CMT10

Nguồn: the Romanov family albums http://samoderzhavnaya.ru

ost nhân ngày CMT10 vừa qua 😀, gia đình Sa hoàng Nga, Nicholas II trên những chiếc kayak, được biết như là người rất thích môn thể thao này, và truyền say mê đó đến cho các thành viên khác trong gia đình.

bolero












ại nói về bolero… từ nhiều năm nay, tôi khá là ngạc nhiên khi thấy những người làm chuyên môn âm nhạc cứ loay hoay như “gà mắc tóc” với cái gọi là bolero, mà không hề nhận ra, đó đơn giản chỉ là một kiểu “kỹ xảo ngôn từ”, một loại “nguỵ biện càn quấy”, “nói cho lấy có, nói cho lấy được”, chẳng hề có một tí nội dung nào. Dưới đây, tôi sẽ giải thích tại sao cái gọi là “bolero” chỉ là một hình thức nguỵ biện dạng thô thiển nhất!

Giáo dục âm nhạc là một quá trình dài, mỗi người có sở thích riêng của mình. Nên xin nói ngay từ đầu là tôi tôn trọng sở thích tự do của mỗi người, trong chừng mực nó đừng vi phạm sự tự do của người khác! Nhưng khi đã biến thành một trào lưu xã hội, một trào lưu kệch cỡm và lố bịch thì cần có những tiếng nói để cho những đầu óc mê muội tỉnh ngộ ra, nhận ra căn nguyên, lịch sử của căn bệnh để mà có giải pháp trị liệu!

Đầu tiên, bolero chỉ là tên một tiết điệu, cũng như: valse, rumba, slow, pasodoble, etc… Không phải âm nhạc nào cũng có thể phân loại thành tiết điệu, các loại âm nhạc càng “bác học”, càng phong phú, thì càng khó gom vào một nhóm cụ thể. Tiết điệu thường dùng cho các loại âm nhạc tương đối ngắn, đơn giản, để người ta dể khiêu vũ hơn, thế thôi! Chẳng ai đi hỏi câu ngu xuẩn: bản giao hưởng Định Mệnh của Beethoven là điệu nào?

Tiết điệu chỉ là một chỉ dấu kỹ thuật, ngoài ra không có nội hàm gì khác! Beethoven viết một số bản nhạc theo điệu valse, Dương Thiệu Tước cũng viết một số bản nhạc theo điệu valse. Người ta sẽ nhìn anh như kẻ khùng nếu bảo: DTT viết chung một thể loại nhạc với Beethoven, hay nói rằng: DTT là tiếp nối truyền thống từ Beethoven. Chẳng ai lại đi phân loại âm nhạc dựa trên một chỉ dấu kỷ thuật nhỏ nhoi, chẳng có ý nghĩa gì như vậy!

Bắt đầu từ một cái “định nghĩa” không thể “tào lao, ba xàm” hơn như thế, tiếp theo đó là các hình thức “chụp mũ”, “vu vạ”, “nhận vơ”, thôi thì không thiếu một điều gì. Như Hoàng Thi Thơ viết đa số các bản nhạc của ông theo điệu rhumba, cũng bị nhận vơ là “bolero”, rồi Hoàng Trọng viết phần lớn các tác phẩm theo điệu tango, cũng bị vơ vào “bolero”. Ngay cả những ca khúc được xem là “bolero” nhất, thực sự có bao nhiêu bài đúng là bolero!?

Các NS Cung Tiến, Vũ Thành An… hẳn rất buồn nếu cái thể loại nhạc vừa bước ra từ cửa Nhà thờ của các ông ấy bị xem là bolero. Lê Thương với trường ca Hòn Vọng Phu và rất nhiều bài mang âm hưởng dân ca khác hẳn cũng sẽ băn khoăn tự hỏi bolero là cái gì, và tại sao mình bị chụp mũ như vậy!? Riêng Trịnh Công Sơn chắc hẳn yên tâm hơn một chút, khi các giai điệu thuần tuý thất cung – Tây phương của ông hơi khó gán mác bolero!

