tự cựu hồng

Ven sông lầu gác trập trùng,
Đồn quân, dinh tướng tây đông mấy tòa,
Thịnh suy bốn chục năm qua,
Riêng sen vẫn giữ màu hoa thắm hồng.

ình chụp trong chuyến đi về ba tỉnh Bình – Trị – Thiên năm 2013, Thịnh suy bốn chục năm qua… có cảm giác rằng tâm sự thơ của Chu Thần Cao Bá Quát vẫn không cũ, vẫn có điều gì mang tính thời sự.

“san” hành đoản ca

text=沙行短歌&font=1&size=17&color=0000FF

Cao Bằng, 2016



ột chiều trên tỉnh lộ 206 từ Đàm Thuỷ, Trùng Khánh, Cao Bằng (thác Bản Giốc) chạy về thị trấn Phục Hoà, giáp ranh TQ. Con đường rất đẹp đi qua vùng biên giới hoang vắng, hiếm hoi lắm mới thấy được một mái nhà, một bóng người. Đã hơn 5h chiều, khu dân cư gần nhất vẫn còn cách tầm 50 km, trời rét dưới 10 độ, bụng đói cồn cào. Đang không hy vọng gì có được một bữa tối êm ấm, thì qua một khúc quanh, bỗng đâu xuất hiện một quán… heo quay. Tin nổi không, một quán heo quay lá mắc mật nằm trơ trọi giữa núi rừng. Vội ghé vào, chủ quán là người Tày, trong bộ áo quần lĩnh đen truyền thống, đầu chít khăn mỏ quạ cũng đen nốt, bất giác cảm thấy như đang ở trong một phim cổ trang nào đó. Thật đúng là:

Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung,
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu
Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng!
Xưa nay phường danh lợi,
Bôn tẩu trên đường đời.
Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
Say cả, hỏi tỉnh được mấy người?

(Trích từ trong bài thơ Sa hành đoản ca của Cao Chu Thần – Cao Bá Quát đã đăng cách đây rất nhiều năm). Gọi thầm trong bụng: Tiểu nhị, cho 2 cân thịt và 1 vò rượu! 😀 Trời lạnh cóng thế này, không có gì khoái khẩu hơn những món ăn nhiều mỡ, làm liền một lúc 3 lạng heo quay, vẫn còn thòm thèm! Chủ quán đem rượu Táo mèo ra mời, ngồi nói chuyện lai rai, không tiện từ chối, cũng làm chừng 3 ly nhỏ để cho ấm cơ thể! Thầm nghĩ trong đầu, hết chỗ rượu thịt này, chủ quán mà kêu lên: 1, 2, 3, đổ này, đổ này! thì nguy khốn, có khi sắp trở thành bánh bao đến nơi! 😬 Nghĩ vậy thôi, chứ thực ra là chưa bao giờ gặp được một nữ chủ quán dễ thương, có giọng nói ngọt ngào, êm dịu đến như thế giữa núi rừng Đông Bắc!

miền sâu khói sóng

hế sự thăng trầm người chớ hỏi, Miền sâu khói sóng chiếc thuyền câu. Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu, So giấc mộng với thân ta… y hệt! Duy chỉ có thanh phong, minh nguyệt,
 Của trời chung mà vô tận riêng mình. 
Sự bại thành để mặc u linh, 
Người đô hội, kẻ vui miền rừng rú. 
Tay gõ nhịp, hát câu Tương tiến tửu:
 Anh có thấy dòng Hoàng hà? 
Con sông vĩ đại nước sa lưng trời! 
Làm chi cho mệt một đời!?

hiểu quá hương giang

text=十载抡交求古剑&font=1&size=17&color=FF0000
text=一生低首拜梅花&font=1&size=17&color=FF0000

 

text=晓过香江-高伯适&font=1&size=17&color=0000FF

text=万嶂如奔绕绿田&font=2&size=17&color=222222
text=长江如剑立青天&font=2&size=17&color=222222
text=数行渔艇连声棹&font=2&size=17&color=222222
text=两个沙禽屈足眠&font=2&size=17&color=222222
text=尘路悠悠双倦眼&font=2&size=17&color=222222
text=远情浩浩一归鞭&font=2&size=17&color=222222
text=桥头车马非吾事&font=2&size=17&color=222222
text=颇爱南风角枕便&font=2&size=17&color=222222

âu không trở lại chủ đề thơ chữ Hán của Cao Chu Thần. Con người ông tính khí ngang tàng, tư tưởng xã hội chính trị không có gì mới lạ, nhưng văn tài thì đúng là lạ lùng. Một trường hợp nổi bật hiếm hoi trong cổ văn Việt Nam. Đôi câu thơ giáo đầu ở trên: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Mười năm giao du tìm bạn tri âm, khó như tìm cổ kiếm, Cả một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) vẫn thường được truyền tụng như chính cốt cách con người Mẫn Hiên – Cúc Đường vậy!

