vô uý trong thời mạt pháp

ô uý trong thời mạt pháp – Gyalwang Drukpa – Sống không sợ hãi giữa một thời đại suy đồi, đốn mạt… “Vô uý” tức là không sợ hãi, tựa đề bài viết trong tiếng Anh: “Fearlessness In Troubled Time”. Việc sử dụng nhiều từ ngữ Phật giáo và Hán Việt có thể hơi khó hiểu với người ko quen, nhưng đọc qua vài lần sẽ thấy ngữ nghĩa rõ ràng, một bài viết hay nên đọc! Một số trích đoạn:

** Chúng ta đang đàm luận về Vô Úy trong thời mạt Pháp, về thời đại hắc ám ngày nay hay nhiều người còn gọi là thời đại suy đồi. Chúng ta nói: “Thời mạt Pháp” có nghĩa là một khoảng thời gian hắc ám. Ta luôn nói thời đại này đang thay đổi và đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn…

** Nhiều Phật tử cuồng nhiệt thường coi đạo Phật là một tôn giáo, đây là một sai lầm rất lớn. Đạo Phật không phải là một tôn giáo. Tôi có thể đại diện cho đạo Phật mà nói như vậy, tôi có quyền, và được phép khẳng định chắc chắn rằng đạo Phật không phải là tôn giáo…

Phần 1: http://drukpavietnam.org/vo-uy-trong-thoi-mat-phap-phan-i
Phần 2: http://drukpavietnam.org/vo-uy-trong-thoi-mat-phap-phan-ii

quy khứ lai — 2

Niệm niệm bất vong 

text=念念不忘&font=1&size=18&color=0000FF

text=爱与恨的边际&font=2&size=18&color=333333
text=聚与散的别离&font=2&size=18&color=333333
text=问你为何会在意&font=2&size=18&color=333333
text=直到现在还惦记&font=2&size=18&color=333333

text=归去你还在我依赖&font=2&size=18&color=333333
text=身分开心回来&font=2&size=18&color=333333
text=记得这份爱我们明白&font=2&size=18&color=333333
text=这就是爱&font=2&size=18&color=333333

text=每当感觉自己受了伤&font=2&size=18&color=333333
text=不辞而别逃去了远方&font=2&size=18&color=333333
text=躲多久走多远算疗伤&font=2&size=18&color=333333
text=不如回到相爱的地方&font=2&size=18&color=333333

text=没有告别静默的离场&font=2&size=18&color=333333
text=房间冰冷不再有暖阳&font=2&size=18&color=333333
text=多想留住你我的时光&font=2&size=18&color=333333
text=念念不忘等待爱回响&font=2&size=18&color=333333





hưng cũng phải nói là phim có một kịch bản rất tốt, phản ánh được sự khác biệt của văn hoá, xã hội Á Đông và phương Tây, những tình tiết câu chuyện xảy ra trong phim cũng phản ánh khá trung thực bản chất, thực tế xã hội Trung Quốc. Dĩ nhiên cách thể hiện tình cảm yêu đương giữa các nhân vật cũng phải “sướt mướt”, “lãng mạn đến mức lãng xẹt” một tí, cốt để thu hút đông đảo khán giả xem phim. Nhưng căn bản, phim tôn trọng thế giới hiện thực của các thành phần tham gia: những du học sinh đến từ mọi miền của Trung Quốc, thuộc đủ các tầng lớp, xuất thân, có những người sinh ra đã là “hoàng tử, công chúa”, cũng có những người phải chật vật làm thêm để tự chu cấp cho việc học hành của mình.

Thư Triệt, con trai của Thư Vọng, một phó thị trưởng, một quan chức đang trên đà thăng tiến và nắm giữ quyền lực chính trị lớn. Anh được gởi đi Mỹ học đại học, rồi tiếp tục cao học. Mậu Doanh, như đã nói, là con gái của Thành Vĩ, ông chủ của một tập đoàn kinh doanh đang tham gia đấu thầu xây dựng hệ thống xe điện ngầm, và dĩ nhiên có mối liên hệ bí mật và mật thiết với quan chức chính trị chống lưng cho mình là Thư Vọng. Tình yêu của hai người, Thư Triệt và Mậu Doanh có thể xem là “thanh mai trúc mã”, họ quen biết và yêu nhau từ sớm, những năm nàng lớp 7, chàng lớp 9, hai gia đình cũng có thể xem là môn đăng hộ đối, và tưởng chừng như chẳng có gì có thể ngăn cản, phá vỡ tình yêu đó.

