hải âu phi xứ

Vô tình nước chảy về đông,
Nghìn năm cánh mộng tang bồng còn bay…
[ 1 ]

Cuộc đời tôi cho đến lúc này, chỉ có một ước mơ nhỏ nhoi, đó là được đi về nơi… hải âu phi xứ (tên một tiểu thuyết của Quỳnh Dao – chỉ mượn cái tên chứ chưa đọc truyện nào của Quỳnh Dao bao giờ). Nơi ấy, chốn hải âu ngày đêm bay lượn trên sóng nước, cuộc sống quy về trong những cặp khái niệm “tối giản” mà bạn có thể nghĩ đến, ví dụ như: wood and water, hoặc là: boat and rice, hay trong một cách diễn đạt Việt Nam dân dã hơn: gạo trắng trăng thanh.

Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ… họ đã làm được một việc là phịa ra những điều đẹp đẽ (rất có thể là không thật) và thuyết phục được người khác (trong đó có cả tôi) về những điều đó. Nhưng thực tế thì, rất ít trong số họ thật sự sống được (hay thực sự muốn sống) trong những điều họ đã vẽ nên ấy. Tôi không tài năng và cũng chẳng suy nghĩ được nhiều như họ, nhưng điều tôi nghĩ và làm sẽ luôn luôn song hành làm một. Đến một ngày, một ngày nào đó… tôi sẽ đi, đi về nơi… hải âu phi xứ.

[ 1 ] Câu thơ khắc trên bia đá bên cầu qua sông đào Bạch Yến, phía Tây kinh thành Huế.

海鷗飛處

giang hồ

鳳有高梧鶴有松,偶來江外寄行蹤。。。 [ 1 ]

Nhiều đêm đi chơi xuồng kayak, 4, 5 tiếng đồng hồ một mình chèo trong bóng tối mênh mông, không một ánh điện, không biết đâu là bến bờ, tuyệt nhiên yên tịnh. Hoàn toàn phó theo cảm giác vì không thể nhìn thấy gì, toàn những bóng đen mờ ảo, cũng đã quá thuộc sông nước quanh đây. Quả nhiên không sai đây chính là khung cảnh lửa chài, cây bến còn vương giấc hồ từng chứng kiến bao nhiêu tiền kiếp về trước.

Rồi những đêm rằm trăng sáng rạng ngời, cảnh quang thuyền một lá đông tây lặng ngắt, một vầng trăng trong vắt lòng sông thật hứng thú vô cùng. Chốn này dường tách biệt hẳn với hồng trần thị phi, an nhiên tự tại không còn biết hôm nay là của ngày tháng năm nào nữa. Nhìn lên nghĩ bụng chị Hằng chắc là lạnh lắm, rồi tự hỏi phải chăng đây là cõi trời nguyệt minh tinh hy, ô thước nam phi thủa nào!?

Lại đôi khi gặp phải luồng cá lớn, dài trên hàng cây số, cá rượt đuổi theo song song như muốn đùa vui cùng với chiếc thuyền, hàng ngàn hàng vạn con bé nhỏ vọt lên khỏi mặt nước, réo rắt như một trận mưa rào mùa hạ. Hàng trăm con như những mũi phi tiêu lao qua mui thuyền, nhiều con rớt cả vào trong khoang. Rồi bỗng dưng bắt gặp mình ngâm nga khúc huống ta vớt củi buông câu, lứa đôi tôm cá bạn bầu hươu nai…

Cái sự khoái hoạt, phóng dật trong chốn giang hồ thật không một từ ngữ, không một bút mực nào gột tả hết cho được! Ghi lại vài dòng để còn gợi nhớ đến cảm giác, không gian này! Mở ngoặc nói cho rõ ràng rằng, từ nguyên, giang hồ – 江湖, đơn giản tức là giang – – sông và hồ – – hồ, nghĩa gốc vốn như thế, chỉ nơi sông nước, nhàn cư, ẩn dật… không phải hiểu theo nghĩa phái sinh của nó.

