tự khổ hàn lai

Facebook nhắc ngày này năm trước, Tết năm đó dạo “chợ chữ” – Văn miếu, Hà nội, quan sát các thứ… “nhân sâm thì ít, củ cải lại nhiều”! Nhiều người ghét TQ, ghét cay đắng từ trong một nỗi sợ hãi ngàn năm trước. Từ ghét sinh ra suy nghĩ tầm bậy, ví dụ như cố tìm cách phê phán Khổng tử và Nho giáo này nọ. Tôi nói: không có chút xíu “vinh dự và tự hào” nào trong chuyện đem những thứ cũ xì đã 2500 năm trước ra phê phán chỉ để tỏ ra ta đây là “tiến bộ” hay “cao cấp” cả! Dòng chảy lịch sử nó như thế, đã 2500 năm qua đi, mà vẫn có những kẻ cố tình bắt dòng thời gian phải chảy ngược để “ta đây” có được chút “giá trị”, có những người phải tạo ra cho riêng họ một “cuộc chiến” để có thể chứng tỏ “bản lĩnh anh hùng”.

Và cứ như thế, đao to búa lớn trên trời dưới đất mà không thể (hay không muốn) nhận ra rằng, trong từng việc nhỏ, văn hóa TQ rất sâu dày, công phu của họ rất khủng khiếp, làm việc kỹ lưỡng, nghiên cứu sâu xa, mưu tính dài lâu. Thiểu năng và trống hoác nhưng lại đi chê một thứ “thâm Nho”, điều đó chỉ phản ánh một điều duy nhất: vì bản thân trống hoác nên bất kỳ điều gì khác lạ là chúng nó đều “sợ và ghét”! Nếu không có TQ ở đó cho chúng nó ghét, thì chúng nó lại càng quay sang ghen ghét và nói xấu lẫn nhau, giở đủ trò bịp bợm và tạo ra cái xã hội như ngày nay! Đến một lúc phải nói rõ như thế, tất cả những thứ Chân – Quý trong cuộc đời đều là… “Tòng ma lệ xuất – Tự khổ hàn lai” – 从磨砺出 – 自苦寒来!

rara avis

Rara avis – rare bird, hay là câu chuyện về “một giống loài hiếm có trong sở thú“… Nếu là ở nước Anh, tất cả người nuôi chim đều phải đăng ký, dù là nuôi với mục đích gì, nuôi cảnh, nuôi lấy thịt… Trước đây luật không khắt khe như vậy, nhưng đã được xiết chặt từ sau các vụ cúm gia cầm. Người dân đơn giản là đăng ký online, điền thông tin vào một cái form, nhấp chuột submit, mất chỉ đúng một phút! Điều này nghe có vẻ bất khả thi với một nơi như VN, xã hội nông nghiệp, chuyện người dân nuôi chơi một con chim cu cườm, hay một con chích mào là rất phổ biến, làm sao kiểm soát hết được!? Đặt ra luật mà không có phương cách, không có công cụ để bảo đảm thực thi hiệu quả thì cũng giống như chỉ nói đằng mồm vậy!

Sau khi đăng ký, phần lớn các trường hợp chỉ nuôi chơi 2, 3 con chim thì không vấn đề gì, không ai đến tận nhà kiểm tra đâu, nhiều người như thế làm sao mà kiểm tra hết được!? Nhưng những ai nuôi trên 50 con sẽ phải qua một quy trình kiểm tra kỹ càng hơn. Đương nhiên là khó có thể kiểm soát tuyệt đối tình trạng mua bán động vật hoang dã, nhưng từ cái hành động bắt buộc phải khai báo thông tin này thì mới có cơ sở để điều tra các hành động phạm pháp. Đặt ra luật mà không thực hiện được là chuyện tối kỵ, nói mà không làm được thì dân nó nhờn. Sâu xa hơn, dù luật có khắt khe chi tiết đến đâu cũng không thể bao quát hết mọi trường hợp được, cuối cùng cũng quay về trông cậy vào… “dân trí” mà thôi!

