con nai trước ánh đèn pha

Hiệu ứng con nai trước ánh đèn pha – viết tiếp phần trước… Thực chất hiện tượng “đứng hình” này liên quan đến phản ứng sinh học của “con nai vàng ngơ ngác”, bị chói mắt, bị bão hòa trước cường độ rất lớn của ánh đèn pha, làm cho nó nhất thời không tiếp nhận được thông tin đúng đắn, và không đưa ra được quyết định kịp thời. Con người cũng vậy, trong một xã hội hiện đại mà thông tin đã đến mức thừa mứa, và phần lớn là những thông tin mang tính chất tiêu cực, xàm xí, ngày này qua ngày khác bị tiêm nhiễm bởi những thứ độc hại, hạ cấp như thế, rút cuộc họ không còn khả năng phân biệt thị phi, đúng sai nữa. Và cái thủ thuật của đám truyền thông bẩn chính là thế: phải tạo ra sự bão hòa thông tin, loại thông tin nhảm!

Phân biệt đúng sai, thị phi chỉ là bước đầu tiên, tiếp đến là đánh vào khả năng trì định đúng sai bên trong mỗi người. Chính bản thân con người không có công phu trì định, đã mất đi khả năng hướng thiện bên trong, thì thành ra như cái chong chóng xoay trước gió mà thôi, đạo đức cá nhân và cộng đồng đã bị xói mòn đến tận các giá trị cốt lõi nhất, căn bản nhất, chuyện không hiếm gặp trong xã hội ngày nay. Và đến một lúc thì: Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ – Thiên lý chi đê, hội vu nghĩ huyệt – 千里之堤,溃于蚁穴. Chính vì không tự xác tín một điều gì nên ai đưa cái tin giả nào cũng tin, đó chính là hai mặt của một đồng xu. Và cũng chính vì bên trong không có công phu kiên trì gì, nên ai hơn tôi, khác tôi là không được!

Càng nguy hiểm hơn nữa khi họ không đủ thông minh để tự nhìn nhận bản thân mình, nhưng lại đủ thông minh để tìm ra các lý do để bao biện, tô vẽ, đánh bóng, làm màu… Chính vì mãi “thông minh nhỏ” như thế nên đẻ ra một kiểu tâm lý cộng đồng vô cùng… kỳ dị, kiểu tâm lý “Vietic” đó có lẽ không đâu khác trên thế giới có, là sản phẩm đặc hữu VN, suốt ngày đấu đá, kình chống nhau bằng những trò lưu manh lặt vặt, nếu không ngậm máu phun người thì cũng thọc gậy bánh xe, nếu không ném đá giấu tay thì cũng qua cầu rút ván… Chính vì cái thuộc tính cộng đồng nó “thâm căn cố đế” như thế, nên các thế lực lưu manh mặc sức hoành hành, diễn đi diễn lại những trò ngu xuẩn, thiểu năng từ năm này sang năm khác!

tâm bình thường…

Chuyện mà bài này đề cập tôi thấy hàng ngày mỗi khi đi ra đường, ngày nào cũng thấy, nhiều nhan nhãn đến mức nhàm chán! Không phải những người già mà thị lực và sự nhanh nhạy đã không còn tốt, mà là những người còn rất trẻ, trong độ tuổi thanh, thiếu niên… Có lần tôi thấy một thanh niên trẻ điều khiển xe máy vọt lên, băng qua ngã tư, tốc độ chỉ hơi nhanh một chút, tầm 40 kmph, bên kia có một chiếc ô-tô từ từ rẽ trái! Bằng mắt quan sát thấy tại hiện trường thì thấy rõ chiếc xe hơi nhận thức tốt tình huống, chủ động đi chậm chờ xem xe máy sẽ phản ứng thế nào! Và cũng cảm thấy rõ ràng là xe máy có dư thời gian giảm tốc, tránh va chạm. Nhưng thực tế là vì một nguyên nhân gì đó, anh ta không giảm tốc được…