Tiếp theo, khi không thể định nghĩa “bolero” bằng những yếu tố kỹ thuật, nhạc thuật, người ta bắt đầu lấp liếm rằng bolero không phải là một điệu nhạc, mà là một dòng nhạc, với những đặc trưng như: tốc độ chậm, giai điệu dân ca, ca từ bình dân, mang tính triết lý, vâng vâng… Xin nói luôn, cái gọi là “dân ca” chắc chắn không có được mấy phần ngàn đâu, có chăng là kỹ xảo âm thanh để tạo nên những tâm trạng “lê thê”, “thiểu não”.

Còn “tốc độ chậm”, nhiều thể loại nhạc có tốc độ chậm, bài Đôi bờ nhạc Nga cũng chậm, và bản đó cũng là điệu bolero! Còn về “triết lý”, hahaha, Phạm Duy viết Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Văn Cao viết Trương Chi, Thiên Thai, hay nhiều nhạc sĩ khác viết tình ca, chẳng cần phải có chút “triết lý” nào! Đừng cố nguỵ tạo sự sang trọng trong một thể loại vốn dĩ không hề sang trọng! Cái cố gắng “đặt tên cho em” này xem ra hoàn toàn không ổn thoả!

Ngay cả Bolero Nam Mỹ cũng không có một định nghĩa rõ ràng, thì nói gì đến bolero VN! Đi tìm đặc trưng của cái gọi là “Bolero VN” chẳng qua chỉ thấy mấy điểm sau: cấu trúc bài nhạc tối giản, thường chỉ có 4 câu, mỗi câu 4 nhịp, mỗi nhịp thường là 4/4, cấu trúc này giống vọng cổ, hoàn toàn không có các kỹ thuật hành âm phức tạp hay âm vực rộng, chủ yếu là để tạo ra các khúc nhạc “siêu đơn giản”, để cho giới bình dân dễ thuộc, dễ hát.

“Đơn giản” hay “chậm” không phải là cái tội, tội là… nhạc quá dở! Nhiều nhạc sĩ viết nhạc “đơn giản” và “chậm” nhưng vẫn hay! Từ những thuộc tính rất chung chung như thế, bắt đầu gán gép: tôi là bolero, anh cũng là bolero, tạo ra một cái “danh từ” trống rỗng để lừa nhau! Cũng là một kiểu nguỵ biện: con voi có cái đầu, con chuột cũng có cái đầu, con voi có cái đuôi, con chuột cũng có cái đuôi, thế nên… voi hay chuột thì cũng giống nhau! 😁

Từ trong tận cùng của sự ngây ngô, đơn giản như thủa hồng hoang ấy, đối diện một thế giới đã phát triển phức tạp và trình độ nhạc thuật đã đi đến tận những đâu đâu, không có khả năng hay không hề muốn mở mang đầu óc ra để chấp nhận, tiếp thu cái mới, không khó hình dung rằng những con người ấy dần dần đi đến chỗ tự huyễn hoặc, tự cho rằng mình đã là “một cái gì đó”, tự nhiên sinh ra đã là có rồi, không cần phải học hành gì nữa!

Theo tôi, đây có thể gọi là một chứng “vi cuồng”, như là sự đối lập của chứng vĩ cuồng (đọc kỹ bài của GS Cao Xuân Hạo để biết thêm về một căn bệnh xã hội)! Tuy rằng mức độ nặng nhẹ có khác nhau, nhưng nguyên nhân cũng chỉ có một! Đó là cái áp lực xã hội muốn khẳng định, muốn thể hiện mình, nhưng lại không muốn bỏ công phu học hành tử tế, hoặc hoàn toàn không có khả năng, hoặc giả cũng cố học, nhưng không thấm được!

Đến đây, các bạn hẳn đã nhận ra, “bolero” thực chất là một kỹ thuật nguỵ biện, bắt đầu từ một cái “định nghĩa” không thể tào lao hơn, làm cho người ta tin rằng đó là một “thực thể” có thật, tiếp đó là các kiểu nhận càng, nhận vơ. Những kiểu người và ăn nói như thế, họ muốn trở thành thế nào thì họ là như thế, tự biến thành ông hoàng, bà chúa (trong tưởng tượng), tuỳ tiện thêm bất kỳ nội dung gì vào một cái định nghĩa trống hoác cũng được.