Mà dân ta thì… không trông cậy được, nói cho ngay là thế! Bài báo nói đúng về tinh thần xử lý vụ việc, nếu thiếu các công cụ hiệu quả, thì đành phải… xem như chuyện nhỏ thôi, không thể phí phạm công sức của nhiều người chỉ để xử lý một việc cỏn con! Vì không thể phí phạm nguồn lực xã hội, mà xã hội thì lại quá nhiều chuyện nhiễu nhương không thể xử lý hết, nên lâu lâu lại sinh ra một cái “án mẫu” vô cùng máy móc! Trước mắt, không nên rập khuôn copy luật từ nước ngoài, đặt ra luật mà không làm được sẽ sinh vô số chuyện oái oăm! Ở hướng ngược lại, nếu làm tốt các công cụ kỹ thuật, cụ thể là các nền tảng công nghệ thông tin, số hóa, thì đến một lúc, ngay việc nhỏ cũng có thể xử lý được dễ dàng và hợp lý!

Nhiều ý kiến trên internet vẫn kiểu “thú rừng, chim trời, cá nước”, là tự do muốn bắt bao nhiêu thì bắt. Ở các nước văn minh, điều đó đã là ký ức rất xa xưa từ nhiều trăm năm trước rồi, đến nay VN mới bắt đầu thực hiện là đã muộn. Một vài nơi hiếm hoi vẫn còn thực hiện “chim trời cá nước” được đôi chút là các vùng biển quốc tế, hay ở một số “khu tự trị, dân tộc” bảo tồn lối sống xưa cũ, chứ ở những nơi đất chật, người đông, tài nguyên cạn kiệt thì không thể tiếp tục tùy tiện được. Ngay cả đánh bắt cá trong lãnh hải VN sớm muộn cũng phải có luật “đánh bắt theo mùa“, kiểm soát chặt chẽ! Đã là thời đại nào rồi, không thể tiếp tục cách thức “săn bắt và hái lượm” như thời “công xã nguyên thủy” được nữa đâu! :(

Nhưng cái “ý thức cộng đồng”, hay nói cho đúng hơn là “sự vô thức tập thể” của dân ta thì nó sâu rộng đến kinh hoàng, không tự luận ra được, muốn thay đổi e là khó hơn lên trời! Làm tôi nhớ đến những chiếc ghe “vạn đò” đậu ở các cửa sông… nằm vắt chân chữ ngũ đợi nước xuống đi đặt lợp, đặt xong về nằm bật TV (xài điện bình), đến sáng thì ra xem được bao nhiêu tôm, cá để đem đi đổi gạo! Hôm nay cắm neo ở cửa sông này, mai lại ngược về nhánh sông khác, cuộc sống “săn bắt và hái lượm”, tự do tự tại như hàng trăm năm trước vậy. Không biết chữ, không giấy tờ, không kỹ năng, không nghề nghiệp, họ cứ sống bên lề xã hội một cách tạm bợ như thế, đụng đến thì lại bảo: là do tôi lênh đênh hay là vì thời cuộc bấp bênh!?

Mobilis in mobili

Vốn không muốn nói, nhưng có một số thành phần “gian manh” nhân vụ việc này mà gieo rắc thông tin sai lạc, nên phải nói. Kiểu suy nghĩ máy móc và thảm hoạ, đầu tiên là cái suy nghĩ… bắt buộc phải mặc áo pháo, hơn 80% nạn nhân đưa ra ngoài là có mặc áo phao, trong một không gian hẹp, ngập nước, mặc áo phao là cản trở khả năng vận động. Một số người sống sót được là nhờ chủ động cởi bỏ áo phao để lặn ra ngoài. Nên áo phao thì phải có, nhưng mặc lúc nào là tùy tình huống. Suy nghĩ máy móc thứ hai, cái này vô cùng khó sửa, cho rằng thuyền đáy bằng là ổn định nhất. Cái này thì có thể cả người thiết kế tàu cũng nghĩ chưa thông chứ chưa nói đến người không có chuyên môn. Thuyền đáy bằng chỉ ổn định trên mặt nước tĩnh lặng mà thôi, ổn định hiểu theo nghĩa là khó lắc cho nó rung nhất.