Cái xe cứ thế, cứ từ từ trờ tới, đâm vào xe hơi, thời gian từ lúc cảm nhận được tình huống nguy hiểm cho đến lúc thực sự đâm va có thể khiến cho người quan sát cảm thấy nuối tiếc, vì hoàn toàn có thể có 2, 3 lựa chọn, phản ứng, xử lý tình huống khác nhau trong một khoảng thời gian “rất dài” đó. Nhưng không, không có một xử lý, phản xạ đúng đắn nào, cuối cùng hai xe cứ thế đâm vào nhau. Sự việc xảy ra ngay giữa “thanh thiên bạch nhật” chứ không phải tình huống “con nai trong bóng tối” bất khả kháng gì cả! Vì đã quan sát được quá nhiều lần như vậy rồi nên tôi dám rút ra kết luận rất quả quyết rằng: không phải do sức khỏe, chính là do “tâm”! Đang vướng vào “một tranh cãi nào đó trên mạng”, “như tôi mới là đúng”!

Đang “hóng một drama nào đó trên net”, “chúng ta là phe chính nghĩa”, “500 anh em đang kêu gọi”, v.v… Nhưng loại đã bị rút sạch linh hồn từ lâu, không còn khả năng hiểu và xử lý người thật, việc thật nữa. “Tâm” như cái “hố đen” sâu thẳm liên tục gào thét phải được thỏa mãn! Vì đã “vong bản”, không còn nhìn thấy được gì khác, loại như thế có nói chúng nó cũng không tự nhận thức được! Người ta nói “Bình thường tâm thị đạo – 平常心是道” nhưng thời nay, Vịt tộc ngày nay, số người có “tâm bình thường” không mấy đâu! Bài báo dù cũng nói lên được một vài ý nào đó, nhưng là sự copy thô thiển, là vấn đề ở đâu đâu chứ chuyện ngay trước mắt lại không thấy, thực chất đây chính là một dạng khác của “vong bản”!

cửu vị thần công

Khi nhỏ vẫn hay trèo lên 9 khẩu thần công này chơi, dài hơn 5m, nặng đến 11 tấn mỗi khẩu. Trên mỗi cỗ súng có khắc rõ bằng chữ Hán cách thức bắn, dịch ra như sau: nạp 4 lớp thuốc súng, lớp thứ nhất 30 cân thuốc súng cộng 40 cân đất, lớp thứ hai 30 cân thuốc súng cộng 105 cân đất, lớp thứ ba gồm 40 cân thuốc súng cộng 120 cân đất, lớp cuối cùng 20 cân thuốc súng… Như thế, người làm ra súng này hiểu rõ hạn chế của nó, thuốc súng (gunpowder, blackpowder) ngày xưa có một nhược điểm so với các loại thuốc phóng hiện đại (smokeless powder, propellant) là tốc độ cháy quá nhanh, gây ra sự đột biến áp suất làm vỡ nòng! Các loại thuốc phóng hiện đại cháy chậm lúc đầu và cháy nhanh dần về sau, đường cong biểu diễn biến thiên áp suất theo thời gian tăng mềm mại, ít dốc hơn!

Đó cũng là lý do các khẩu pháo hiện đại nhỏ nhẹ hơn rất nhiều so với các phiên bản “thần công” cổ xưa. Cách thức nạp đạn chèn nhiều lớp thuốc súng xen kẽ với các lớp đất là để cho quá trình cháy diễn ra chậm lại, một cách để kiểm soát áp suất không cho súng vỡ! Thật sự “thông minh”, mới nghe thì có vẻ là như thế, nhưng thực ra chính là… ngược lại! Các loại pháo phương Tây đương thời chỉ nạp một lớp duy nhất, không ai nạp nhiều lớp như thế, tưởng tượng mất đến 5, 10 phút chưa nạp xong một phát đạn! Ở đây ta lại thấy một nét cá tính rất… Vietic, luôn tìm ra một cái chiêu thức, một cái mánh mẹo nào đó để “giải quyết” vấn đề, làm sao vẫn bắn được cái khẩu súng chế tạo không đạt yêu cầu đó! Đương nhiên vấn đề gốc là khẩu súng không xài được thì nó vẫn ở đó chứ không đi đâu cả!

