Better to die than surrender, my brothers! Better to die!” – the battalion commander yelled insanely; waving his pistol, and in front of Kien, he blew his own brains out through his ear. (The Sorrow of War)

An un-put-down-able novel. It should win the Pulitzer prize, but it won’t. It’s too gripping for that. (The Guardian)

Dramatic… Will force American readers to acknowledge how little they still understand of the long war that left such a legacy of grief and guilt in their own country. (The Washington Post)

The Sorrow of War has won worldwide acclaim and become an international best-seller. (Amazon.com)

good news: 8th, May, 2008, The Sorrow of War novel will be turned into movie by an American director: Nicolas Simon. After 10 years of discussion and negotiation, Bảo Ninh, the novel’s author finally permitted making of the film based on his famous book. The producer, Dominic Scriven, a very passionate admirer and friend of the author, who now holds the book copyright and want to transfer it onto the silver screen. An even better news: 9th, Aug, 2008, author of The Sorrow of War novel stated that he wouldn’t have any further connection with the The Sorrow of War movie project.

The reason given is: film’s script is not aligned with the author’s ideas. In fact, many people is doubtful that an unnamed director would be capable of working on such a great novel, although the producer (Dominic Scriven) ‘s goodwill is widely recognized! The movie project is now paused, in searching for another director! That’s a very good thing in my opinion, in the fear that we would have another history distortion (or even worse)! A picture is worth a thousand words? That’s not always true, think twice (or read the book)! In this case, words are worth thousands of pictures (or a movie)!

The novel is, more or less, an semi – autobiography. Bảo Ninh himself (or the protagonist Kiên in the novel) was a soldier in the 24th battalion, a special formation commissioned to the B3 front (central highland) in 1969. Of the unit’s 500 man, he is among the only 10 survivors. The story is an nonlinear scatter of memories, mixed the past with the moments of post-war time: childhood, a high school’s love story, the battles, and importantly lives after war.

The Sorrow of War is without doubt timeless. Perhaps it is one of the world’s greatest war novels ever written. Imagine the film Apocalypse Now and increase its effect, say by a factor of a thousand – this is the power of Bảo Ninh’s writing. I remember shivers in my spine when first reading the book, some 15 years ago! Just surf around some online bookstores, to see what readers have said about the book:

  • If this book doesn’t make you cry, you have no soul.

  • It’s definitely not a book for everyone, and I nearly put it down during the first 50-60 pages. But, I soon became wrapped up in the story and the language.

  • Books usually lay with me on my bed and after their formal end we sleep together for a few days but after the last sentence I promptly put this right back on my shelf and am having trouble thinking about it again. I had horrible nightmares during the read.

  • This book is amazing. The story progresses thematically rather than chronologically, and leaves you piecing together historical non-fictional events… He succeeds in taking the reader on a difficult journey of emotional and spiritual crisis, right to the core of the human condition and captures a sorrowful despair like no other literature I’ve ever read.

  • Like pouring acid on your moral center…

  • Just an excellent novel. To everybody who considers The Things They Carried the penultimate work of fiction about the Vietnam War: pick up The Sorrow of War and be prepared to be blown away by the stories of a Vietnamese.

  • In fact, my view of just about everything I thought I knew about North Vietnam from the mid-60’s to the mid-70’s was altered by this book.

  • This book is unbelievably emotional. The style of writing is unique: it is not linear or chronological in any way. It is chaotic, a reflection on the subject of the book. The writing style, though chaotic, seems to be a perfected style. The book was written with total disregard to order; there is no doubt that all was deliberate.