uscgc mellon

Thế là Mỹ đã chuyển giao cho VN 3 con tàu Tuần duyên cũ, một chiếc hạ thủy năm… 1968, một chiếc hạ thủy năm 1969, và một chiếc năm 1972, như vậy 3 con tàu đó đã… 57, 56 và 53 tuổi, hai chiếc già hơn (USCGC Mellon và USCGC Morgenthau) thực sự đã từng tham chiến ở Việt Nam những năm 1968 ~ 1972! Theo các ước tính trong hàng hải, một con tàu đến 40 tuổi được xem là đã rất thành công, sau khi hạ thủy và đưa vào sử dụng khoảng 20 năm, sẽ có một lần “mid-life upgrade – nâng cấp giữa đời”!

Tức là được trông đợi là sẽ phục vụ tiếp nửa phần đời còn lại, thêm 20 năm nữa cho đủ 40 năm. Hơn 50 tuổi đối với một con tàu đã có thể xem là “cổ lai hy – xưa nay hiếm”, dù Nga có một con tàu đã 110 tuổi vẫn còn hoạt động trong biên chế, nhưng đây là ngoại lệ vô cùng hiếm hoi. Ở nhiều nơi khác thì những con tàu này đã bị biến thành… bia tập bắn từ lâu! Điều gì khiến cho những con tàu của họ 60 năm vẫn còn xài được, còn tàu chúng ta đóng ra mới chỉ có vài năm đã xập xệ, xuống cấp, liên tục sửa chữa!?

duy tân

Sau khi đội tàu của Đề đốc Matthew Perry đến Nhật Bản, trước một màn phô trương sức mạnh quá thuyết phục như vậy: những con tàu hơi nước hiện đại, những khẩu pháo Paixhans khổng lồ, chính quyền Tokugawa bị “thuyết phục” hoàn toàn và phải ký các hiệp ước mở cửa nước Nhật ra giao thương với thế giới sau hơn 200 năm khép kín. Matthew C. Perry là một người khéo léo, ông ta tặng người Nhật những khẩu súng lục Colt biệt danh: the peacemaker – người kiến tạo hòa bình, và cũng tặng kèm những động cơ hơi nước nhỏ mang tính trình diễn. Dù vẫn còn phải đánh nhau thêm vài trận nhỏ nữa (Boshin war) để dẹp hoàn toàn các thế lực cản đường trước khi chuyển sang thời Minh Trị duy tân, nhưng ngay lúc đó, người Nhật bắt tay vào những công việc cụ thể để canh tân đất nước.

Một trung tâm huấn luyện hàng hải được dựng lên bên cạnh Dejima, hòn đảo giao thương với người Hà Lan cũ, Tanaka Hisashige được giao nhiệm vụ phát triển các thiết bị điện tín (telegraph), công ty của ông ta sau về trở thành tập đoàn Toshiba lừng danh, và chỉ 2 năm sau thì họ chế tạo thành công động cơ hơi nước đầu tiên, tuy vẫn có một số khiếm khuyết nhưng chạy được. Về cái “nghi án” VN đã chế tạo thành công tàu thủy động cơ hơi nước dưới thời Nguyễn, tôi nghĩ cần phải nói thẳng đây là trò bịp bợm! Sự thực là nhà Nguyễn đã có mua vài chiếc tàu hơi nước nhỏ, nhưng mới dùng được thời gian thì hỏng, không tự sửa chữa được đành xếp xó! Ở VN cũng có người nhận rõ sự cần thiết phải Duy tân, ví dụ như Nguyễn Trường Tộ, ông ta… chăm chỉ viết điều trần gởi lên triều đình!

Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết… Nếu đọc kỹ Nguyễn Trường Tộ, ta sẽ thấy tư tưởng rõ ràng là có chút tiến bộ, nhưng lời văn vẫn kiểu mắc vào “cái tôi”, loay hoay không giải thích được Duy tân phải bắt đầu từ đâu! Quả thực như vậy, suốt cuộc đời ông ta chăm chỉ viết điều trần, viết đến gần 100 bản, nói thì dông dài quá nhiều nhưng chưa bao giờ thấy động tay chân làm điều gì! Có vẻ như là đã tận lực, đã cố hết sức rồi, nhưng toàn bộ những gì “làm” được chỉ là một mớ ngôn từ bùng nhùng, mơ hồ như thế! Như vậy phải coi lại sức khỏe thế chất, vật lý có vấn đề gì không, có bị khuyết tật chỗ nào hay không, chứ sao cái “dân tộc tính” đến tận ngày nay, mãi vẫn chỉ có nói mà không có làm như thế!?

rangaku

Sau khi tiến hành chiến tranh thống nhất Nhật Bản thành công, Tokugawa Ieyasu nhận được sự chấp thuận của Nhật hoàng để trở thành Shogun – Tướng quân, người cai quản nước Nhật trên thực tế. Xem những thư từ trao đổi giữa chúa Nguyễn (VN) và Tokugawa Ieyasu (Nhật) sẽ thấy một cái giọng điệu rất buồn cười, ai cũng cố tình lờ đi các vị Hoàng đế trên danh nghĩa (Nhật hoàng và vua Lê), cố tình đề cao địa vị “chúa tể” trong thực tế của mình, nhưng cả 2 con dấu đỏ trong các thư từ thì đều chỉ là “Tổng trấn tướng quân” như nhau cả. Và cũng hệt như ở VN (nhưng là ở một thời đại 200 năm trước đó), sau khi đã thống nhất đất nước, “Thố tử cẩu phanh, Điểu tận cung tàng兎死狗烹鸟尽弓藏“, Tokugawa Ieyasu đã tiến hành một chính sách bế quan tỏa cảng khắt khe nhằm làm ổn định xã hội.

Cửa ngõ duy nhất mà Nhật Bản mở ra với nước ngoài trong suốt hơn 200 năm là Dejima, một hòn đảo nhân tạo kích thước bé tí 120m × 75m, là nơi buôn bán với người Hà Lan. Để lại ấn tượng xấu cho các lãnh chúa Nhật Bản chính là các thương nhân + nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, họ không tách rời giữa các động cơ tôn giáo và kinh tế, và có phần nào đó quá cấp tiến trong các hoạt động của mình. Nhưng người Hà Lan thì nhẹ nhàng hơn, họ nhấn mạnh buôn bán và ít đề cao tôn giáo, nên… dễ nhận được sự đồng cảm, chấp nhận từ phía người Nhật Bản. Từ đó hình thành nên phong trào Rangaku – Lan học – 蘭學, một dòng chảy âm thầm trong xã hội Nhật, tuy bế quan tỏa cảng, nhưng khác với Việt Nam, người Nhật vẫn âm thầm học hỏi, tiếp nhận văn minh phương Tây qua ngã Hà Lan.

Sách vở được mua đều đặn, các dụng cụ như đồng hồ, bản đồ, kính thiên văn, kính hiển vi, các dụng cụ y tế, sách y học, giải phẫu học, etc… liên tục được nhập khẩu, từ đó, người Nhật nghiên cứu và tự chế tạo các thiết bị của riêng mình, từng bước tiến đến có những phát minh sáng kiến riêng. Các lĩnh vực mà người Nhật rất tò mò và có nhiều tìm tòi là các loại đồng hồ cơ khí chính xác, tự động hóa, và kính hiển vi dùng để quan sát và vẽ các bản mẫu sinh vật! Suốt gần 200 năm, cũng phải có một quá trình như thế nào đó, chứ không phải đùng một cái, nói Minh Trị duy tân mà duy tân ngay được! Và bên trong cũng phải có cái gì đó, thì mới có thể có công phu tìm hiểu, nghiên cứu được, chứ “tâm” chỉ có ghen ăn tức ở với lưu manh lặt vặt, thì rồi cũng chỉ “ngụy trí thức, ngụy quân tử” mà thôi!