[ 1 ] Phượng hữu cao ngô, hạc hữu tùng, Ngẫu lai giang ngoại ký hành tung…, trích bài Ngạc Châu ngụ quán Nghiêm Giản trạch – Nguyên Chẩn.

lãng mạn

Lao xao sóng vỗ ngọn tùng,
Gian nan là nợ anh hùng phải vay!
浪漫

Lãng mạn, từ nguyên: lãng () là sóng, mạn () tức tràn đầy, nghĩa gốc của lãng mạn như thế. Không phải ngồi một chỗ, đọc vài câu thơ, hát vài ý nhạc vớ vẩn mà phần lớn trường hợp, còn không tự phân biệt được đâu là loại hay, loại dở, loại tầm tầm, loại nhảm nhí rẻ tiền… (chưa bao giờ các phẩm chất cơ bản con người lại xuống cấp mạt hạng như bây giờ). Lãng mạn tức là… sóng tràn đầy, thế thôi; đâu đó ngoài kia, có một không gian thật… lãng mạn!

tuế vãn

蘇軾 – 夜歸臨皋

小舟从此逝
江海寄浮生

Viết bởi thư hoạ gia Lê Quốc Việt, Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội, một ngày cuối năm Quý Tỵ. Lạc khoản đề: Tuế tại Giáp Ngọ niên chi mạnh xuân nguyệt cốc nhật – Kính phụng Khải Xuyên huynh thanh thưởng – Chân Thanh Bái Thư. Bảo: giống thư pháp Tống Huy Tông e chỉ là cách hiểu nông cạn bề mặt; có điều gì rất Việt trong thư pháp này! Đôi dòng nói thay ước nguyện năm mới!

million scarlet roses

Ca khúc hầu như ai cũng biết, ai cũng thuộc, nhưng hãy biết kỹ hơn một chút về bài này… Nguyên phổ thơ của Andrei Voznesensky, người được xem là truyền nhân của Boris Pasternak (nhà văn mà tôi ngưỡng mộ nhất trên tất cả những người khác). Andrei Voznesensky là người mà Pasternak đã phải nói: tôi rất vui khi còn sống để thấy một văn tài như anh xuất hiện.

Million scarlet roses – Anna Pugacheva 

Bài thơ là do ông viết đề tặng Anna Pugacheva, nữ danh ca trình bày bài hát bên đây. Tuy không hiểu tiếng Nga, nhưng hai bản dịch Anh, Việt dưới đây cũng cho tôi tìm lại được phần nào ý thơ trong nguyên tác!

Once upon a time, there lived an artist,
A house he had and canvases.
He felled in love with an actress,
The one who loved flowers.

He then sold his house,
Sold his paintings and shelter.
And for all those money he bought,
A entire sea of flowers.

Millions of scarlet roses,
Through the window you can see.
Whoever’s in love with you seriously,
Will turn his life, for you, into flowers.

In the morning, in front of the window
Maybe you would be out of mind.
Like the continuation of a dream,
The square is full of flowers.

The heart freezes,
What’s a rich man fooling around here?
Whereas beyond the window,
Barely is standing the poor artist.

The meeting was short,
That night, a train took her away.
But in her life from then there is,
A song called: “The mad rose”.

The artist lived alone,
Lots of trouble he’d gone through.
But in his life there’d been,
A whole square full of flowers.

Xưa một chàng họa sĩ,
Có tranh và có nhà.
Bỗng đem lòng yêu quý,
Một nàng rất mê hoa.

Và chiều lòng người đẹp,
Để lấy tiền mua hoa.
Chàng đã đem bán hết,
Cả tranh và cả nhà.

Chàng đã mua hàng triệu bông hồng,
Ngoài cửa sổ cứ nhìn ta sẽ thấy.
Rằng người yêu có yêu thật hay không?
Khi bán nhà để mua hoa như vậy!

Sáng hôm sau thức dậy,
Nàng nhìn ra lặng người.
Tưởng đang mơ vì thấy,
Cả một rừng hoa tươi.

Nàng ngạc nhiên, đang nghĩ,
Ai đây chắc rất giàu?
Thì thấy chàng họa sĩ,
Đang tội nghiệp, cúi đầu.

Họ gặp nhau chỉ vậy,
Rồi đêm nàng đi xa.
Nhưng đời nàng từ đấy,
Có bài hát về hoa.