Vậy phải gọi nó bằng cái tên gì? Đơn giản chỉ là một phần (chỉ là một phần) âm nhạc đô thị miền Nam những năm người Mỹ có mặt, một giai đoạn mà chính nhạc sĩ Phạm Duy (một người không CS) phải nói rằng: về mặt xã hội là cả một sự đổ vỡ về luân lý, sự mất niềm tin, tôi gọi thời kỳ này là thời kỳ sợ hãi, hoài nghi và khinh thị (le temps de la peur, du soupcon et du mépris). Thời kỳ nào thì có thứ âm nhạc đó, chỉ đơn giản vậy thôi!

Và nói “chỉ một phần” đúng là như thế, cùng trong giai đoạn lịch sử đó, Phạm Duy viết Tâm ca và Tâm phẫn ca, Tôn Thất Lập và phong trào “hát cho đồng bào tôi nghe”, Thích Nhất Hạnh làm thơ, diễn thuyết và tổ chức biểu tình bất bạo động, còn nhiều lắm… ai cũng có một phần thái độ và hành động của mình, không riêng gì người CS. Chỉ có những kẻ “bolero” là tìm cách ru ngủ, lãng quên ngày tháng bằng cái thể loại âm nhạc vô vị, nhảm nhí!

TT –  Hoàng Trọng  

Bóng trăng xưa - TT 
Dừng bước giang hồ - TT 
Hoa xuân - TT 
Hương mộc lan - TT 
Hương ngọc lan - TT 
Một thủa yêu đàn - TT 
Muôn kiếp ngậm ngùi - TT 
Ngàn thu áo tím - TT 
Tôi vẫn yêu màu hoa tím - TT 
Ru ta ngậm ngùi - TT 

hông biết thế nào hôm nay lại có tâm trạng nghe Thái Thanh hát nhạc Hoàng Trọng… nhân tiện, post luôn một số hình ảnh Thái Thanh trên các bìa nhạc cũ. Âm nhạc của một dân tộc chỉ có loại hay và dở, chứ không có loại ngăn cách bởi địa lý và chính trị, hơi dị ứng với các kiểu “đặt tên hàm hồ” như “âm nhạc pre 75”, “âm nhạc miền Nam”, cố gắng xây dựng một cái “thực thể” không có thật, hoặc cũng có những là với các loại “èo uột”, không có tí sức sống, sức sáng tạo nào như Chế Linh, Vinh Sử, etc…

Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương, Lê Thương, Cung Tiến, Văn Phụng, Thẩm Oánh, Vũ Thành, Ngọc Bích, Xuân Tiên, Nguyễn Hiền, etc… là người Hà Nội. Đặng Thế Phong, Hoàng Trọng, Vũ Thành An, etc… là người Nam Định. Văn Cao, Ngô Thuỵ Miên, Đoàn Chuẩn, Hoàng Quý, Tô Vũ, etc… là người Hải Phòng. Tôi không nói “miền Nam” không có nhân tài, nhưng số đó trong âm nhạc không nhiều! Nói ngắn gọn là thế này: về rượu, chè, thuốc lào và âm nhạc, thì miền Nam cứ phải nhường miền Bắc! 😁

chú cuội

Chú Cuội - Thái Thanh 
Chú Cuội - Ái Vân 

Như ai đó có nói, đại ý: các tổ chức chính trị, xã hội cần 1 tấm gương, vì nó chỉ có 1 mặt phản chiếu, còn Phạm Duy, cũng như những con người tài hoa khác, là những viên kim cương, họ có không biết bao nhiêu là mặt cắt long lanh…

ài ca mà nhạc sĩ Phạm Duy viết cho vợ mình, ca sĩ Thái Hằng, hay “cô Hằng” và “chú Cuội”, trình “cưa gái” đúng là khó ai bằng 😀: Trăng soi sáng ngời, treo trên biển trời, tình ơi. Một đàn con trai, rủ đàn con gái, ra ngồi nhìn trăng. Ra nghe chú Cuội, ngồi gốc cây đa, Cuội ơi, để trâu ăn lúa, nhìn mây theo gió, miệng ca bồi hồi. Ta yêu cô Hằng, đêm xưa xuống trần…

Ca sĩ Ái Vân hát bài này ở Hà Nội những năm đầu 80, và còn hát thêm nhiều ca khúc khác của nhạc sĩ Phạm Duy. Tại một thời điểm mà âm nhạc của Phạm Duy còn bị cấm triệt để, cấm hoàn toàn trên cả nước, và tuyệt đại đa số dân chúng còn không biết Phạm Duy là ai, thì một số ít giới chuyên môn vẫn công tâm có những hiểu biết và đánh giá của riêng mình!