shogun, 2024

Nhớ lại cuối tháng 5 năm đó, 2025, ốm một trận khá to đến gần 2 tuần, người thì vẫn có vẻ khỏe, vẫn đạp xe tập gym nhẹ nhẹ được, ra ngoài người ta nhìn không biết mình ốm, nhưng thực ra bên trong sốt cao mất cả giọng nói. Bệnh nó làm thay đối tâm tính con người, chỉ nằm nhà xem phim… Là cái phim cũ rích Shogun 1980 làm lại, đây là phiên bản 2024. Đương nhiên so với gần 50 năm trước sẽ có nhiều khác biệt, thời đại thông tin, người ta ngày càng biết rõ ràng hơn, kỹ càng hơn về một nền văn hóa, tất tần tật từ những chi tiết nhỏ nhất như 6, 7 lớp áo kimono phải mặc như thế nào, hay cách bài trí một căn nhà phải ra làm sao, etc… Về phương diện này thì phim khá là thành công, đầu tư kỹ lưỡng, phần đông người Nhật có vẻ như không có ý kiến gì về mức độ tái tạo chân thực của phim, đương nhiên cũng chưa biết những người thật sự khó tính nghĩ như thế nào. Phải nói là Nhật Bản và phương Tây có một sự giao lưu văn hóa từ rất sớm!

Và trong chừng mực nào đó có sự thông hiểu nhất định giữa Đông – Tây hai bên, nên phương Tây muốn tái tạo một không gian văn hóa Nhật sẽ tương đối dễ thành công hơn một không gian Trung Quốc hay Nga. Nga và Trung Quốc, đó là những thế giới còn phức tạp và khác biệt đáng kể nữa, khi những kiến thức “giả cầy ta đây biết rồi” là sẽ hoàn toàn không đủ để tái tạo một không gian văn hóa mang tính nguyên bản – authentic có thể thuyết phục được người khác. Hai “đảo quốc” hoàn toàn không lớn lắm, nếu không muốn nói… khá là bé, một ở bờ Tây, một ở bờ Đông, Anh và Nhật, xem như là 2 “đầu tàu” kéo văn minh nhân loại phát triển trong những giai đoạn nào đó, liên tục đi đầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cả hai đều là hai quốc gia “quân chủ” lâu đời! Xem ra thể chế chính trị chẳng hề có tí ảnh hưởng nào, quan trọng vẫn là phẩm chất con người như thế nào mà thôi! 10 tập đầu của phần 1, có lẽ sẽ có phần 2, 3 tiếp theo…

Phim dựa trên tiều thuyết cùng tên của James Clavel, còn tiểu thuyết thì dựa trên một sự thật lịch sử: William Adams, được xem là người Anh đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, là hoa tiêu trên một đoàn tàu 5 chiếc của công ty Đông Ấn, Hà Lan, đoàn tàu vòng qua eo biển Magellan vượt Thái Bình Dương nhưng chỉ có một chiếc đi tới đích. Sau khi thuyền bị trôi dạt vào bờ biển Nhật Bản, 1960, William Adams trở thành cố vấn cho Tokugawa Ieyasu, được tin cậy và trở thành samurai – hatamoto, được phong một lãnh địa nhỏ chừng 400 koku. William Adams đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Nhật Bản giai đoạn này, ông ta giúp Tokugawa Ieyasu xây dựng một đội thương thuyền, tiến hành buôn bán với nhiều nước châu Âu và Đông Nam Á, thu mua vũ khí phục vụ cho cuộc chiến thống nhất Nhật Bản, trở thành Shogun của Tokugawa Ieyasu! William Adams lấy vợ, sinh con và sống ở Nhật 20 năm cho đến lúc qua đời, 1620.

So sánh không được chính xác cho lắm, nhưng William Adams ở Nhật cũng có thể xem như Bi Nhu Quận công tại VN vậy, mặc dù Pierre Pigneau de Behaine để lại một dấu ấn, tuy ngắn ngủi, nhưng có thể nói là sâu đậm hơn nhiều. Nguyễn Ánh đã phong cho ông ta một cái tước cao nhất có thể, vì lúc đó chính thức vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng của Lê Hiển Tông (dù nhà vua đã qua đời), và nhà Chúa thực ra chỉ là tước vương mà thôi, nên phong đến Quận công là tột đỉnh rồi, không thể cao hơn được nữa. Ông Bi Nhu – Pigneau này, trong khoảng 15 năm cho đến lúc mất, đã cố vấn cho Nguyễn vương xây dựng đường sá, xây đắp thành lũy, khai mỏ nấu quặng, rèn đúc vũ khí, chia dân cư thành các vùng chuyên canh trồng cây “công nghiệp”, huấn luyện binh lính theo lối Tây phương, làm trung gian mua tàu thuyền, vũ khí, và có lẽ đóng góp quan trọng nhất là tham gia kiến thiết hạm đội thuyền chèo tay – galleys hùng mạnh của nhà Chúa!