Nhưng trong môi trường biến động, sóng to, gió lớn mà mình tĩnh quá, không biết cách biến động theo, thì sẽ bị rung lắc dữ dội, lắc đến một lúc nào đó… sẽ lật! Ngoại trừ một số ít tàu siêu lớn, như các tàu container, tàu ro-ro… có đáy bằng và ổn định được do kích thước khổng lồ của nó, còn lại hầu hết tàu đi biển đều có đáy chữ V, kèm theo tải giằng bên dưới. Không chỉ cắt qua các con sóng, đáy chữ V giúp đưa một đối trọng nặng sâu xuống dưới đáy, như một con lắc giúp ổn định tàu. Đến tận ngày nay, phần lớn các tàu cá, tàu chở khách VN vẫn là đáy bằng, vẫn y như thời xưa chỉ đi trên sông ngòi, kênh rạch vậy! Có thể nói, đáy bằng tạo ra một sự ổn định giả tạo, đến lúc phát hiện ra là giả thì đã muộn! Thiết kế đáy chữ V, cùng với tải giằng…

…Thi công phức tạp hơn, giảm tải trọng hữu ích của con tàu, tiêu hao thêm nhiên liệu, khó cập vào các bờ nước nông, chưa kể thuyền trưởng không phải ai cũng biết cách dùng tải giằng cho đúng, khi nào thì bơm nước vào, khi nào thì bơm nước ra. Cái sự ổn định trong một hình hài nhìn có vẻ bất ổn này hơi khó để hình dung, chỉ những ai có kinh nghiệm sóng nước nhiều mới hiểu được, ví dụ như người mới chơi kayak thường chèo những chiếc bề ngang 80 ~ 90cm, nhưng người chơi chuyên nghiệp chỉ chèo một chiếc bề ngang 44 ~ 52cm mà thôi. Dùng một thành ngữ để diễn tả điều này, câu châm ngôn của thuyền trưởng Nemo trong tiểu thuyết Hai vạn dặm dưới đáy biển – Jules Verne: “Mobilis in mobili – linh hoạt trong môi trường linh hoạt”.

khách gia thổ lâu

Tiếng Hoa có 5 nhánh ngôn ngữ con: Phổ thông thoại – 普通话, là quốc ngữ hiện nay, Ngô – là phương ngôn của vùng Thượng Hải, Khách Gia – 客家 là ngôn ngữ của cộng đồng Khách Gia, Việt – là ngôn ngữ của Quảng Đông, và Mân – một phương ngữ có “gốc” Phúc Kiến. 5 nhánh ngôn ngữ này tuy không thông hiểu nhau được (mutual intelligible) nhưng đều từ một gốc tiếng Hoa cổ phát triển ra, do các cộng đồng người Hoa di cư đi khắp nơi, những cuộc di cư từ 2000 năm trước hoặc sớm hơn! Ví dụ như Triệu Đà, người Chính Định, Hà Bắc được nhà Tần bổ nhiệm làm huyện lệnh Phiên Ngung, và ông ta đã di cư một số lượng lớn người phía Bắc xuống Quảng Đông.

Ví dụ thứ 2 là người Khách Gia, đã bắt đầu đi cư từ đồng bằng Hoa Hạ xuống phía Nam cách đây ít nhất 1000 năm. Khi đến nơi, họ gặp những người Quảng Đông (đã di cư đến đó từ trước) và cho rằng đó là “Chủ, là người bản địa”, tự nhận mình là “Khách”, nhưng đến khi ngồi lại, tra thư tịch, truy tìm các tài liệu viết (ví dụ như gia phả) thì hóa ra, Quảng Đông, Triều Châu, hay Khách Gia đều là người Trung Nguyên di cư cả! Lịch sử có nhiều những ngộ nhận như vậy, không phải lúc nào cũng tường minh, rõ ràng! Và trên bước đường di cư có sự kết hợp nhất định với những yếu tố “bản địa” ở đó từ trước, như Miêu, Tráng. Tiếng Việt bị ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Hoa trung đại…