Từ những hiện vật lịch sử là thấy rõ rằng: thời Nguyễn, dù đã đúc được pháo nhỏ 100~200 kg, nhưng chưa làm chủ được công nghệ đúc pháo nòng dài 500~600 kg (chưa nói tới những loại 1, 2 tấn). Các hiện vật pháo nòng dài trên 500 kg được nhà Nguyễn sử dụng đều có xuất xứ châu Âu, dù vẫn có một số súng nòng ngắn “made in VN” dạng carronade đến ~700 kg. Để đúc được các loại pháo nòng dài thì phải kiểm soát được chính xác tỷ lệ đồng và thiếc, tạo ra đúng loại hợp kim “gunmetal” đủ độ bền chịu được áp lực nổ, không phải loại “đồng” nào cũng đúc súng tốt được! Phải nạp nhiều lớp thuốc súng thế này thì chỉ dùng làm súng nghi lễ thôi, không thực chiến được! Mà nói về pháo nòng dài (large calibre) thì, đến tận ngày nay, 2025, cũng đã làm chủ được công nghệ sản xuất đâu?!

mechanical advantages

Facebook nhắc ngày này năm trước, cái máy ép dầu thời kỳ “tiền công nghiệp”… Một thời gian sau, nhờ mạng thông tin hiện đại mà xem được cũng cái máy này, nhưng là phiên bản “cổ truyền TQ”, so với phiên bản VN có nhiều khác biệt. Thay vì dùng 2 thanh niên trai tráng khỏe mạnh quai búa, là loại búa tạ nặng, thì họ treo cục sắt nặng lên một sợi dây, tìm cách lắc cục tạ này như con lắc, đến khi đủ biên độ thì đánh vào cái nêm để vận hành máy. Như thế tiết kiệm được nhiều sức lực vì không phải dùng sức người để quai búa rất nặng. Có vô số hình thức gọi là “mechanical advantages”, tạo ra lợi thế cơ học nhằm bớt đi sức lao động, giảm mệt mỏi, tăng năng suất! Từ đòn bẩy cho đến các hệ thống ròng rọc liên hoàn, rồi tiến đến các hệ truyền động phức tạp như bánh răng, dây xích, etc..

Tìm cách đạt được lợi thế cơ học là bước đầu tiên để tiến đến chế tạo ra máy móc cơ khí đơn giản. Nhưng xem các “máy móc” thủ công nghiệp VN xưa thì thấy rất thiếu các hình thức “mechanical advantages” này, thuần túy dựa vào sức người kiểu… trâu bò, nhiều cải tiến vô cùng đơn giản không làm được. Đến những chuyện nhỏ còn chưa hiểu, chưa làm được mà toàn ngồi tán láo “công nghệ trên trời” không à! Toàn các bố thiểu năng, ưa phét lác ngôn từ, từ nhỏ không chịu vận động nên mãi vẫn không thể hiểu được những nguyên tắc vật lý cơ bản, nhưng hoang tưởng siêu hạng, lại còn… “như tôi mới đúng, ai khác tôi là không được” nhé! Nếu chịu tập thể dục, vận động từ nhỏ thì sẽ hiểu cách thế giới vật lý vận hành, đồng thời cũng là cách khống chế cái “tâm” cuồng loạn vô đối!