khách gia thổ lâu

Tiếng Hoa có 5 nhánh ngôn ngữ con: Phổ thông thoại – 普通话, là quốc ngữ hiện nay, Ngô – là phương ngôn của vùng Thượng Hải, Khách Gia – 客家 là ngôn ngữ của cộng đồng Khách Gia, Việt – là ngôn ngữ của Quảng Đông, và Mân – một phương ngữ có “gốc” Phúc Kiến. 5 nhánh ngôn ngữ này tuy không thông hiểu nhau được (mutual intelligible) nhưng đều từ một gốc tiếng Hoa cổ phát triển ra, do các cộng đồng người Hoa di cư đi khắp nơi, những cuộc di cư từ 2000 năm trước hoặc sớm hơn! Ví dụ như Triệu Đà, người Chính Định, Hà Bắc được nhà Tần bổ nhiệm làm huyện lệnh Phiên Ngung, và ông ta đã di cư một số lượng lớn người phía Bắc xuống Quảng Đông.

Ví dụ thứ 2 là người Khách Gia, đã bắt đầu đi cư từ đồng bằng Hoa Hạ xuống phía Nam cách đây ít nhất 1000 năm. Khi đến nơi, họ gặp những người Quảng Đông (đã di cư đến đó từ trước) và cho rằng đó là “Chủ, là người bản địa”, tự nhận mình là “Khách”, nhưng đến khi ngồi lại, tra thư tịch, truy tìm các tài liệu viết (ví dụ như gia phả) thì hóa ra, Quảng Đông, Triều Châu, hay Khách Gia đều là người Trung Nguyên di cư cả! Lịch sử có nhiều những ngộ nhận như vậy, không phải lúc nào cũng tường minh, rõ ràng! Và trên bước đường di cư có sự kết hợp nhất định với những yếu tố “bản địa” ở đó từ trước, như Miêu, Tráng. Tiếng Việt bị ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Hoa trung đại…

Nhất là từ thời Đường, thêm các thành phần tạm gọi là “Bách Việt” (thuật ngữ này theo tôi chỉ là một cách gom nhóm chung chung vô cùng thiếu chính xác), nên đôi khi ta bắt gặp một số điểm tương đồng “đáng ngạc nhiên” giữa tiếng Việt và tiếng Triều Châu, Khách Gia, Quảng Đông. Vì đều phát triển từ, hoặc chịu ảnh hưởng nặng bởi tiếng Hoa, đây là điều chẳng có gì khó hiểu, dù về địa lý hay lịch sử thì người Việt với người Khách Gia, Triều Châu chẳng có mấy liên hệ! Nhưng có một số khá đông những người tự gọi là nhà “ngôn ngữ học” (tôi gọi là lưu manh giả cầy), vin vào một số điểm tương đồng bất chợt, ngẫu nhiên rồi cho rằng… tiếng Việt, Khách Gia, Triều Châu, Quảng Đông là… cùng một họ Bách Việt!

Tiếp nữa là… nói ngược, tìm cách ngụy tạo ra cái gọi là “một Bách Việt thống nhất và hùng mạnh”, bằng cách gom vào nó những nguồn khác một cách… “bá vơ”. Bọn Tây nó có cái chiêu là “đa nguyên”, “đa thành phần”, điều này hiển nhiên có phần đúng khi sự phát triển của văn minh là cấu thành của vô số yếu tố! Nhưng “đa nguyên, đa thành phần” hoàn toàn khác với kiểu muốn vẽ ra bất kỳ sự “hoang đường, tùy ý” nào cũng được! Như cách nói của một số “ngáo gia” Việt thì chỉ có Bách Việt thôi! Không cần nghiên cứu gì, chỉ dựa trên nguồn Tây, Tàu công bố, xào xáo lại, đưa vào đó những mẹo ngôn từ thiểu năng, đảo lộn trật tự thời gian, và vô số “lú luận” càn quấy để ngụy tạo lịch sử!