8 bài bé ca

Bé bắt dế - TH 
Chú bé bắt được con công - TH 
Đốt lá trên sân - TH 
Ông trăng xuống chơi - TH 
Thằng bờm không đổi quạt mo - TH 

Kỷ niệm - Thái Thanh 
Em bé quê - ban Tuổi Xanh 
Một đàn chim nhỏ - Hoàng Oanh 

ại qua giọng ca Thái Hiền (TH), post thêm ở đây một số bài ca viết cho lứa tuổi nhi đồng của nhạc sĩ Phạm Duy, ông hay có thói quen tập hợp các ca khúc cùng chủ đề thành những bộ 10 bài: 10 bài Đạo ca, 10 bài Hương ca, 10 bài Tâm ca… nhưng ca khúc chủ đề “nhi đồng” của ông thực ra nhiều hơn thế, chỉ post lại ở đây một số bài thường nghe lúc nhỏ! Sự phong phú, đa dạng trong âm nhạc Phạm Duy là điều không cần phải bàn cãi!

Bầy trẻ thăm hỏi cung trăng, chú Cuội đâu vắng, cô Hằng đâu xa!? Từ ngày có vệ tinh bay, bay có 3 ngày lên tới mặt trăng, Cuội đành đem chị Hằng Nga, tìm xứ xây nhà không biết ở đâu! (bài Một đàn chim nhỏ) Những ca từ siêu dể thương, chú Cuội ở đây chính là Phạm Duy tự ám chỉ mình, là bài ca “cưa gái” viết cho vợ ông, Thái Hằng (cô Hằng), trước khi hai người cưới nhau… (tìm nghe bài Chú Cuội do Thái Thanh hay Ái Vân trình bày) 😁

8 bài nữ ca

Tuổi mộng mơ 
Tuổi ngọc 
Tuổi hồng 
Tuổi thần tiên 
Tuổi sợ ma 
Tuổi xuân 
Tuổi ngu ngơ 
Tuổi bâng khuâng 

ám ca khúc nhạc sĩ Phạm Duy viết cho tuổi teen, mà cụ thể là cho Thái Hiền, con gái ông hát! Giai điệu bay bổng, tiết tấu rộn ràng, phối khí hay, những bài này đến giờ vẫn là những ca khúc hay nhất viết cho lứa tuổi: Tuổi thần tiên nép trong tay mẹ hiền, một dòng sữa thơm xa xưa còn truyền. Tuổi thần tiên đến khi em vừa lớn, áo ngắn đi dần, may áo mới luôn… (Tuổi thần tiên), hay như là: Xin cho em, một chiếc áo dài, cho em đi, mùa xuân tới rồi. Mặc vào người rồi ra, rồi lạy chào mẹ cha, hàng lụa là thơm dáng tiểu thơ… (Tuổi ngọc) vẫn luôn là những ký ức âm nhạc rất đẹp của tôi!

bài không tên

hông hâm mộ nhạc của Vũ Thành An lắm, thành thực mà nói, dù đôi khi vẫn nghêu ngao: Một làn khói trắng, ru đời vào quên lãng… Biết nói làm sao nhỉ, có nhiều nhạc sĩ thật sự tài năng, trình độ sáng tác điêu luyện, hiểu biết nhạc thuật sâu sắc .v.v… nhưng nhạc của họ đa phần vẫn không… thật hay, như Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, etc… biết nói sao, thôi cứ cho như là khẩu vị cá nhân của tôi vậy! Kiểu như Thái Thanh hát Nghe những tàn phai của TCS ấy, chiều nay em ra phố về, thấy đời là những chuyến xe…, hát “nhạc buồn” mà nghe đời vẫn cứ vui phơi phới! 😁

Bài không tên số 7 - Khánh Ly 
Nghe những tàn phai - Thái Thanh 

sơn ca 10

ác ca khúc của băng nhạc Sơn ca 10 này đã post rải rác khắp nơi trên blog của tôi, nay tập hợp lại đầy đủ thành một bộ 18 bài hoàn chỉnh. Không cần phải nói thêm dài dòng, lời giới thiệu ở đầu băng nhạc, một cách khá ngắn gọn nhưng rất chính xác, đã nói thay tất cả: Hân hạnh giới thiệu một chương trình ca nhạc đặc biệt, Sơn Ca số 10, với tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long, qua những ca khúc tuyển chọn, từng làm rung cảm cả một dân tộc, thấm sâu vào lòng đất nước và tạo thành danh, tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long!