hư ảo

Các câu hỏi đặt ra phần lớn là những “câu hỏi thông minh”, hỏi tức là gợi ý vấn đề, và mục đích là để kiểm tra xem người khác thông minh thế nào. Nhưng cũng có loại câu hỏi đặt ra chỉ để kiểm tra người khác có… bị ngu hay không? Điển hình là cái câu: “làm sao bỏ một con voi vào trong tủ lạnh” nổi tiếng trong ngành CNTT ấy, ngày trước tôi ghét cái câu đó vô cùng, và ghét luôn bất kỳ ai hỏi câu đó! Vì nó không truyền tải bất kỳ một ý tứ hay nghĩa lý nào, chỉ là kiểm tra xem bao nhiêu thằng đủ máy móc để lặp lại câu trả lời: “thì mở cửa tủ ra, bỏ con voi vào”! Nguyên là một kiểu nói đùa, đùa thô đến mức phải tự thọc lét thì mới cười được, vậy mà cũng có những loại thiểu năng đem câu hỏi đó đi kiểm tra IQ.

Nhưng các “sử gia internet” VN thì có vô số dạng câu hỏi ngu như thế, một số trường hợp là… kết nối 2 sự việc chẳng có liên quan gì với nhau, bịa ra tin giả từ… không khí, ví dụ như: Trần Hữu Lượng ở TQ là con của Trần Ích Tắc nhà Trần VN! Một số trường hợp nữa, vì mặc cảm nhược tiểu, thua kém nên đã… nói ngược, ví dụ như: Hồ Nguyên Trừng đã đem nghề đúc súng của VN truyền bá vào TQ, được xem là ông tổ nghề đúc súng ở TQ. Một dạng khác là cường điệu thực tế lên cả chục lần, kiểu như bảo nhà Tây Sơn có 9 chiến hạm được trang bị 60 súng đại bác! Các khẩu thần công còn sót lại ở VN chỉ có một số rất ít (đếm trên đầu ngón tay) là súng bắn đạn 24 pound, loại dài đến 3m và nặng khoảng 2.5 tấn.

Tất cả súng này đều đặt ở những vị trí phòng thủ cố định trên bộ. Hiện chưa có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy VN đã đặt được súng nặng từ 1 tấn trở lên trên thuyền, vì di chuyển và điều khiển 1 tấn đó không hề đơn giản chút nào, khi dây thừng tốt còn chưa làm được, và chưa biết cách xài ròng rọc cho rành! Mà súng cỡ 1 tấn là tương đương với loại bắn đạn 9 pound, là loại súng được dùng trên… các tàu buôn châu Âu thời bấy giờ, còn súng trên tàu chiến phải từ 12 pound (khoảng 1.5 tấn) trở lên kia! Phần lớn các súng thần công tìm được ở vùng biển VN cho đến ngày nay là loại 6 pound hay nhỏ hơn, thường chỉ nặng dưới 500~600 kg. Nói cho đúng thì VN lúc bấy giờ còn chưa có Hải quân theo đúng kiểu châu Âu!

Lại càng chưa thể nói về nói những con tàu 60 súng, mỗi súng bắn đạn 24 pound, những loại như thế phải hơn 1000 tấn. Cũng có thể đó là một kiểu “léo lận ngôn từ” trong các giấy tờ, sách vở xưa, khi xem một khẩu pháo tép (swivel gun) nặng cỡ 100kg (hay một khẩu “hỏa hổ” do 2 người vác vai) như “một khẩu súng”, “lập lờ đánh lận con đen” nó với các loại “hải pháo” thật sự nặng nhiều tấn. Rất nhiều người chỉ đọc thông tin trên giấy chứ hoàn toàn không hiểu thực tế nó như thế nào, ví dụ như nói về các con “tàu đồng, tàu bọc đồng”, nhiều người lập tức nghĩ về nó như một loại “giáp”, “nồi đồng cối đá”, thực ra lớp bọc đồng này chỉ dày có 1~3mm và bọc từ mực nước trở xuống để bảo vệ gỗ chống lại các loại hà, hàu.