Cứ như thế, khắp phía Nam sông Trường Giang đều là Bách Việt cả, chúng nó nói một lúc thì… không có cái gì gọi là Hoa Hạ cả, chỉ có Bách Việt và Mông Cổ mà thôi! Hoa Hạ thực chất chỉ là sản phẩm lai tạo giữa Mông Cổ và Bách Việt! Và Bách Việt mới là cái gốc, cái nguồn lớn, sinh ra mọi thứ! Những dạng thông tin như vậy tạo ra không ít nhiễu loạn trong cộng đồng! Cái sự cuồng loạn của một số thành phần đúng là… vô đối, gọi là tâm thần không sai! Trống hơ trống hoác: chữ viết không có, tư tưởng sách vở cũng không, khoa học kỹ thuật vẫn như thời bán khai, văn hóa cộng đồng đến tận giờ vẫn như công xã nguyên thủy, nhưng tâm thì cuồng loạn vô đối, chính là 2 mặt của 1 đồng xu mà thôi!

châu ấn thuyền – red seal ships

Ai đã đọc tiểu thuyết Tướng quân – Shogun – James Clavell thì sẽ tưởng tượng được những bước sơ khai đầu tiên trong việc thành lập đội các Châu Ấn thuyền ở Nhật Bản. Đương thời, ở Nhật lúc đó, ngoại thương là đặc quyền nằm trong tay các Tướng quân, cần phải có một văn bản (giấy phép) có dấu triện đỏ (châu ấn) thì các con thuyền này mới xuất ngoại buôn bán được. Châu Ấn thuyền là những con tàu khoảng 500 ~ 700 tấn, có kết cấu khá đặc biệt khi kết hợp các kỹ thuật Đông lẫn Tây trên con thuyền, có các lá buồm mành (junk) kiểu TQ và buồm vuông (square) kiểu Tây phương.

Tại thời điểm phát triển thịnh vượng nhất, Nhật có hơn 350 thuyền như vậy, buôn bán với Đài Loan, TQ, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Phi, Indo, etc… Cần phải nói rõ là việc buôn bán này là siêu lợi nhuận! Ví dụ như quế (cinnamon) mua được ở VN, đem về tới Nhật sẽ có giá gấp đôi, gỗ đàn hương (sandalwood) đem về từ Nam Á sẽ có giá gấp ba! Đi ra biển với bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm, đem về mức lời 200%, còn thua cả một số streamer VN hiện đại chỉ buôn nước bọt online mà đạt được mức lợi nhuận 2000% (hai ngàn phần trăm), đúng dân trí nó… không thể tự luận ra được!

Rất nhiều nước được lợi từ việc mua bán này, các chúa Trịnh, Nguyễn cần nhất từ Nhật Bản là đao (và vũ khí nói chung)! Cứ phải nói thẳng ra rằng… hàng chúng ta tự làm ra không đạt, không xài được! 350 tàu là một lực lượng khổng lồ, gồm các võ sĩ (samurai) chuyên nghiệp, nên người Nhật đã tìm cách thành lập cả một khu “thuộc địa” ở Thái Lan, trong chừng mực nào đó lấn át cả quyền lực Hoàng gia Thái, chỉ duy trì một đội quân vài trăm người mà tự tung tự tác đến mức người Thái không làm gì được. Và có vẻ như người Nhật cũng đã thử làm điều tương tự ở VN nhưng thất bại!

hq-671

Nhìn mãi những đường cong của HQ-671, con tàu “bảo vật quốc gia”, thực sự rất rất đẹp! Thông số: dài 31m, rộng 5.8m, lượng giãn nước 165 tấn, từ đó suy ra phần mạn ướt (draft) chỉ khoảng 1.4 ~ 1.7m, chính là thiết kế để cập trực tiếp vào những bãi biển, cửa sông nước nông. Không biết ai đã thiết kế con tàu này, nhưng đường nét của nó có dáng dấp một chiếc thuyền cứu hộ (lifeboat) cổ điển được phóng to lên, với hai đầu nhọn (double-ender). Với thiết kế như thế thì thuyền sẽ tương đối kém ổn định, bắt buộc phải dùng nhiều hàng (hay két nước) để giằng tàu.