Nhất là từ thời Đường, thêm các thành phần tạm gọi là “Bách Việt” (thuật ngữ này theo tôi chỉ là một cách gom nhóm chung chung vô cùng thiếu chính xác), nên đôi khi ta bắt gặp một số điểm tương đồng “đáng ngạc nhiên” giữa tiếng Việt và tiếng Triều Châu, Khách Gia, Quảng Đông. Vì đều phát triển từ, hoặc chịu ảnh hưởng nặng bởi tiếng Hoa, đây là điều chẳng có gì khó hiểu, dù về địa lý hay lịch sử thì người Việt với người Khách Gia, Triều Châu chẳng có mấy liên hệ! Nhưng có một số khá đông những người tự gọi là nhà “ngôn ngữ học” (tôi gọi là lưu manh giả cầy), vin vào một số điểm tương đồng bất chợt, ngẫu nhiên rồi cho rằng… tiếng Việt, Khách Gia, Triều Châu, Quảng Đông là… cùng một họ Bách Việt!

Tiếp nữa là… nói ngược, tìm cách ngụy tạo ra cái gọi là “một Bách Việt thống nhất và hùng mạnh”, bằng cách gom vào nó những nguồn khác một cách… “bá vơ”. Bọn Tây nó có cái chiêu là “đa nguyên”, “đa thành phần”, điều này hiển nhiên có phần đúng khi sự phát triển của văn minh là cấu thành của vô số yếu tố! Nhưng “đa nguyên, đa thành phần” hoàn toàn khác với kiểu muốn vẽ ra bất kỳ sự “hoang đường, tùy ý” nào cũng được! Như cách nói của một số “ngáo gia” Việt thì chỉ có Bách Việt thôi! Không cần nghiên cứu gì, chỉ dựa trên nguồn Tây, Tàu công bố, xào xáo lại, đưa vào đó những mẹo ngôn từ thiểu năng, đảo lộn trật tự thời gian, và vô số “lú luận” càn quấy để ngụy tạo lịch sử!

Cứ như thế, khắp phía Nam sông Trường Giang đều là Bách Việt cả, chúng nó nói một lúc thì… không có cái gì gọi là Hoa Hạ cả, chỉ có Bách Việt và Mông Cổ mà thôi! Hoa Hạ thực chất chỉ là sản phẩm lai tạo giữa Mông Cổ và Bách Việt! Và Bách Việt mới là cái gốc, cái nguồn lớn, sinh ra mọi thứ! Những dạng thông tin như vậy tạo ra không ít nhiễu loạn trong cộng đồng! Cái sự cuồng loạn của một số thành phần đúng là… vô đối, gọi là tâm thần không sai! Trống hơ trống hoác: chữ viết không có, tư tưởng sách vở cũng không, khoa học kỹ thuật vẫn như thời bán khai, văn hóa cộng đồng đến tận giờ vẫn như công xã nguyên thủy, nhưng tâm thì cuồng loạn vô đối, chính là 2 mặt của 1 đồng xu mà thôi!

cua trong giỏ

Trước có đọc một câu chuyện “ngụ ngôn” như thế này: ở vùng đất nọ, giữa một ngã tư đường hoang vắng, bỗng xuất hiện một người mở tiệm chạp phô, qua một thời gian, lại xuất hiện một tiệm khác bán bánh mì, qua thời gian nữa bỗng xuất hiện một cái nhà máy xay bột, rồi cái tiệm bánh mì đó nó phát triển thành 2 tiệm, tiệm cũ vẫn bán bánh mì, tiệm mới kinh doanh bánh bông lan… Rồi cư dân kéo về quần tụ, xây nên một thị trấn phồn thịnh, sầm uất. Đó là phiên bản người Hoa, còn sau đây là phiên bản Việt.

Ở một vùng đất nọ, giữa ngã tư đường hoang vắng, bỗng xuất hiện một người mở tiệm chạp phô, qua một thời gian, lại xuất hiện một tiệm khác bán bánh mì. Bỗng xuất hiện một anh Việt mở tiệm bán bánh mì cạnh tranh, sản phẩm không tốt nên anh ta cạnh tranh bằng cách phá giá, rồi kinh doanh sản phẩm giả, kém chất lượng. Nhưng rồi vẫn không cạnh tranh lại nên anh ta giở các thủ đoạn bẩn phá hoại, khiến các tiệm khác dọn đi, không ai buôn bán gì nữa, còn lại mình anh ta giữa cái ngã tư!