Lớp bọc đồng này hoàn toàn không có tác dụng như lớp giáp bảo vệ tàu trước các loại đạn, những kiểu “tiến sư – giáo sĩ, sử gia – giả sư” này đọc được đúng một từ “bọc đồng” rồi ngồi tưởng tượng ra các loại “thiết giáp hạm”. Dạng thiểu năng này nhiều vô kể, hoàn toàn không hiểu gì thực tế, chỉ “tán láo” mà thôi! Một dạng câu hỏi ngu khác là vẽ ra những điều hư ảo, xàm xí, kiểu như sau chiến tranh Nha phiến thất bại, TQ muốn dựa vào VN để học hỏi công nghệ đóng tàu. Đã đến thời hiện đại rồi, không lừa được ai với những kiểu xàm xí này đâu, cứ ôm mãi những điều hư ảo, không có năng lực thực tế thì rồi cuối cùng cũng chỉ có… “hư ảo” mà thôi! Có bộ phận rất lớn cứ suốt ngày ngồi bịa ra những chuyện như vậy!

Dùng một câu chuyện “tiếu lâm” để mô tả cách người Việt tìm hiểu quá khứ và tự nhận thức về bản thân, nó giống như một khoảng trống hoác vậy! Các nhà khảo cổ Nga, sau một thời gian đào bới, khai quật đã tìm được một cọng dây đồng, họ nghiên cứu kỹ lưỡng và đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Nga đã dùng mạng cáp đồng! Người Mỹ cũng không chịu kém, sau một thời gian đào bới cũng tìm được một mẩu thủy tinh giống hình sợi cáp, họ nghiên cứu chán chê rồi đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Mỹ đã dùng mạng cáp quang! Một số người Việt cũng bắt chước đào bới như vậy, nhưng đào mãi mà không thấy gì, bèn kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên chúng ta đã xài mạng không dây! :D

chiêu ứng từ

Vụ án chấn động xảy ra năm 1851 thời Tự Đức, nhà vua nhận được tờ tấu do Binh bộ chuyển báo: Chưởng vệ Phạm Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều trình tấu đã đánh đuổi ba tàu hải tặc khi đang đi tuần ở vùng biển Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Xem xong tờ tâu nhà vua liền sinh nghi vì đánh nhau với hải tặc mà không ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh, bèn nhấc bút phê: giao cho Binh bộ điều tra cho rõ sự tình. Phúc trình từ Binh bộ cho rằng chiếc tàu thu được giống tàu buôn hơn là tàu giặc. Ngay lúc ấy, một phụ nữ đến nha môn cáo giác. Nguyên bà ta là một Hoa kiều, mở tiệm ăn ở phố Gia Hội (Huế), chồng cũng là Hoa kiều đi thuyền về nước, bặt tin đã lâu.

Theo lời bà kể, viên đội trưởng vệ Tuyển Phong tên là Trần Hựu đến ăn uống ở quán nhưng không đủ tiền trả nên rút chiếc nhẫn cầm tạm! Bà chủ xem kỹ nhận ra chiếc nhẫn quý của chồng, Trần Hựu ban đầu chối, nhưng sau lại chịu theo bà đến nha môn trình báo. Trần Hựu khai rằng: ngày 16 tháng 7, 1851, thuyền quan đậu ở cửa Thị Nại, được tin có ba thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư, chưởng vệ Phạm Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo, bắn bằng súng thần công nhưng ba chiếc thuyền kia không đáp trả, chỉ bỏ chạy! Sau 3 ngày truy đuổi thì hai chiếc chạy thoát, một chiếc bị bắt! Cập lại gần, Phạm Xích ra lệnh cho những người bên thuyền của Trung Quốc sang trình diện, họ chấp hành lệnh!