Thoạt tiên, cả hai gia đình đều ủng hộ cuộc hôn nhân giữa hai đứa trẻ này. Thành Vĩ là một ông bố rất yêu thương con gái, nhưng ông có phần không hiểu được những người con của mình. Ông là một mẫu điển hình cho các ông chủ kinh doanh Đại lục, thành công và giàu có, rất khôn ngoan, lão luyện trên thương trường, rất nhẫn nại, kiên trì để đạt được mục đích, sẵn sàng sử dụng các biện pháp hắc ám khi cần thiết! Thành Vĩ thừa hiểu các giá trị Mỹ và cách mà hệ thống pháp luật ở đây vận hành, nhưng ông cũng thường xuyên dùng đến các thủ đoạn rất chi Trung Quốc: vận động ngầm, mua chuộc, hối lộ, đe doạ, và khi không còn cách nào khác, cũng sẵn sàng sử dụng đến các biện pháp xã hội đen.

Thư Vọng là một chính trị gia cứng nhắc, với một tính cách cực kỳ gia trưởng. Ông tìm cách áp đặt mọi thứ lên người con trai Thư Triệt của mình, tin rằng tất cả những điều mình làm là để nâng đỡ, bảo vệ con. Dĩ nhiên cha mẹ nào cũng mong muốn nâng đỡ con cái, cho nó một xuất phát điểm tốt hơn trong xã hội. Nhưng phim cũng không ngần ngại thể hiện rõ ràng một điều rằng, tất cả những gì ông ta làm cũng chỉ thể hiện cái tôi quá lớn của ông ấy, muốn bao trùm, kiểm soát tất cả, muốn thể hiện uy quyền của mình. Thư Triệt du học ở Mỹ từ rất sớm, anh ta “thẩm thấu” các giá trị Mỹ, anh ta mâu thuẫn sâu sắc với cha mình, ban đầu chỉ là vì cảm giác khó chịu khi bị kiểm tra, áp đặt dưới nhiều hình thức.

Nhưng dần dà mâu thuẫn đó trở nên lớn hơn thế, trở thành sự khác biệt giá trị sống, khác biệt suy nghĩ và hành động. Thư Vọng và Thành Vĩ đại diện cho một hệ thống xã hội như nó đã và đang vận hành ở Trung Quốc, một hệ thống dựa rất nhiều vào quan hệ cá nhân, các phương pháp không minh bạch, và nhiều thủ đoạn hắc ám khác! Thư Triệt lại hoàn toàn trái ngược, anh ta thấu hiểu và áp dụng các giá trị Mỹ, những nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Đến một lúc, người xem phim chợt nhận ra ông bố Thư Vọng là một cá tính hoàn toàn không thể thay đổi, một kiểu bệnh mãn tính, bất di bất dịch, một cái tôi quá lớn, lớn đến mức mù quáng, dĩ nhiên là luôn nhân danh “tình yêu” và những điều “tốt đẹp” khác.

Là những thành phần cộng sinh trong cùng một hệ thống, Thành Vĩ cũng chia sẻ những lề lối giống như chính trị gia Thư Vọng. Nhưng là một doanh nhân, ông ta mềm mỏng, khéo léo hơn. Để nhận được quyền xây dựng hệ thống xe điện ngầm, Thành Vĩ khéo léo hối lộ người cha Thư Vọng bằng cách “đầu tư” những món tiền hậu hĩ vào công ty riêng của người con Thư Triệt tại Mỹ. Thư Triệt ban đầu rất ngạc nhiên vì công ty của mình lại nhận được những hợp đồng béo bở một cách quá dễ dàng, nhưng nhanh chóng nhận ra, đó là những “món quà” của “ông bố vợ tương lai”, người nhận chỉ thị từ Thư Vọng, ông trùm đứng trong bóng tối chỉ đạo mọi việc, kể cả việc thông qua Thành Vĩ để giám sát con mình.