Hiểu quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên.
Kiều đầu xa mã phi ngô sự,
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Buổi sáng qua sông Hương

Muôn núi quanh co diễu cánh đồng,
Trời xanh gươm dựng một dòng sông.
Giặm đò văng vẳng vài chài cá,
Co cẳng lim dim mấy chú mòng.
Dặm khánh mịt mờ đôi mắt mỏi,
Tình quê man mác chiếc roi vung.
Đầu cầu xe ngựa ta nào tưởng!
Tưởng trận nam phong quạt giấc nồng.

Xin đọc thêm về thơ Cao Bá Quát trong những post trước của tôi: Trà giang thu nguyệt ca, Sa hành đoản ca, Trệ vũ chung dạ cảm tác.

trà giang thu nguyệt ca

text=茶江秋月歌-高伯适&font=1&size=17&color=0000FF

text=茶江月,今夜为谁清&font=2&size=17&color=222222
text=关山万里皓一色&font=2&size=17&color=222222
text=何处不系离人情&font=2&size=17&color=222222
text=举杯试邀月&font=2&size=17&color=222222
text=月入杯中行&font=2&size=17&color=222222
text=含杯欲咽更飞去&font=2&size=17&color=222222
text=只有人影将纵横&font=2&size=17&color=222222
text=停杯且复置&font=2&size=17&color=222222
text=又见孤光生&font=2&size=17&color=222222
text=问君何事娈娈不忍舍&font=2&size=17&color=222222
text=我是竹林穷途之步兵&font=2&size=17&color=222222
text=江头此夕逢秋节&font=2&size=17&color=222222
text=酒满须倾为君说&font=2&size=17&color=222222
text=沱门旧侣存真翁&font=2&size=17&color=222222
text=勤海鸣鞭晓相别&font=2&size=17&color=222222
text=昨夜金风下天阙&font=2&size=17&color=222222
text=白露清霜搜侵骨&font=2&size=17&color=222222
text=人生会遇安可常&font=2&size=17&color=222222
text=有酒且饮茶江月&font=2&size=17&color=222222
text=茶江月,如镜下银流&font=2&size=17&color=222222
text=丈夫按剑去便去&font=2&size=17&color=222222
text=歧路无为儿女愁&font=2&size=17&color=222222

ột kiệt tác khác trong nền văn chương cổ điển Việt Nam: Trà giang thu nguyệt caBài ca trăng mùa thu trên sông Trà. Ít người nhận ra rằng, nếu có những án thơ hùng vĩ, hào sảng nhất mà văn học cổ điển Việt Nam có thể sản sinh, thì đó phải là những tác phẩm của Cao Chu Thần – Cao Bá Quát: Trăng sông Trà đêm nay vì ai mà trăng sáng? Muôn dặm quan san trắng xóa một màu! Khắp nơi vương vấn tình người xa nhau!

Trà giang thu nguyệt ca

Trà Giang nguyệt, kim dạ vị thùy thanh?
Quan san vạn lý hạo nhất sắc
Hà xứ bất hệ ly nhân tình?

Cử bôi thí yêu nguyệt,
Nguyệt nhập bôi trung hành.
Hàm bôi dục yết cánh phi khứ,
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành.
Đình bôi thả phục trí,
Hựu kiến cô quang sinh.
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn xả,
Ngã thị Trúc Lâm cùng đồ chi bộ binh.

Giang đầu thử tịch phùng thu tiết,
Tửu mãn tu khuynh vị quân thuyết.
Đà môn cựu lữ Tồn Chân ông,
Cần hải minh tiên hiểu tương biệt.
Tạc dạ kim phong há kim khuyết,
Bạch lộ thanh sương sảo xâm cốt.
Nhân sinh hội ngộ an khả thường,
Hữu tửu thả ẩm Trà Giang nguyệt!

Trà Giang nguyệt, như kính hạ ngân lưu.
Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ,
Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu.

Bài ca trăng mùa thu trên sông Trà

Đêm sông Trà trăng sáng bởi vì ai
Muôn dặm sơn khê xanh trong vắt
Khắp nơi nơi vương vấn mối tình hoài!

Nâng ly ta mời trăng tỏ
Ly lóng lánh trăng trôi
Tan biến mất khi đôi môi muốn nhắp
Rồi chỉ còn sóng sánh bóng hình người
Ngưng ly rồi đặt xuống
Trăng lại về đơn côi
Hởi cớ vì đâu mà mãi hoài lưu luyến
Trúc Lâm mặc khách ta là kẻ lạc loài.