Loại tàu như thế này thường đòi hỏi người thuyền trưởng phải có hiểu biết, nhạy cảm nhất định về cách cân bằng tàu. Thường thì sẽ đem theo lượng nước ngọt, dầu máy, nhu yếu phẩm đủ dùng cho khoảng 3 tuần hải hành, nhưng cũng vì thế mà thường chỉ chở được 50 ~ 60 tấn vũ khí. Những đường cong nhìn rất vừa con mắt, mặc dù về thi công có những chỗ vẫn có thể làm tốt hơn, như chân vịt hay bánh lái hơi mong manh, không được bảo vệ tốt, khá kém nếu so với tiêu chuẩn của một thuyền cứu hộ, và cabin hơi cao, cao một cách không cần thiết!

đoàn 371

Ngoài Đoàn 125 vận tải thuộc Hải quân và đội 128 “giao thông đường thủy” thuộc Cục tình báo, còn có một đội “tàu không số” khác nữa mang số hiệu Đoàn 371, hoạt động… “công khai, hợp pháp”, do Tư Mau (Phan Văn Nhờ) làm đoàn trưởng, hoạt động dưới vỏ bọc Công ty Việt Long, đăng ký kinh doanh hợp pháp ở miền Nam, ban đầu là các tàu “buôn muối” chạy tuyến Đà Nẵng – Sài Gòn (và chạy thẳng ra Bắc nhận vũ khí). Vào vai một nhà “tư sản” hoạt động đa ngành, từ buôn muối, đánh cá, và nhiều lĩnh vực khác, sở hữu 7, 8 tàu nhiều kích cỡ, có chiếc đến 120 tấn, máy 500HP!

Công ty có cơ sở rộng khắp từ miền Trung cho đến miền Nam, hoạt động một thời gian thì bị chỉ điểm, địch phá được một số cơ sở, nhưng may mắn vẫn giữ được nhiều tàu. Chỉ huy Tư Mau phải đi viện Quân y 108 ở miền Bắc, tiến hành các đợt giải phẫu thẩm mỹ thay hình đổi dạng, đến người quen cũng không thể nhận ra, sau đó lại vào Nam xây dựng vỏ bọc mới, tiếp tục vận chuyển vũ khí trên biển. Thông tin giải mật đến ngày nay cho chúng ta biết về 3 đội tàu “không số” đó, nhưng biết đâu vẫn còn những “hạm đội bóng tối – shadow fleet” khác mà thông tin chưa giải mật! :D

tàu không số, 2

Về các con tàu không số vỏ sắt do VN tự thiết kế và tự đóng (và sau đó còn “chuyển giao bản vẽ” cho TQ đóng)… Em tin chắc là các bác ấy xạo, có thể là đã tự đóng thật, nhưng đóng ra không xài được, cuối cùng toàn phải xài tàu TQ. Theo các “ghi chép” thì các con tàu không số vỏ sắt đóng ở Tam Bạc có tải trọng (hữu ích) chừng 100 tấn, dài 28m, rộng 5.8m, động cơ 235 HP, từ đó suy ra phần mạn tàu ướt (draft) chỉ cỡ 1m, được cho là đã chạy tốt trong những cuộc rượt đuổi với tốc độ trên 10 hải lý/giờ với hải quân Mỹ và VNCH. Sẽ là vô nghĩa nếu cố tình đưa ra những thông tin rượt đuổi như vậy, vì các tàu Mỹ, như các tàu của lực lượng tuần duyên USCGC đều có tốc độ trên 16 knot, các tàu khu trục cỡ nhỏ như lớp Edsall có tốc độ đến 21 knot, các giang thuyền PCF còn nhanh hơn, đến 32 knot!