Sơn ca 10 - lời giới thiệu 

Mặt A

1. Các anh đi - Văn Phụng - Thái Thanh 
2. Nhớ người ra đi - Phạm Duy - Thái Thanh 
3. Sáng rừng - Phạm Đình Chương - ban Thăng Long 
4. Về mái nhà xưa - Nguyễn Văn Đông - Thái Thanh 
5. Những bước chân âm thầm - Y Vân - Kim Tuấn - ban Thăng Long 
6. Đêm ngắn tình dài - Dương Thiệu Tước - Thái Thanh 
7. Giã từ đêm mưa - Văn Phụng - ban Thăng Long 
8. Hoài cảm - Cung Tiến - Thái Thanh 
9. Xóm đêm - Phạm Đình Chương - ban Thăng Long 

Mặt B

1. Tình ca - Phạm Duy - Thái Thanh 
2. Sang ngang - Đỗ Lễ - Thái Thanh 
3. Khúc nhạc ly hương - Lâm Tuyền - Thái Thanh 
4. Tiếng sông Hồng - Phạm Đình Chương - ban Thăng Long 
5. Tiếng sông Hương - Phạm Đình Chương - ban Thăng Long 
6. Tiếng sông Cửu Long - Phạm Đình Chương - ban Thăng Long 
7. Mấy dặm sơn khê - Nguyễn Văn Đông - Thái Thanh 
8. Hẹn hò - Phạm Duy - Thái Thanh 
9. Bài hương ca vô tận - Trầm Tử Thiêng - Thái Thanh 


tt – đặng thế phong

Ai nức nở thương đời,
châu buông mau, dương thế bao la sầu…

rừ bài cuối có chất lượng âm thanh hơi kém, hai ca khúc đầu thể hiện rõ chất giọng Thái Thanh, người đọc lời dẫn là ca sĩ Quỳnh Giao. Ba ca khúc ít ỏi còn sót lại: Đêm thu, Con thuyền không bến và nhất là Giọt mưa thu, hay như cái tên ban đầu của nó: Vạn cổ sầu, dường đã khóc trước cho số phận của người nhạc sĩ tài hoa nhưng đoản mệnh này!

Đêm thu, Con thuyền không bến & Giọt mưa thu - Thái Thanh 

Khi nhạc sĩ Phạm Duy theo chân gánh hát Đức Huy đến Nam Định thì Đặng Thế Phong đã qua đời được vài năm, khi mới 24 tuổi, ông (PD) chỉ còn biết tìm lại người xưa qua những nét nhạc… và cũng chỉ có ông mới nhìn ra những nét dân ca VN (sa mạc, bồng mạc) trong thể loại âm nhạc tưởng chừng như là thuần “thất cung”, thuần Tây phương của Đặng Thế Phong…

thanh điệu

ói chuyện… chính tả, lần này từ góc nhìn của một kẻ tập tễnh làm nhà ngôn ngữ học 😁. Xưa giờ, dù thi thoảng vẫn viết sai chính tả (thường là do vô ý hay do đánh máy quá nhanh), tôi vẫn chủ trương mọi người viết đúng một thứ chính tả chung! Đó là lẽ hiển nhiên, vì mình viết là cho số đông người khác đọc và xã hội phát triển thì mọi điều cần phải được chuẩn hoá! Cho nên sai thì thi thoảng vẫn sai, nhưng chuẩn thì vẫn cứ phải chuẩn. Thế nhưng vẫn có những suy nghĩ khác, khác với số đông thường nghĩ. Những suy nghĩ bất chợt đến khi trò chuyện với những thiếu nữ Mông ở Đồng Văn và Mèo Vạc, những người đã đi học và nói tiếng Phổ thông còn xịn hơn, còn dể nghe và hay hơn cả tôi, ít nhất là về mặt phát âm!