Có chàng họa sĩ nọ,
Vẫn vợ không, tiền không.
Nhưng đời chàng từng có,
Cả một triệu bông hồng.

17 tháng 2…

Anh ở Lào Cai, Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Tháng hai mùa này con nước, Lắng phù sa in dấu đôi bờ. Biết em năm ngóng tháng chờ, Cứ chiều chiều ra sông gánh nước. Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt, Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong. Đài báo gió mùa em thương ở đầu sông, Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét. Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết, Tay em ngập dưới bùn lúa có thẳng hàng không? Nếu chúng mình còn cái thủa dung dăng, Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy. Em ra sông chắc em sẽ thấy, Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông… Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng, Nếu gặp dòng sông ngầu lên sắc đỏ, Là niềm thương anh gửi về em đó, Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh! (Gửi em ở cuối sông Hồng – Dương Soái)

Gởi em ở cuối sông Hồng - Anh Thơ, Việt Hoàn 

Đêm tháng Năm vào bình độ bốn trăm, Đoàn xe trôi êm êm, tầm đại bác. Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc, Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu!? Lắc lư xe quan tài vượt về sau, Máu dỏ xuống đường cuốn vào cát bụi. Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi, Tốp thương binh bê bết máu mặt mày. Đám cướp kia Thánh, Phật dạy ăn chay, Chẳng kiêng gì ngày rằm mùng một. Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt, Tưới máu người cướp, giữ đất biên cương. Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân, Ông bảo rằng: sống chết thời vận số. Cả trung đoàn ào ào như thác lũ, Bình độ Bốn trăm bình địa trận người. Những chàng trai sống chết trận này ơi! Mưa đổ xuống ông trời tuôn nước mắt. Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất, Người trở về ăn, sống, ở ra sao? (Bình độ bốn trăm – Nguyễn Mạnh Hùng)

handwriting

This is part of the really fascinating broader concept of neo – analog as mentioned in a previous post. Below is my handwriting with a stylus on my iPad (click to see large version), not too bad after 10 years of solely keyboard and mouse, not pen, right? Also, I’m quite excited with the coming Kindle touch (which should be delivered at end of the month). My thought is that it’s just a matter of time before e – ink would have color and refresh rate capabilities near those of conventional displays, and serious applications would be feasible within the vintage look and feel of e – ink!

bài thơ đầu tiên

Bài thơ đầu tiên tôi thuộc, một cái học thuộc lòng “cưỡng bức”, trước khi biết đọc, biết viết. Ngay cả trước khi biết nói cho rành mạch, rõ ràng thì tôi đã nằm lòng hơn trăm câu của Chế Lan Viên này. Đơn giản là từ lúc nằm nôi thì tôi đã được (bị) ru bằng bài thơ này mỗi ngày, đến nỗi thuộc như cháo lúc nào không hay, ví dụ như: Ôi Trường Sơn vĩ đại của ta ơi, Ta tựa vào ngươi kéo pháo lên đồi… hoặc là: Ôi thương thay những thế kỷ thiếu anh hùng, Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận…

Bản dưới đây là chép lại theo trí nhớ của tôi nên có đôi chỗ khác biệt với bản hiện đang phổ biến lưu hành. Đó là chuyện của một thời (một thế hệ) đầy lý tưởng (ảo tưởng!?), còn đây là chuyện của thời bây giờ, đề thi Văn năm nay nên ra như thế này:

Hãy điền chữ còn thiếu vào đoạn thơ sau
(liệu hồn mà điền cho đúng):

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm,
Tổ quốc có bao giờ …… thế này chăng?

Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng – Chế Lan Viên

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất,
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành Văn.
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng.

Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả,
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn.
Trái cây rơi vào áo người hứng quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ,
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn.

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa.
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời,
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ,
Văn Chiêu Hồn từng thấm giọt mưa rơi!

Có phải cha ông đến sớm chăng và cháu con thì lại chậm?
Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút giây này.
Buổi đất nước của Hùng Vương có Đảng,
Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ.
Thịt xương ta, giặc phơi ngoài bãi bắn.
Lại tái sinh từ Pắc Bó, Ba Tơ.

Không ai có thể ngủ yên trong đời chật,
Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng.
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm.
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng.