Ba mươi ba người sang trình thẻ, nói là nhà buôn ở Thừa Thiên xin về thăm quê và đã được cấp phép! Dù đã trình thẻ nhưng tổng cộng, 108 người Hoa trên tàu đều bị chém chết rồi quăng xuống biển, toàn bộ hàng hóa được chuyển sang chiếc thuyền Bằng Đoàn của quan binh, thuyền buôn được sơn lại màu đen cho giống tàu hải tặc và dẫn về vụng Chiêm Dữ. Vua Tự Đức nổi cơn thịnh nộ, giao Tam pháp ty xét xử, án xử rất nghiêm, Thiều và Xích đều bị lăng trì, nhiều người bị xử chém, nhưng cũng có một số quan binh được tha vì đã chống lệnh, từ chối giết người! Từ đó, cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam đi đâu cũng xây Chiêu Ứng từ, như một kiểu ấm ức, từ Huế, Đà Nẵng, Hội An, vào tới trong Nam, tận Cà Mau cũng có!

franchise

Từ lâu, thứ duy nhất ở VN đã được hiện đại hóa, công nghiệp hóa vô cùng sâu rộng, đó chính là các loại công nghệ đĩ điếm, lưu manh! Nó đã được phát triển đến mức phổ cập, trở thành dây chuyền công nghiệp! Đã trở thành bài bản được truyền dạy cho nhau, thậm chí đến mức đã trở thành “thương hiệu nhượng quyền”: tất cả đều đã được làm sẵn, từ các sản phẩm giả cầy cho đến bao bì, quảng cáo, chỉ cần mua về và đi “lùa” người khác thôi!

bất ổn tiếp tục…

Trong ngày 30/4, giữa lúc tranh tối tranh sáng khi chuyển giao chính quyền, giữa Sài Gòn xảy ra nhiều vụ án mạng, cướp của giết người. Ngay trong ngày 1/5, một tòa án được thành lập, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được cử làm chủ tịch Bồi thẩm đoàn! Tòa tuyên một bị cáo tử hình, bản án được thi hành ngay lập tức sau đó, bản án mang tính chất răn đe giữa một Sài Gòn chưa kịp ổn định. Thế nhưng Sài Gòn vẫn không thể ổn định được suốt nhiều năm sau đó! Như vụ sát hại gia đình nghệ sĩ Thanh Nga 1978, vụ bắt cóc con nghệ sĩ Kim Cương, bắt cóc con bác sĩ Lã Hỷ gây rúng động dư luận!

Từ 1975 đến 1978, chỉ trong 3 năm, đã xảy ra 45 ngàn vụ án hình sự, trong đó có 1400 vụ cướp lớn, 170 người dân bị bắn chết, hơn 200 người bị thương, chưa kể thương vong của lực lượng Công an trên các mặt trận phòng chống tội phạm. Riêng tại Sài Gòn, cứ trung bình 40 phút là có một vụ cướp, tỷ lệ thuộc loại… cao nhất thế giới! Tình hình nghiêm trọng đến mức, tháng 3 – 1978 đã phải thành lập những đội SBC – Săn bắt cướp, có quyền “tiền trảm hậu tấu”, trong một số tình huống có thể xử bắn ngay tại hiện trường! Sau đó là những vụ vượt biên… lại thêm những trang đầy máu và nước mắt.

Tuy không thể phán xét chung chung được, mỗi con người là một cảnh đời riêng, mỗi sự việc đều có những nguyên nhân khác biệt, nhưng tôi cho rằng phần lớn các vụ vượt biên là manh động, thiếu suy nghĩ, và đã đẩy nhiều người thân trong gia đình vào chỗ chết. Qua đến bên kia, một phần khá lớn trở thành các băng đảng tội phạm, đâm thuê chém mướn cho các ông trùm gốc Trung, Hàn, Đài, và đã tạo ra một cái danh tiếng vô cùng manh động và tàn ác, nhưng rồi cũng chỉ là lưu manh nhỏ, không trở thành tội phạm lớn được! Cái sự bất ổn cứ thế tiếp tục, cách này hay cách khác…

tinh thần bất ổn

Tinh thần bất ổn, một trăm năm trước, Phạm Quỳnh đã viết một bài như vậy, nguyên văn bằng tiếng Pháp, đã được dịch đăng trên tạp chí tiasang.com.vn năm 2008. Thực ra, chẳng cần phải là học giả hay là nhà văn hóa gì gì mới có thể nhận thức về thực trạng xã hội như vậy! Như cá nhân tôi, phải sau 30, 35 tuổi, khi đã trãi qua một số biến cố nho nhỏ trong cuộc đời, mới có thời gian suy ngẫm nhìn lại cho rõ… Và thế rồi, một trăm năm sau, cái “tinh thần bất ổn” đó đã được khuếch đại lên, đã trở thành những kiểu… “tâm địa bất ổn”!