Bến đầu sông hôm nay mùa thu tới
Rượu nốc rồi vì anh ta kể lể
Xứ Đà Môn Tồn lão bạn thân ta
Sớm ngày mai bước lên đường ly biệt
Trong nhà gió thu về lồng lồng tối hôm qua
Lạnh lẽo sương sa trời sang buốt rét
Cuộc nhân sinh hội ngộ được bao là
Này trăng nhé sẵn rượu đây ta nốc hết.

Trăng sông Trà bàng bạc bóng gương nga
Kẻ làm trai đi thì đi như đã quyết
Bước đi phứt không vương luỵ mối tình nhà.

trệ vũ chung dạ cảm tác

text=滞雨终夜感作-高伯适&font=1&size=17&color=0000FF

text=细雨飞飞夜闭门&font=2&size=17&color=222222
text=孤灯明灭悄无言&font=2&size=17&color=222222
text=天边正客闺中妇&font=2&size=17&color=222222
text=何处相思不断魂&font=2&size=17&color=222222

ạt ngọc thứ hai trong chuỗi cả ngàn những viên ngọc kiệt tác thơ văn Cao Bá Quát. Một bài thơ mang đậm tâm sự riêng tư cá nhân nhưng vẫn nồng nàn và hào sảng. Một điều rất hiếm thấy trong văn chương cổ, khi nhà thơ trực tiếp nhắc đến người vợ mình với tình yêu thương, nhớ nhung và trân trọng!

Trệ vũ chung dạ cảm tác

Tế vũ phi phi dạ bế môn,
Cô đăng minh diệt tiễu vô ngôn.
Thiên biên chính khách khuê trung phụ,
Hà xứ tương tư bất đoạn hồn.

Cảm tác trong đêm mưa dầm

Cửa cài lất phất đêm mưa,
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ lặng không.
Người biên tái, kẻ cô phòng,
Tương tư ai chẳng não lòng như ai.

sa hành đoản ca

text=沙行短歌-高伯适&font=1&size=17&color=0000FF

text=长沙复长沙&font=2&size=17&color=222222
text=一步一回却&font=2&size=17&color=222222
text=日入行未已&font=2&size=17&color=222222
text=客子泪遥洛&font=2&size=17&color=222222
text=君不学仙家美睡翁&font=2&size=17&color=222222
text=登山涉水怨何穷&font=2&size=17&color=222222
text=古来名利人&font=2&size=17&color=222222
text=奔走路徒中&font=2&size=17&color=222222
text=峰前酒店有美酒&font=2&size=17&color=222222
text=醒者常少醉者同&font=2&size=17&color=222222
text=长沙长沙萘渠何&font=2&size=17&color=222222
text=坦路芒芒畏路多&font=2&size=17&color=222222
text=听我一说穷徒歌&font=2&size=17&color=222222
text=北山之北山万叶&font=2&size=17&color=222222
text=南海之南波万级&font=2&size=17&color=222222
text=君乎为乎沙上立&font=2&size=17&color=222222

ăn chương cổ điển Việt Nam, điều thường thấy là ý tứ vay mượn, từ ngữ sáo rỗng… duy có một số ít trường hợp đặc biệt mà từ ngôn từ cho đến ý tưởng đều tự do và phong phú, mang đầy dấu ấn cá nhân, một trong số đó là Cao Bá Quát! Nếu có ai đó đạt đến cái tầm nắm bắt cái tinh thần, tư tưởng, mà thoát ra được loại chữ nghĩa từ chương, thì đó chính là Cao Chu Thần vậy!

Sa hành đoản ca

Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia mĩ thụy ông,
Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng.
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung,
Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu túy giả đồng.
Trường sa, trường sa, nại cừ hà?
Thản lộ mang mang úy lộ đa!
Thính ngã nhất thuyết cùng đồ ca.
Bắc sơn chi bắc sơn vạn diệp,
Nam hải chi nam ba vạn cấp,
Quân hồ vi hồ sa thượng lập.

Bài ca đi trên cát (dịch giả Huệ Chi)

Bãi cát, bãi cát dài!
Mỗi bước lại như lùi.
Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ,
Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi!
Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lội suối, giận không nguôi.
Xưa nay phường danh lợi,
Bôn tẩu trên đường đời.
Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
Say cả, hỏi tỉnh được mấy người?
Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng,
Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng!
Nghe ta ca “cùng đồ” một khúc!
Phía bắc núi Bắc, núi muôn lớp!
Phía nam núi Nam, sóng muôn đợt!
Sao mình anh còn trơ lại trên bãi cát?