Chuyện kể ngắn gọn như thế, nhưng thực ra nó tóm gọn toàn bộ những nét cá tính Vietic, tuy không thể vơ đũa cả nắm, nhưng cũng phản ánh một thực trạng đến trên 90% như thế. Nếu phân tích kỹ thì sẽ như thế này: #1: không chịu mở mắt ra quan sát thế giới rộng lớn, phong phú, chỉ chăm chăm bắt chước! Một cái xã hội có tiệm làm bánh mì, thì dĩ nhiên sẽ phải có nhà máy xay bột, rồi sẽ có người bán trứng, etc… có nếp thì phải có tẻ, cả một cái cộng đồng, cộng sinh, phụ thuộc vào nhau như thế!

Nhưng không, thấy ai làm gì ngon là chăm chăm bắt chước, mà là dạng bắt chước phong trào, máy móc, thiểu năng! Từ bước đầu đã sai, đến sau càng sai: #2: bắt chước nhưng không có công phu, không chịu khó học hành, tìm hiểu, chỉ làm ra cái hao hao giống, cốt để đi lòe người mà thôi! Không đầu tư nghiên cứu phát triển chuyên môn, sản phẩm làm ra không xài được nên #3: cạnh tranh bằng cách làm hàng giả, lừa được vài người là chuyện nhỏ, hũy hoại luôn một lĩnh vực kinh doanh mới là chuyện lớn!

Việc kinh doanh đâu phải chỉ có “mua bán”, nói cái câu “người Hoa vì mua bán giỏi nên giàu” thực ra là có ý lươn lẹo, bảo rằng họ trở nên giàu có nhờ “mua gian bán lận”! Thực ra kinh doanh bao gồm quá nhiều thứ: thu mua, lưu trữ, chế biến, đóng gói, vận chuyển, phân phối, etc… vô số các bước để tạo ra sản phẩm mới, tạo ra giá trị gia tăng, bước nào cũng có thể áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến cả! Nhưng không, chỉ là bắt chước hời hợt trên bề mặt thôi, loại công phu thứ thiệt không cách nào học được!

Sữa giả, thuốc giả, thực phẩm chức năng giả, gạo giả, mỹ phẩm giả, đồng hồ giả, hàng hiệu giả, một triệu thứ giả, etc… đến một lúc nên đặt câu hỏi là ở VN có hàng nào thật không, chứ giả nó đã chiếm đến tuyệt đại đa số rồi, nếu mà nói như vậy tức là hàng không giả, chỉ có… người là giả thôi!!! Marx đã nói rằng khi lợi nhuận lên đến 300% thì bảo chúng nó tự treo cổ lên thì chúng nó cũng dám làm, huống gì thực tế có những thứ hàng giả đang bán ra ở mức lợi nhuận đến 2000% (hai ngàn phần trăm)!

Nhưng cái cuối cùng mới thực sự phản ánh sự bi thảm, vô phương của cá tính Việt #4: làm ra sản phẩm kém chất lượng, cạnh tranh không lại, thế là bắt đầu giở ra vô số thủ đoạn lưu manh, lừa bịp, phá hoại, không từ bất kỳ chiêu thức nào chỉ cốt để kéo được đối thủ xuống, từ chỗ phá nát đạo đức kinh doanh đi đến chỗ phá nát luôn luân lý cộng đồng. Thậm chí phát triển đến mức “Chí Phèo, bất chấp”, biết rõ mười mươi là không lừa được ai, không làm được gì, nhưng tâm địa vẫn cứ mãi bất ổn như thế!