Tàu hàng nặng không cách nào đua với tàu chiến được, không nên so sánh vô lối! Và chỉ cần tính nhẩm một chút là biết ngay con số 10 hải lý/giờ đó là không thật! Dùng công thức Crouch tính xấp xỉ tốc độ tàu, tốc độ tối đa (top speed) = C / sqrt (Displacement / HP), tải trọng ~ 100 tấn ~ 220000 pound, tốc độ tối đa ~ 10.5 knot, C là hằng số có giá trị khoảng 150, thì suy ra công suất máy phải có là 1078 HP! Nhưng thông tin về máy lắp trên các tàu này là máy CHDC Đức, 235 HP! Cũng dùng công thức đó sẽ tính được, nếu máy là 235 HP thì tốc độ tối đa chỉ khoảng 5 knot thôi, muốn tăng tốc độ lên gấp đôi, 10 knot, thì công suất phải tăng theo mũ bình phương, tức là gấp 4! Hoặc phải lắp đến 4, 5 máy thì mới đạt được tốc độ trên 10 knot. Mà lắp 4, 5 máy thì phần hộp số truyền động…

Kết nối các động cơ với chân vịt không phải là chuyện đơn giản. Có rất nhiều thứ “nhỏ nhoi” nhưng không đơn giản trên một con tàu, ví dụ như stuffing-box – hộp nối trục chân vịt không cho nước thấm vào tàu, hay các hệ thống máy bơm, các loại hộp số giảm tốc là chắc chắn VN chưa làm được. Em không ngại nói thẳng như vậy, không thì các bố lại tán hưu tán vượn những chuyện hão huyền, không thật! Tự thiết kế một con tàu nhỏ, vẽ mô hình trên giấy, tính toán thông số lý thuyết… thực chất không khó, chỉ cần học sơ bộ một năm thiết kế hàng hải là làm được, đây mới là tàu nhỏ, chưa phải là “thuyền – ship”. Nhưng đóng được tàu chạy tốt, chạy bền thì… rất khó, toàn là những chuyện kỹ thuật “lặt vặt”, thực tế là đến tận ngày nay, tàu do chúng ta đóng ra vẫn chưa xài tốt được!

tàu không số

Về chiến dịch Market Time (Mỹ) hay… các con tàu không số đã thất bại như thế nào. Chuyện các con tàu không số VN trong kháng chiến chống Mỹ thì mọi người đã biết nhiều rồi, vinh quang thì nhiều và đắng cay cũng không ít. Bài này nói về cách người Mỹ đã làm thất bại kế hoạch vận chuyển trên biển của VN. Nhưng trước tiên là một vài câu chuyện bên lề, như khi bắt đầu làm một chuyện gì đó, từ lúc sơ khai cho đến lúc lão luyện, đương nhiên sẽ có rất nhiều bài học đắt giá. Năm 1963, một con tàu không số chở quá tải, vừa xuất bến đã bị hiện tượng phá nước, có nguy cơ chìm, phải điện về sở chỉ huy điều tàu ra kéo vào, may mà đã kéo kịp. Cũng trong năm 1963, một tàu giao hàng xong trên đường trở ra thì mắc cạn ở Hoàng Sa, tàu không chở hàng, nhẹ mà vẫn không cứu được, đành phải cho nổ hũy tàu. Trừ những chuyến đầu tiên trong năm 1962 là đi bằng tàu vỏ gỗ, thì các con tàu xuất bến từ 1963 trở về sau đều là tàu vỏ sắt, tải trọng khoảng 100 tấn! Lưu ý đây là tải trọng tối đa, thực tế lượng vũ khí chở trên tàu chỉ khoảng 40~60 tấn. Khi trở ra chạy tàu rỗng, kém ổn định nên các thủy thủ chặt nhiều cây dừa nước xếp vô trong khoang. Về đến bến K15 Hải Phòng thì vứt đại mấy cây dừa nước xuống biển.

Mấy cây dừa nước này nảy nở sinh sôi làm người dân địa phương sinh nghi vì họ biết rằng dừa nước là giống cây chỉ có ở miền Nam, miền Bắc không có. Mà bến K15 là tuyệt mật, ngay cả chính quyền tp. Hải Phòng chỉ biết là cơ sở quân đội chứ không biết bên trong làm gì. Sau vụ này, bến K15 cho người đi nhổ sạch mấy cây dừa nước và… tổ chức họp rút kinh nghiệm về công tác bảo mật! :D Năm 1963, đi 22 chuyến đều thành công, giao 1318 tấn vũ khí! Năm 1964, đi 55 chuyến đều thành công, giao 2971 tấn vũ khí! Năm 1965 đi 18 chuyến, 15 chuyến thành công, giao 810 tấn vũ khí, sau sự kiện tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô thì người Mỹ tăng cường các biện pháp phòng chống “cộng sản xâm nhập”, và phải nói các biện pháp này khá hiệu quả. Năm 1966 đi 8 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1967 đi 5 chuyến đều thất bại! Năm 1968 đi 8 chuyến đều thất bại! Năm 1969 tổ chức 4 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1970 tổ chức 17 chuyến có 6 chuyến thành công. Năm 1971, tổ chức 15 chuyến có 2 chuyến thành công, Năm 1972, tổ chức 12 chuyến cũng chỉ 2 chuyến thành công. Như vậy, cho đến khi ký kết Hiệp định Paris và người Mỹ rút khỏi VN thì họ đã khá thành công trong việc ngăn chặn các con tàu không số.