quy khứ lai — 1

Niệm niệm bất vong 

text=念念不忘&font=1&size=18&color=0000FF

text=爱与恨的边际&font=2&size=18&color=333333
text=聚与散的别离&font=2&size=18&color=333333
text=问你为何会在意&font=2&size=18&color=333333
text=直到现在还惦记&font=2&size=18&color=333333

text=归去你还在我依赖&font=2&size=18&color=333333
text=身分开心回来&font=2&size=18&color=333333
text=记得这份爱我们明白&font=2&size=18&color=333333
text=这就是爱&font=2&size=18&color=333333

text=每当感觉自己受了伤&font=2&size=18&color=333333
text=不辞而别逃去了远方&font=2&size=18&color=333333
text=躲多久走多远算疗伤&font=2&size=18&color=333333
text=不如回到相爱的地方&font=2&size=18&color=333333

text=没有告别静默的离场&font=2&size=18&color=333333
text=房间冰冷不再有暖阳&font=2&size=18&color=333333
text=多想留住你我的时光&font=2&size=18&color=333333
text=念念不忘等待爱回响&font=2&size=18&color=333333





ới nghe tựa đề (tiếng Trung) của phim là đã biết được mượn trong bài “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm đời Đông Tấn: 歸去來兮,田園將蕪,胡不歸! 既自以心為形役,奚惆悵而獨悲? – Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy! Ký tự dĩ tâm vi hình dịch, hề trù trướng nhi độc bi? – Về đi nào, về đi nào! Ruộng vườn bỏ rậm làm sao không về? Tâm để thân dễ bề sai khiến, Sao lại còn quyến luyến thương đau? Phải nói rằng tôi rất ít khi xem phim truyền hình, cảm thấy đa phần đều quá dài dòng và nhàm chán, lại càng không thích các thể loại có xu hướng “ngôn tình” và “đam mỹ”, viển vông không thực. Nhưng Quy khứ lai này là ngoại lệ, nó đề cập đến cuộc sống đầy thực tế, và đồng thời cũng rất thơ mộng!

Cái tựa đề tiếng Anh của phim “The way we were” có vẻ như lại phản ánh tốt hơn nội dung phim, trong cái nhìn của các du học sinh, về những khác biệt văn hoá của người Trung Quốc và người Mỹ, giữa Đông và Tây, cách mọi người hành xử, cách các hệ thống tổ chức, xã hội khác nhau vận hành, tất cả đều được biểu hiện rất rõ qua các tập phim. Dĩ nhiên phải xem qua vài tập đầu trong số 50 tập mới bắt đầu hiểu rõ, câu chuyện chủ yếu xoay quanh một nhóm các thanh niên trẻ tuổi du học ở Mỹ, và cái tâm sự “quy khứ lai – về hay ở lại” sẽ theo họ suốt một thời gian dài, từ những năm đi học đến khi ra trường, đi làm, cho tới khi bắt đầu định cư, lập nghiệp, cái câu hỏi “về hay ở lại” sẽ vẫn còn trở đi trở lại.

Nhưng đó vẫn là những điều chưa tới, đầu phim lấy bối cảnh tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, hai nhân vật Ninh Minh và Mậu Doanh học chung một lớp, những giây phút của tình yêu tuổi trẻ, lãng mạn đầy nhiệt huyết. Một tình yêu đơn phương của chàng trai nhà nghèo Ninh Minh với cô gái cực kỳ xinh đẹp Mậu Doanh, một tiểu thư con nhà “đại tư sản”, người thừa kế của một tập đoàn kinh doanh lớn. Với cô ấy, hiển nhiên cuộc sống phía trước dường như đã được trải sẵn thảm đỏ, với tất cả những điều tốt đẹp nhất đang chờ đợi. Cô gái đã có bạn trai, một “người yêu lý tưởng”, Thư Triệt, đang theo học ở Mỹ, mặc cho một hàng dài những người theo đuổi cuồng nhiệt trong thời gian tại Thanh Hoa.