Vì cái bản năng dối trá, lưu manh nó ăn quá sâu, không tự bứt ra được. Vấn đề quay trở lại ngay bước đầu tiên, không chịu mở mắt nhìn xem và học hỏi xem thế giới phong phú, đa dạng như thế nào, chỉ chăm chăm vào lợi ngắn trước mắt, không thấy được bức tranh rộng. Và cũng vì cái lợi ngắn nên làm gì cũng chỉ có động cơ lòe bịp người khác, không chịu đầu tư công phu, học hành, xây dựng nên những ngành chuyên môn sâu. Rộng không được, sâu cũng không được, đều là do “tâm” sai khiến mà ra vậy!

cuộc đua lên đỉnh

Hai trường ĐH nổi tiếng và lâu đời nhất Anh quốc: Cambridge và Oxford đã có truyền thống cạnh tranh, đối đầu từ xa xưa, và nội dung cạnh tranh nóng nhất chính là đua thuyền (rowing)! Cuộc đua đầu tiên được tổ chức năm 1829, có một số lần gián đoạn do chiến tranh và dịch bệnh! Đến nay, cuộc đua được tổ chức thường niên, thu hút đông đảo khán giả và người hâm mộ, dù luôn chỉ có 2 đội đại diện cho 2 trường. Cambridge đã thắng 88 lần và Oxford đã thắng 81 lần, hai bên có 1 lần hòa! Đến 1927 thì tổ chức thêm giải đua cho nữ.

Suốt gần 200 năm lịch sử là một sự đối đầu trường kỳ và kịch tính, không có bất kỳ giải thưởng hay danh hiệu gì, tất cả đều là vì… “thể diện”! Video cuộc đấu năm 2025, rất hấp dẫn, 6.8km, 17 phút, tốc độ trung bình lên đến 24 kmph, hơn gấp đôi so với tốc độ thuyền chèo kiểu dragon-boat, thuyền rồng thường có tốc độ trung bình khoảng 12 kmph, đua trên quãng đường ngắn hơn nhiều, dưới 2km, một ví dụ cho thấy rowing so với paddling mạnh hơn rất nhiều như thế nào! Pull, like you’re pulling a French man off your mother… :D

cuộc đua xuống đáy

Đây là một ví dụ vô cùng điển hình về cái mà người ta hay gọi là “cuộc đua xuống đáy – racing to the bottom“, không cần biết thắng hay thua, không cần biết cuộc đua sẽ thế nào, chỉ cần dìm đối thủ xuống là được. Một nét cá tính đặc hữu, đặc trưng, thâm căn cố đế, rất chi… Vietic! Và sự lưu manh được thực hiện vô cùng chuyên nghiệp!

Và được thực hiện tới cùng, nhưng chỉ có đâm va thôi, không hề đụng tay đụng chân đánh nhau đâu nhé! Có công an giao thông đường thủy ngay tại hiện trường đó mà cũng không làm gì được… Kiểu này rồi chỉ có cạp đất mà ăn thôi chứ vĩnh viễn không ngóc lên được! Có phải là nên cấm thi đấu vĩnh viễn không, cho nó chừa cái tật đó đi!

hq-671

Nhìn mãi những đường cong của HQ-671, con tàu “bảo vật quốc gia”, thực sự rất rất đẹp! Thông số: dài 31m, rộng 5.8m, lượng giãn nước 165 tấn, từ đó suy ra phần mạn ướt (draft) chỉ khoảng 1.4 ~ 1.7m, chính là thiết kế để cập trực tiếp vào những bãi biển, cửa sông nước nông. Không biết ai đã thiết kế con tàu này, nhưng đường nét của nó có dáng dấp một chiếc thuyền cứu hộ (lifeboat) cổ điển được phóng to lên, với hai đầu nhọn (double-ender). Với thiết kế như thế thì thuyền sẽ tương đối kém ổn định, bắt buộc phải dùng nhiều hàng (hay két nước) để giằng tàu.

Loại tàu như thế này thường đòi hỏi người thuyền trưởng phải có hiểu biết, nhạy cảm nhất định về cách cân bằng tàu. Thường thì sẽ đem theo lượng nước ngọt, dầu máy, nhu yếu phẩm đủ dùng cho khoảng 3 tuần hải hành, nhưng cũng vì thế mà thường chỉ chở được 50 ~ 60 tấn vũ khí. Những đường cong nhìn rất vừa con mắt, mặc dù về thi công có những chỗ vẫn có thể làm tốt hơn, như chân vịt hay bánh lái hơi mong manh, không được bảo vệ tốt, khá kém nếu so với tiêu chuẩn của một thuyền cứu hộ, và cabin hơi cao, cao một cách không cần thiết!