Không chỉ là sự bất ổn đã biến thành những vụ án mạng gây rúng động dư luận, mà còn là vô số những sự bất ổn nho nhỏ, thường trực, có thể quan sát thấy hàng ngày với một số lượng rất lớn những người xung quanh! Thậm chí có những loại bất ổn đã được “ngụy trang, nhân danh” một cách khéo léo, đã trở thành những kiểu lưu manh có tổ chức bài bản. Khi “cái tôi” ích kỷ, manh động, dốt nát đã bị đẩy đến giới hạn cùng cực, gây ra vô số vấn đề xã hội nan giải. Người Việt chúng ta bất ổn, hay có một bộ phận lớn là như vậy.

Sự bất ổn trong tính cách, trong đạo đức cá nhân, trong suy nghĩ, hành xử và trách nhiệm! Nói “không chịu lớn” vẫn là một cách nói nhẹ nhàng, thậm chí là đã nói giảm, nói tránh đi rất nhiều. Thực chất, đó là những bất ổn nội tâm, sự xung đột không định hình được các thang giá trị, sự tự mâu thuẫn đến mức độ “đa nhân cách”, đó là những “cái tôi” lưu manh lặt vặt đã đến mức méo mó, bệnh hoạn! Thật “may mắn” khi sinh ra trong bối cảnh như vậy, mới cỡ 40 có dư mà đã “nhìn thấu hồng trần – khán phá hồng trần – 看破红尘” rồi!?

hội an

Dự là ý định bỏ quận, huyện sẽ không thành, co tới co lui vẫn không thấy cái áo nào vừa vặn, vì bất ổn nó không nằm ở cơ thể vật lý, mà nằm ở trong “tâm”! Nhưng, nói như vậy không có nghĩa là không cần phải làm gì, vẫn có thể giảm đến một nửa số phường, xã, quận, huyện để tạo ra không gian phát triển rộng hơn. Ví dụ như, tôi nghĩ… nên bỏ luôn cái tên Đà Nẵng, tên vừa vô nghĩa, vừa khó nghe, giữ lại cái tên có nguồn gốc lâu đời, hãy cứ gọi là thành phố Hội An! Và thành phố Hội An tương lai sẽ bao gồm:

Quận Cẩm Phô, quận Thanh Khê, quận Hải Châu, etc… nhưng là những quận đã mở rộng, bao gồm các phường – xã cũng cũng đã được mở rộng. Một khái niệm cần cân nhắc, cái gọi là “thành phố trực thuộc Trung ương”, học theo mô hình của Liên Xô cũ. Như Liên bang Nga nó quá rộng như vậy, có những khu vực phải do Trung ương trực tiếp quản lý, không giao cho chính quyền địa phương các bang. To như Trung Quốc mà cũng chỉ có 4 thành phố trực thuộc Trung ương mà thôi. Ấy vậy mà Việt Nam, như cái lỗ mũi!

Sợ là chưa bằng một tỉnh của Trung Quốc và chưa bằng một huyện của Nga, ấy thế mà cứ đặt ra hết đơn vị này đến đơn vị khác. Đơn giản là cứ 2 đơn vị thì nhập thành 1, hai phường gộp lại thành một phường, hai quận gộp thành một quận, và hai tỉnh sẽ gộp lại thành một tỉnh, giảm số lượng lại, tăng diện tích lên, nhưng mô hình địa phương 3 cấp e là rất khó bỏ… Làm nhớ đến câu chuyện “cậu bé thông minh”, Trạng Quỳnh với Chúa: cho một con chim sẻ, làm thế nào để chia thành ba mâm cỗ đủ đầy!? :D