spokeshave

acebook nhắc, ngày này 4 năm trước, “đẽo” cái mái chèo… Dụng cụ trong hình được gọi là “spokeshave”, tiếng Việt không có từ tương đương, về nguyên tắc cũng gần giống như cái bào. Chữ “shave” có nghĩa là “cạo”, như cạo râu, nên có thể tạm gọi dụng cụ này là… “cái cạo” 😀 Spokeshave linh hoạt hơn, nhưng cũng khó điều khiển hơn, và thường cho nhát cắt dày hơn…

drones’ show

àn đồng diễn ánh sáng tập thể của gần 2200 con drone trên bầu trời “Leningrad” – Saint Petersburg, kỷ niệm ngày kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Công nghệ thực ra cũng chỉ là 1 sản phẩm, công cụ của con người, nên nó vẫn luôn có 2 mặt. Thử tượng tượng 1 bầy drone 2 ngàn con thế này tấn công thì hệ thống phòng không nào đỡ cho nổi!?

neo classicism

oại âm nhạc “hiện đại” tại thời điểm 20 năm trước, Nữ tử thập nhị nhạc phường – 女子十二樂坊 – Ban nhạc 12 cô gái – The twelve girls band (Mozart’ symphony No. 40) ❤️ 30 năm trước, Giao hưởng #40 được sử dụng làm nhạc hiệu chương trình Phim truyện, THVN. Khó có bản nhạc nào vừa tươi sáng, lại vừa u tối, vừa lạc quan, vừa yếm thế, tất cả trong 1 như là #40!

coastline paradox

enoit Mandelbrot xuất bản 1 bài báo trên tạp chí Science năm 1967, nhan đề: Đường bờ biển của nước Anh dài bao nhiêu? Giả sử ta dùng một cây thước dài 1 km để đo đường bờ biển, cộng lại với nhau thì được chiều dài ‘x’ km. Nhưng nếu dùng 1 cây thước khác, có chiều dài ví dụ như 100 m để đo thì lại được 1 chiều dài khác lớn hơn, ‘y’ km. Đơn giản vì cây thước 1km là 1 xấp xỉ rất “thô”, ở giữa khoảng cách 1km đó, đường bờ biển không phải là 1 đoạn thẳng. Dễ dàng nhận thấy rằng, nếu dùng cây thước càng ngắn, thì chiều dài đo được càng tăng, và nếu chiều dài cây thước tiến dần về 0 thì chiều dài đường bờ biển tiến dần về vô hạn.

Đó gọi là “nghịch lý đường bờ biển – coastline paradox”, và cũng từ đó (1967) chính thức xuất hiện 1 nhánh toán học mới, gọi là hình học fractal, nghiên cứu 1 loại đối tượng đặc biệt, ví dụ như ở đây là bản đồ nước Anh, một đối tượng hình học có diện tích hữu hạn, nhưng chu vi… vô hạn! Đây là chủ đề yêu thích của tôi những năm cấp 3 và ĐH, vì nó liên quan trực tiếp tới đồ hoạ máy tính (computer graphics). Gọi là “Nghịch lý” vì nó đi ngược với “trực quan” của chúng ta, qua đó nói lên rằng, những gì ta suy nghĩ bằng ngôn từ, đôi khi chỉ là 1 sự lừa dối, sự lừa dối khó nhận ra vì suốt bao nhiêu năm, cách suy nghĩ của chúng ta bị đóng trong 1 cái khuôn máy móc!

Riêng về đường bờ biển Việt Nam, nếu đo bằng phương pháp Việt Nam thì nó có chiều dài khoảng 2400 km, nếu đo bằng cách của Mỹ thì nó lại dài khoảng 3400 km, còn nếu đo bằng “toán học” thì nó dài… vô hạn! Có điều gì rất “Phật giáo” trong phép đo này, chiều dài của một đối tượng hình học không phải là một hằng số, không phụ thuộc vào “các định luật vật lý hiển nhiên”, mà ngược lại, chiều dài đó lại phụ thuộc vào cách chúng ta đo nó! Nói nôm na, phiên phiến là… “tâm” nó tới đâu thì “tầm” (chiều dài đối tượng) nó tới đó. Chiều dài của một “đối tượng hình học Euclide” đơn giản đôi khi nằm ngoài “nhận thức thông thường” của con người! 😀

NOSTALGY

uelques doux morceaux de musique composés par Paul de Senneville et interprétés par Richard Clayderman, de temps en temps, reviennent de la mémoire de mon enfance: Nostalgy, Ballade pour Adeline, Mariage d’amour, Souvernir d’enfance, Dolannes melodie, Concerto pour une jeune fille nommee Je t’aime, A comme amour, Lady D, Lettre A Ma Mère, Murmures, Rondo pour un tout petit enfant

Tumbalalaika

ó lúc, tôi đã nghĩ rằng, tất cả những gì đầy sức sống, sinh động trong âm nhạc, thảy đều xuất phát từ nước Nga! Có thể đó chỉ là 1 kiểu bias – định kiên thiên lệch. Xưa rất thích bài “Over and over”, mà nhạc sĩ Phạm Duy đã đặt cái lời Việt rất dễ thương: Em không mơ hoang, kiếp sống nơi cung hằng, Em không tham lam diễm phúc nơi thiên đàng…

Và nhiều người Việt cũng biết bài này qua trình bày tiếng Anh của D.Fannel:

hay tiếng Pháp Roule s’enroule – Nana Mouskouri:

Nhưng về sau mới biết đó nguyên gốc là 1 bài dân ca Nga – Do thái: Tumbalalaika…

tia nắng

ó 1 giai đoạn nào đó, các sáng tác của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu bổng trở nên “cao” lạ thường, có lẽ vì viết riêng cho NS Quốc Hương vừa đi tu nghiệp về (kỹ thuật hát có nhiều tiến bộ), điển hình như bài “Những ánh sao đêm”, trước mỗi lần karaoke, đến đoạn ấy là tôi phải leo lên bàn, hát cho nó đủ cao: “xây cho nhà cao, cao mãi, ôi xinh đẹp tổ quốc của ta”… 😃 Bài dưới, tuy không nhiều người biết, cũng là 1 điển hình cho cái xu hướng “cao” ấy… 🙂

duyên khởi

hu Nhà Bè tôi ở có khá nhiều chùa chiền, cơ sở Phật giáo. Sâu xa trong lịch sử phát triển của một vùng đất, khu vực nào dân sinh còn dã man, dân trí còn thấp kém, các bậc hành giả thường hướng về đó, xây chùa, giảng pháp, giáo hoá chúng sinh, đó cũng điều hiển nhiên, dể hiểu!

Chụp được cái poster này ở gần nhà cũng đã khá lâu. Sâu xa thì tôi không tán thành lắm với cách lý giải Phật giáo một cách quá ư bình dân, sơ đẳng như thế. Nhưng phần nào đó, những cách lý giải đó, nó vẫn đúng, đúng một cách vừa ngây ngô, vừa thô thiển, lại vừa… sâu sắc! 🙂 Xem kỹ hình bên dưới:

Nhân: dụ dỗ lừa gạt người ngu, Quả: ngu si dễ bị lừa gạt! Ôi sao lại thế, sao lại có thứ logic lạ lùng như vậy?! Thì ví dụ là đám “đa cấp” đấy, tự chúng nó “thông minh” với nhau! Một ví dụ rất “thấp”, nhưng nhiều chuyện khác cũng y như thế, rất nhiều người vì “thông minh” mà tự mình “tạo nghiệp”! 😀

Ở tầm cao hơn, bắt đầu từ “Tứ diệu đế” (4 chân lý màu nhiệm), “Bát chính đạo” (8 con đường đúng đắn), “Nhân quả và Duyên khởi”, Phật giáo chẳng có vẻ gì là “tôn giáo”, chỉ là: 1 chút luân lý (ethics), 1 chút luận lý (logic), 1 chút tâm lý học (psychology), 1 chút khoa học nhận thức (cognitive science)…

walrus pull

gày xửa ngày xưa, khi kayak hãy còn là 1 công cụ “săn bắt hái lượm” ở đảo Greenland. Nói kayak xuất phát từ Greenland chắc không hoàn toàn đúng, nhưng để đơn giản hoá vấn đề, tạm thời chấp nhận như thế. Ngày xưa, những người đàn ông “da đỏ” dùng kayak đi săn hải cẩu (seal), hải mã (walrus). Đây là những loài động vật lớn, nặng từ 1 vài tạ cho đến 1 vài… tấn. Họ ngồi trên xuồng, phóng lao vào những con vật khổng lồ ấy, chúng sẽ không chết ngay đâu, và sẽ kéo mũi lao cùng chiếc xuồng đi cho đến khi kiệt sức, không cần phải nói, đó là 1 cuộc chiến sinh tồn thật sự.

Những “kayaker” sẽ xoay ngang chiếc xuồng lại, tìm cách dìm xuồng xuống nước để làm tăng sức cản, làm con vật mau kiệt sức. Đôi khi, những con vật sẽ kéo chiếc xuồng lật, xoay, lòng vòng như chiếc lá… trong khi người chèo vẫn phải ngồi vững trong xuồng. Ngày nay, người ta không còn săn hải cẩu, hải mã nữa, 5 người đàn ông khoẻ mạnh đứng trên bờ, dùng 1 sợi dây để “giả lập” lực kéo của con hải mã, thử thách người chèo làm sao vẫn giữ vững được trên xuồng. Haiza, xem ra kỹ năng của kayaker hiện đại chẳng là cái gì so với ngày xưa, xem video dưới đây sẽ rõ.

foils

ang bang chút về lịch sử hàng hải, như đã nói trong các post trước, hành trình Kon-Tiki theo nghĩa nào đó cũng là 1 thất bại, chiếc bè mắc cạn vào 1 bãi san hô và nhóm thám hiểm phải “abandon ship”. Các hành trình gần đây, như Tangaroa thành công hơn do có nhiều cải tiến: #1. sử dụng buồm vuông có thể tack được #2. Sử dụng các guara, các “bánh lái” di động.

Kiến thức vật lý về các kiểu “bánh lái” thực ra ko có gì mới, nhưng vận dụng kiến thức ấy vào thực tế thì muôn hình vạn trạng. 1 thử nghiệm gần đây tôi thấy rất đáng lưu ý, chiếc thuyền đang đóng, chưa hạ thuỷ của Annie Hill, sử dụng 2 bilge-boards đối xứng 2 bên, mỗi bilge-board có dạng hình học phi đối xứng hệt như cánh máy bay.

Xem link bên đây để hiểu rõ hơn, có rất nhiều hình ảnh minh hoạ quá trình đóng tàu. Có điều gì đó rất thú vị về hình ảnh 1 chiếc futuristic sailing cruiser: twin-mast (junk rig), twin-bilge-board và twin-rudder!