19/05/2025

Người ta đồn rằng đây vốn dĩ không phải là sinh nhật ông Cụ… Vốn là một pha “thất thố” về ngoại giao, ngay sau Cách mạng tháng 8, 1945, chúng ta tổ chức nhiều hội đàm, thương thuyết với phía Pháp! Nhân dịp đón tiếp một nhân vật VIP nào đó từ Pháp đến đàm phán, một số nơi chăng đèn, kết hoa, trang trí cho thêm phần long trọng. Nhưng rút cuộc Pháp không đưa nhân vật VIP đó tới, mà chỉ đưa ra một quan chức bé tí.

Và cũng theo tin đồn thì, để giải thích về cờ hoa chào mừng, ông Hồ bảo: hôm nay là sinh nhật tôi, nên quần chúng họ có tổ chức chào mừng một tí, đó là sự ứng biến để tránh một “sơ sót” trong công tác ngoại giao! Nên cũng chỉ là một cái ngày mà thôi, chính thức trên giấy tờ thì đây là SN của tôi thật, nhưng ông bô bà bô có làm trò ảo ma về ngày tháng hay không thì chính tôi cũng không biết, cũng chỉ là một cái ngày thôi mà! :D :V

tàu không số

Về chiến dịch Market Time (Mỹ) hay… các con tàu không số đã thất bại như thế nào. Chuyện các con tàu không số VN trong kháng chiến chống Mỹ thì mọi người đã biết nhiều rồi, vinh quang thì nhiều và đắng cay cũng không ít. Bài này nói về cách người Mỹ đã làm thất bại kế hoạch vận chuyển trên biển của VN. Nhưng trước tiên là một vài câu chuyện bên lề, như khi bắt đầu làm một chuyện gì đó, từ lúc sơ khai cho đến lúc lão luyện, đương nhiên sẽ có rất nhiều bài học đắt giá. Năm 1963, một con tàu không số chở quá tải, vừa xuất bến đã bị hiện tượng phá nước, có nguy cơ chìm, phải điện về sở chỉ huy điều tàu ra kéo vào, may mà đã kéo kịp. Cũng trong năm 1963, một tàu giao hàng xong trên đường trở ra thì mắc cạn ở Hoàng Sa, tàu không chở hàng, nhẹ mà vẫn không cứu được, đành phải cho nổ hũy tàu. Trừ những chuyến đầu tiên trong năm 1962 là đi bằng tàu vỏ gỗ, thì các con tàu xuất bến từ 1963 trở về sau đều là tàu vỏ sắt, tải trọng khoảng 100 tấn! Lưu ý đây là tải trọng tối đa, thực tế lượng vũ khí chở trên tàu chỉ khoảng 40~60 tấn. Khi trở ra chạy tàu rỗng, kém ổn định nên các thủy thủ chặt nhiều cây dừa nước xếp vô trong khoang. Về đến bến K15 Hải Phòng thì vứt đại mấy cây dừa nước xuống biển.

Mấy cây dừa nước này nảy nở sinh sôi làm người dân địa phương sinh nghi vì họ biết rằng dừa nước là giống cây chỉ có ở miền Nam, miền Bắc không có. Mà bến K15 là tuyệt mật, ngay cả chính quyền tp. Hải Phòng chỉ biết là cơ sở quân đội chứ không biết bên trong làm gì. Sau vụ này, bến K15 cho người đi nhổ sạch mấy cây dừa nước và… tổ chức họp rút kinh nghiệm về công tác bảo mật! :D Năm 1963, đi 22 chuyến đều thành công, giao 1318 tấn vũ khí! Năm 1964, đi 55 chuyến đều thành công, giao 2971 tấn vũ khí! Năm 1965 đi 18 chuyến, 15 chuyến thành công, giao 810 tấn vũ khí, sau sự kiện tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô thì người Mỹ tăng cường các biện pháp phòng chống “cộng sản xâm nhập”, và phải nói các biện pháp này khá hiệu quả. Năm 1966 đi 8 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1967 đi 5 chuyến đều thất bại! Năm 1968 đi 8 chuyến đều thất bại! Năm 1969 tổ chức 4 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1970 tổ chức 17 chuyến có 6 chuyến thành công. Năm 1971, tổ chức 15 chuyến có 2 chuyến thành công, Năm 1972, tổ chức 12 chuyến cũng chỉ 2 chuyến thành công. Như vậy, cho đến khi ký kết Hiệp định Paris và người Mỹ rút khỏi VN thì họ đã khá thành công trong việc ngăn chặn các con tàu không số.