Còn chàng trai, có vẻ như chỉ là một người rất bình thường, con một nhà lao động nghèo, tiền đồ hãy còn rất mờ mịt. Sự tự ti về điều kiện xuất thân, về địa vị xã hội của Ninh Minh sẽ còn đi theo anh ta suốt nhiều năm dài, khiến cho anh ta thường xuyên cảm thấy mình không xứng đáng, mình không đủ khả năng đem lại hạnh phúc cho cô gái, và do đó chưa bao giờ dám thổ lộ tình cảm của mình. Một tình yêu câm lặng kéo dài suốt 4 năm Đại học sẽ có thể thừa đủ để làm nội dung cho một phim khác, nhưng với phim này, đó chỉ mới là màn khởi đầu. Một khởi đầu ngắn ngủi, một ký ức rất đẹp nhưng cũng chỉ thoáng qua, cũng như chặng đường cuộc sống đầy chông gai, sóng gió hãy còn rất dài ở phía trước!

Xem tập đầu phim, tôi như thấy lại những tháng năm tuổi trẻ của mình, thấy lại những người bạn của chính mình trong đó! Tuổi trẻ của tôi có đầy đủ tất cả những điều đó, những mối tình thầm lặng kéo dài suốt 4 năm đại học, những theo đuổi điên cuồng sẽ còn tiếp tục suốt mười năm tiếp theo, cho đến những năm khoảng trước sau 30 tuổi. Những tình cảm không tên, không thổ lộ, cũng dự đoán là không có một kết cục tốt đẹp rõ ràng nào, những điều mà trong tâm hồn của những thanh niên, thanh nữ chưa đầy 20 tuổi đó, chỉ là những điều tự nó sinh ra, tự nó tồn tại, một tình yêu không cần sự hồi đáp, những trăn trở, khát vọng chúng ta có chỉ để khiến chúng ta trở nên trưởng thành hơn, hoàn thiện hơn.

Nhưng trước hết, cần phải “phê bình” phim một tí. Đầu tiên là tôi không thích những phim truyền hình quá dài, và cách làm phim cũng khá “công nghiệp”. Có vẻ như các tập phim được phân chia cho nhiều đạo diễn khác nhau, mỗi người làm một đoạn, khiến cho việc xây dựng hình tượng, cá tính nhân vật đôi khi có phần thiếu nhất quán. Thứ đến nữa là những kiểu tuyên truyền chính trị, văn hoá “đại Trung Hoa” cũng có, dù không nhiều lắm. Đáng chán nhất vẫn là phim kéo dài lê thê, rất nhiều đoạn chi li quá mức cần thiết, rất dể gây nhàm ra chán. Cách xây dựng cá tính nhân vật, lời thoại trong phim đôi khi có phần “công thức”, nhưng đôi khi cũng rất thông minh, sâu sắc, gây bất ngờ cho người xem!

river sailboats

ail boats in the 60s, cut from a Vietnamese documentary film. Bamboo mast, sail of a very simplistic design, diagonally mounted rectangular – shape canvas, possibly river – only, transportation, sail and oar boats.

xa – thư

text=车书&font=1&size=18&color=0000FF

oàng thành Huế, điện Thái Hoà, ngay bên dưới chiếc biển đề ba chữ “Thái Hoà điện” có khắc một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Tạm dịch: Đất nước ngàn năm văn hiến, Cơ đồ “xe và sách” vạn dặm, Từ sau họ Hồng Bàng dựng nước, Trời Nam lại thịnh trị như thời Đường, Ngu. Khái niệm “xa & thư” được sử dụng rất phổ biến trong văn thư chính trị cổ. Nhưng như thế nào là “xa & thư” – “xe và sách”!?