Người Mỹ đã thử nghiệm nhiều cách thức khác nhau, nhưng đến cỡ năm 1965 thì họ đã hoàn thiện “quy trình làm việc”, dùng các con tàu “radar picket escorts” giám sát mặt biển, những loại “SC radar” lúc đó có tầm hoạt động không quá lớn, tối đa chỉ khoảng 120km. Khi phát hiện được những tàu khả nghi thì cho máy bay ra quan sát, chụp ảnh, và khi đã xác định là “đối tượng tình nghi” thì dùng các tàu khu trục cỡ nhỏ để theo dõi, đeo bám. Các con tàu không số của VN dùng chiến thuật phổ biến là lảng vảng ở ngoài vùng biển quốc tế, tìm cơ hội, chờ đối phương sơ hở là đâm thật nhanh vào bờ, dỡ hàng ngay trong đêm và rời đi vào sáng hôm sau. Phía Mỹ dần biết được quy luật nên tổ chức theo dõi, đeo bám rất sát sao. Ở đây có một điểm cần lưu ý, người Mỹ, dù biết rõ đó là các tàu VN chở vũ khí thâm nhập miền Nam, nhưng họ chỉ tổ chức đeo bám chứ không tấn công, cũng không đâm va. Chỉ khi nào tàu Việt Nam tìm cách xâm nhập vào gần bờ thì mới điều các tàu chiến cỡ nhỏ ven bờ ra vây bắt. Đây là một trong những “quy tắc giao chiến – rules of engagement” của người Mỹ, nếu tàu còn ở trong hải phận quốc tế thì… vẫn có quyền tự do đi lại. Đã có nhiều tình huống, các con tàu không số bị đeo bám, theo dõi quá sát sao…

Không đi tiếp được, phải quay trở ngược ra Bắc. Người Việt chúng ta thường ngạc nhiên trước các quy tắc giao chiến này, đã đánh nhau thì còn quy tắc gì nữa, thực ra không phải vậy! Chiến tranh cũng phải có luật lệ, quy tắc, điều đó rất thường khi là có lợi cho các bên tham chiến. Một điểm đáng lưu ý là, nếu lúc đó, chúng ta quay trở lại sử dụng các con tàu vỏ gỗ, thì cơ hội, xác suất thành công sẽ cao hơn rất nhiều, do vỏ sắt phản xạ radar tốt, trong khi vỏ gỗ hấp thu tín hiệu radar, làm cho đối phương rất khó dò tìm. Nhưng đáng tiếc là, và phải nói thẳng là, các con tàu vỏ gỗ đóng theo kiểu truyền thống VN (không có sống đáy) chỉ có thể làm tàu đánh cá mà thôi, không đủ độ cứng cáp, vững bền để chở đến 50, 60 tấn vũ khí và thực hiện các hải trình khó khăn, phức tạp. Và dù có nhiều thông tin về một vài con tàu 100 tấn vỏ sắt do chúng ta tự thiết kế, tự đóng ở Tam Bạc nhưng đọc các con số cũng luận ra được nhiều điều bất hợp lý, xài được hay không là một dấu chấm hỏi (đến tận ngày nay, các con tàu chúng ta tự đóng có xài được hay không cũng vẫn là dấu hỏi), và thực tế là, do Mỹ đánh phá bằng không quân ác liệt, nên các con tàu không số do Đoàn 125 sử dụng phần nhiều đều là do nước bạn TQ đóng!