Người Mỹ đã thử nghiệm nhiều cách thức khác nhau, nhưng đến cỡ năm 1965 thì họ đã hoàn thiện “quy trình làm việc”, dùng các con tàu “radar picket escorts” giám sát mặt biển, những loại “SC radar” lúc đó có tầm hoạt động không quá lớn, tối đa chỉ khoảng 120km. Khi phát hiện được những tàu khả nghi thì cho máy bay ra quan sát, chụp ảnh, và khi đã xác định là “đối tượng tình nghi” thì dùng các tàu khu trục cỡ nhỏ để theo dõi, đeo bám. Các con tàu không số của VN dùng chiến thuật phổ biến là lảng vảng ở ngoài vùng biển quốc tế, tìm cơ hội, chờ đối phương sơ hở là đâm thật nhanh vào bờ, dỡ hàng ngay trong đêm và rời đi vào sáng hôm sau. Phía Mỹ dần biết được quy luật nên tổ chức theo dõi, đeo bám rất sát sao. Ở đây có một điểm cần lưu ý, người Mỹ, dù biết rõ đó là các tàu VN chở vũ khí thâm nhập miền Nam, nhưng họ chỉ tổ chức đeo bám chứ không tấn công, cũng không đâm va. Chỉ khi nào tàu Việt Nam tìm cách xâm nhập vào gần bờ thì mới điều các tàu chiến cỡ nhỏ ven bờ ra vây bắt. Đây là một trong những “quy tắc giao chiến – rules of engagement” của người Mỹ, nếu tàu còn ở trong hải phận quốc tế thì… vẫn có quyền tự do đi lại. Đã có nhiều tình huống, các con tàu không số bị đeo bám, theo dõi quá sát sao…

Không đi tiếp được, phải quay trở ngược ra Bắc. Người Việt chúng ta thường ngạc nhiên trước các quy tắc giao chiến này, đã đánh nhau thì còn quy tắc gì nữa, thực ra không phải vậy! Chiến tranh cũng phải có luật lệ, quy tắc, điều đó rất thường khi là có lợi cho các bên tham chiến. Một điểm đáng lưu ý là, nếu lúc đó, chúng ta quay trở lại sử dụng các con tàu vỏ gỗ, thì cơ hội, xác suất thành công sẽ cao hơn rất nhiều, do vỏ sắt phản xạ radar tốt, trong khi vỏ gỗ hấp thu tín hiệu radar, làm cho đối phương rất khó dò tìm. Nhưng đáng tiếc là, và phải nói thẳng là, các con tàu vỏ gỗ đóng theo kiểu truyền thống VN (không có sống đáy) chỉ có thể làm tàu đánh cá mà thôi, không đủ độ cứng cáp, vững bền để chở đến 50, 60 tấn vũ khí và thực hiện các hải trình khó khăn, phức tạp. Và dù có nhiều thông tin về một vài con tàu 100 tấn vỏ sắt do chúng ta tự thiết kế, tự đóng ở Tam Bạc nhưng đọc các con số cũng luận ra được nhiều điều bất hợp lý, xài được hay không là một dấu chấm hỏi (đến tận ngày nay, các con tàu chúng ta tự đóng có xài được hay không cũng vẫn là dấu hỏi), và thực tế là, do Mỹ đánh phá bằng không quân ác liệt, nên các con tàu không số do Đoàn 125 sử dụng phần nhiều đều là do nước bạn TQ đóng!