Xe (xa): dĩ nhiên ngày xưa là chiếc xe ngựa, dùng để chờ người, đồ vật, đồng thời cũng là chiếc chiến xa (chariot). Xem phim về thời cổ đại ở cả Đông lẫn Tây, cả ở La Mã lẫn Trung Quốc đều thấy một điểm chung là chiến xa phổ biến hơn chiến mã. Tại sao lại đi dùng một thứ phức tạp là xe ngựa, mà không đơn giản trực tiếp cỡi ngựa!? Có người lý luận một cách hoàn toàn sai lầm rằng văn minh nhân loại đã đi thụt lùi, từ việc sử dụng chiến xa thời cổ đại, sang dùng chiến mã thời trung đại.

Trong việc cỡi ngựa, phát minh quan trọng nhất là cái bàn đạp, đây được xem là một phát minh tuy đơn giản, nhưng làm thay đổi lịch sử nhân loại! Bộ yên cương, có thêm cái bàn đạp mới khiến kỵ sĩ có thể ngồi vững vàng trên lưng ngựa, điều khiển được ngựa một cách khéo léo, và quan trọng nhất là nhờ có cái bàn đạp mới có điểm tựa để sử dụng vũ khí: gươm, đao, thương… và nhất là có thể bắn cung một cách chính xác. Từ khi phát minh ra cái bàn đạp, nhân loại mới bỏ chiến xa mà dùng chiến mã.

Nhưng quay trở lại thời cổ đại, thì chiến xa vẫn phổ biến hơn là chiến mã, đơn giản là vì không có bàn đạp, kỵ sĩ chưa thể ngồi vững trên lưng ngựa. Thời cổ đại ở Trung Quốc, vua một nước nhỏ có thể có một ngàn cỗ xe, vua một nước lớn có thể có đến vạn cỗ xe. Chiến xa là thứ thể hiện sức mạnh và quyền lực của một vương triều. Người ta đánh giá sức mạnh của một vương quốc thông qua số chiến xa mà nước đó sở hữu, cũng giống như bây giờ chúng ta dùng các đại lượng GDP, GNP, etc… vậy.

Lại nó thêm về xe ở Trung Quốc, thời cổ đại, có hàng trăm vương quốc lớn, nhỏ, mỗi nước dùng một loại xe riêng, đóng theo những quy cách riêng: kích thước bánh xe, độ rộng trục bánh xe. Ở các cổng thành, người ta xây các trụ đá nhỏ làm vật cản, khiến cho xe của một nước có thể đi lọt qua cổng thành nước đó, mà qua nước khác lại không thể đi lọt. Việc mỗi quốc gia sử dụng “quy chuẩn” xe khác nhau thực ra là một cách phòng thủ, không cho xe đối phương đi vào nước mình quá dễ dàng.

Sách (thư): nếu như xe có hàng trăm quy chuẩn khác nhau, thì sách vở, chữ viết cũng vậy. Tuy đều là chữ tượng hình, nhưng mỗi nước lại có cách viết khác nhau, ví dụ cùng một chữ “kiếm” nhưng có đến hàng chục cách viết, tuỳ theo quốc gia, vùng miền. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc mới thống nhất tất cả các quy chuẩn: xe đóng theo cùng một kích cỡ, chữ viết theo cùng một lề thói, tất cả các đơn vị đo lường, các hình thức nghi lễ, áo mũ, âm nhạc cũng được thống nhất.

Cho nên có thể xem: Thư là kiến thức, Xa là kinh nghiệm, Thư là lý thuyết, Xa là thực hành, Thư là trừu tượng, Xa là hiện thực, Thư là tâm hồn, Xa là thể xác, Thư là tinh thần, Xa là vật chất, Thư là sức mạnh mềm, Xa là sức mạnh cứng… “Xa dữ thư – xe và sách” là hai mặt của một đồng xu, hai yếu tố chính yếu nhất để đại diện cho một nền văn minh. Chẳng phải xưa có câu: 读万卷书 行万里路 – Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – Sách: đọc ngàn chương, Đường: đi vạn dặm đó sao!?

cổ kính – tàn y

Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi!