Hồi trước nghĩ rằng tiếng Việt có 6 thanh sắc (hoặc 5 thanh tuỳ vùng) đã là nhiều lắm rồi, nhưng đến khi lên cao nguyên Đồng Văn, nghe người Mông nói mới biết tiếng Mông ở Việt Nam có đến 7 thanh, tiếng Mông một số vùng ở Trung Quốc có đến… 8 thanh. Thật khó hình dung một ngôn ngữ lại có nhiều thanh điệu như vậy, líu lo còn hơn cả chim hót! 😁 Tiếng Hoa cổ (cổ ở đây là nói thời Đường), lấy âm địa phương Trường An làm chuẩn, theo ghi nhận của “Thiết vận”, có 6 thanh. Thiết vận (phiên thiết) là gì thì người học chữ Hán mới biết, nhưng nôm na là một phương pháp ghi âm của người xưa, xuất hiện từ thời Tuỳ, Hán, thậm chí có thể còn sớm hơn. 6 thanh của tiếng Hán cổ đó, miễn cưỡng có thể “ánh xạ” vào 6 thanh của tiếng Việt.

Tiếng Mông 8 thanh, tiếng Việt 6 thanh, tiếng Hoa hiện đại chỉ còn 4 thanh… Nói điều này sẽ có người phản đối, nhưng một nền văn minh càng khép kín, càng lạc hậu thì ngôn ngữ càng có nhiều thanh sắc! 😁 Đó là vì càng hiện đại, càng có nhu cầu giao tiếp đến lượng lớn thính giả, thì ngôn ngữ càng phải bỏ bớt những “khu biệt” địa phương, vùng miền, dần dần bỏ bớt số thanh điệu. Tại thời điểm lưu truyền vào Việt Nam, Thiết vận đã ghi nhận những phát âm không còn tồn tại, vì nó là một hệ thống ký âm đã có từ trước đó rất lâu. Có nghĩa là tiếng Hoa thời Đường đã khác thời Hán rất nhiều, nhiều “ký âm” chỉ còn tồn tại trong sách vở chứ không còn trên thực tế! Điều tương tự cũng đúng cho tiếng Việt và hệ thống ký âm “Quốc ngữ”.

Hệ thống ký âm Quốc ngữ, từ khi hình thành, lấy “chuẩn” là một địa phương đâu đó ở vùng Quảng Bình, khá nhiều ký âm cổ cũng đã không còn tồn tại ngay tại gốc Quảng Bình, ví dụ như: “các” & “cát”, “ngan” và “ngang”… theo như quan sát hiện tại hầu như đã đồng nhất. Các địa phương càng cổ, càng bảo thủ (điển hình là một dải khu 4, từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Huế) thì sự “khu biệt” càng lớn. Tiếng Hoa hiện đại đã phát triển đến một mức mà rất nhiều ký âm không thể phân biệt được, không những “mam” và “man” đọc như nhau, mà “man” và “nan” cũng đọc như nhau, nghĩa là “m” và “n” đọc như nhau, dù đứng đầu hay cuối con chữ. Suy nghĩ lan man… nhận thấy rằng sự tiến hoá của tự nhiên, nó khác xa những điều người ta thường nghĩ!

Nghe có vẻ hơi ngược đời, nhưng tôi nghĩ rằng, không nhất thiết phải chấp nhất quá triệt để vào hệ thống ký âm “Quốc ngữ”, vì nguyên thuỷ, nó đã không phải là một hệ thống ký âm phổ quát (mà thực sự thì làm gì có một thứ tiếng Việt phổ quát!?), và quan trọng nhất là xu hướng tiến hoá của ngôn ngữ thường không bảo lưu những khác biệt quá “tinh vi, nhỏ nhặt”. Viết đúng chính tả vẫn là việc cần phải làm, nhưng bên cạnh đó, sự phát triển của “chuẩn hoá”, cái suy nghĩ băn khoăn cho rằng tự nhiên là “deterministic” hay “non – deterministic”, là “tất định” hay “bất định”, vẫn luôn còn đó (tức là Einstein sẽ vẫn luôn đối nghịch với Heisenberg). Dù gì đi nữa, ngôn ngữ vẫn sẽ phát triển theo hướng âm luật dần đơn giản hoá, dần thống nhất!