ột bài thơ cổ, tương truyền là của Ôn Như hầu – Nguyễn Gia Thiều, theo thể Thất ngôn Đường luật, tác giả thương khóc người vợ đã mất, trong đó có hai câu luận rất “đắt”: Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi. Tác giả muốn đập vỡ kính (gương) ra, để tìm bóng người yêu từng soi trong đó, rồi đành xếp manh áo lại, để giữ chút hương xưa còn sót của người đã khuất. Cổ thi mà ngôn từ, ý tứ như thế quả thật là quá mới lạ, táo bạo và cũng rất lãng mạn. Dù lời văn nghe có vẻ xưa cũ, “thơ tình” như thế này, ngay cả thời hiện đại dễ gì sánh được!?

Tình hoài hương - Thái Thanh 
Tình ca - Thái Thanh 

Cành hoa trắng - Quỳnh Giao 
Quê nghèo - Quỳnh Giao 

Nhớ người thương binh - Mai Hương 
Nương chiều - Mai Hương 

Thu chiến trường - Kim Tước 
Dạ lai hương - Kim Tước 

Chinh phụ ca - Hà Thanh 
Các anh đi - Hà Thanh 

Nhạc của Phạm Duy, với tôi cũng giống như là “cổ kính” và “tàn y”! “Dân ca VN”, xem như là một thứ đã mất, một người đã khuất, không mấy ai còn biết bóng dáng thế nào! Âm nhạc của Phạm Duy cũng giống như “cổ kính” – chiếc gương còn lưu giữ lại bóng dáng của người đẹp, cũng giống như “tàn y” – manh áo cũ còn lưu lại chút hương thơm của giai nhân, âm nhạc Phạm Duy còn lưu lại phảng phất hình bóng dân ca Việt. Về sau, muốn tìm lại bản sắc, e rằng cũng phải làm những việc “đập kính – xếp áo”, tìm lại sự phản chiếu trong âm nhạc của Phạm Duy vậy!





50 ca khúc hà thanh

rong một số ca khúc (ví dụ như Nhạc sầu tương tư, Chinh phụ ca, Nụ cười sơn cước… toàn là những điệu dân ca phía Bắc) Hà Thanh hát dân ca một cách tự nhiên gần như là vô thức, không biết có phải một phần vì chất giọng Huế của bà hay vì điều gì khác!? Cái cảm âm, cái xử lý âm nhạc khéo léo của bà dường như là “vốn có”, không cần phải trãi qua quá trình học tập! Một giọng ca được đánh giá là gần gũi với đại chúng, không nặng về kỹ thuật, nhưng tự nhiên, dể nghe, dể thấm vào lòng người.



50 ca khúc kim tước

ôi không nghe Kim Tước nhiều, không đủ để có một nhận xét “xác tín” nào ngoại trừ vài lời chung chung về một chất giọng cổ điển, chuẩn mực. Thế nhưng ở một số bài mà ngay cả Thái Thanh, Quỳnh Giao… đều không cảm, không diễn đạt được thì Kim Tước lại thành công như Thu chiến trường, Hướng về Hà Nội, etc… (nhất là những bài mang âm hưởng “dân ca cổ”). Với tôi như vậy là đạt, cảm dân ca thì có đánh bằng piano, violon cũng thấy được, mà không cảm thì dẫu có chơi bằng bầu, nhị vẫn biết ngay!



100 ca khúc mai hương

ột chất giọng tự nhiên, nhẹ nhàng, trong sáng, không quá điêu luyện như Thái Thanh, cũng không quá sang trọng như Quỳnh Giao, nhưng cũng khó có thể kém hơn vị trí thứ 3 xếp sau 2 người vừa kể trên. Xem ra, gia đình họ Phạm Đình ấy sinh ra được 3 giọng ca nữ: Thái Thanh, Thái Hằng, Mai Hương (chưa kể những tài năng âm nhạc khác như Phạm Đình Chương, Phạm Đình Viêm, etc…) thực sự cũng đã là tập trung, hun đúc quá nhiều tinh khí tốt đẹp của đất trời vào cùng một nơi vậy!