Ôi Trường Sơn vĩ đại của ta ơi!
Ta tựa vào ngươi, kéo pháo lên đồi.
Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát,
Dưới chân ta, đến đầu hàng Đờ-cát.
Rồng năm móng vua quan thành bụi đất,
Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!
Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tác
Chim cu gù, chim cu gáy xa xa.
Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cách,
Đêm no ấm, giọng chèo khuya khoan nhặt,
Lúa hên mùa xin lúa chín về quê ta.

Rồi với đôi bàn tay trắng từ Đinh, Lý, Trần, Lê…
Đảng làm nên công nghiệp.
Điện trời ta là sóng nước sông Hồng.
An Dương Vương hãy dậy cùng ta xây sắt thép,
Loa thành này có đẹp mắt Người chăng?
Ong bay nhà khu tỉnh ủy Hưng Yên,
Mật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi em,
Cây xanh ngắt đất bạc mầu Vĩnh Phúc.

Ôi cái thuở lòng ta yêu Tổ quốc,
Hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên?
Ôi cái buổi sinh thành và tái tạo,
Khi thiếu súng, khi thì thiếu gạo,
Nhưng phù sa này đẻ ra những Cà Mau,
Thịnh vượng mai sau.

Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu,
Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau?
Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!
Ôi thương thay những thế kỷ thiếu anh hùng,
Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận,
Nhà thơ sinh đồng thời với mưa phùn và những buổi hoàng hôn.
Cả đất nước trắng một màu mây trắng,
Ai biết mây trên trời buồn hơn hay thơ mặt đất buồn hơn?

Chọn thời mà sống chăng? Ta phải chọn vào năm nào đây nhỉ?
Cho tôi sinh ra vào giữa buổi Đảng dựng xây đời,
Mắt được thấy dòng sông ra gặp bể,
Ta với mẻ thép gang đầu làm đứa trẻ sinh đôi,
Nguyễn Văn Trỗi ra đi còn dạy chúng ta cười.
Cho tôi sinh ra giữa những ngày diệt Mỹ,
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy,
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.

hoàn kiếm turtle

Ai về xứ Bắc ta đi với,
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng.
Từ độ mang gươm đi mở cõi,
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long!

This could be the last living turtle in Hoàn Kiếm lake and among the lone 4 surviving individuals (2 in China and 2 in Vietnam). The specie is known to be the largest soft – shell turtle in the world.

In 1967, this turtle died (the body preserved at Ngọc Sơn temple), leaving the turtle above the last one. His post – mortem measures: 2.1 x 1.2 meter in size, 250 kg in weight, estimated age at 400 years.

Recently, there’s been much activities on protecting the last specimen of turtle living in Hoàn Kiếm lake. Preserving efforts are being taken place to: improve his living conditions and try to mate him with similar turtles in the hope of producing offspring. All Vietnamese was taught at elementary school legends behind this sacred Hoàn Kiếm turtle. And through out our history, the turtle appeared at crucial moments for not just one time… It’s the Golden Turtle who assisted King An Dương Vương in building the ancient citadel of Cổ Loa (~ 257 BC).

The turtle later helped the king in creating a multi – shot crossbow that destroyed the Northern invaders… In the last “known” advent, the Golden Turtle was sent to reclaim the Heaven’s Will Sword, which was given to Lê Lợi who carried out a 10 years resistance war and regained Vietnam’s independence. Much like King Arthur and his sword Excalibur, myths on a sword with super power sent to assist the hero is unlikely. However, the story’s moral is much more likely and profound indeed:

One year after winning, declaring independence and becoming the Emperor (1428 AD), Lê Lợi goes for boating on a lake near his palace. In the mist of the lake, the Golden Turtle appears, advances toward the boat and asks the emperor to return the sword. It suddenly became clear to Lê Lợi that the sword was only lent to him to carry out his duty, as a powerful weapon in war time, but it now must be returned to its owner, lest it would harm him and his country if misused as it’s not the appropriate tool in peace time.

Lê Lợi draws the sword out and hands it to the Golden Turtle, who grasps it with his mouth, then disappears into deep water. Aftermath, the lake was renamed Hoàn Kiếm, which means: lake of the Returned Sword (or Sword lake for short in spoken language), now at the center of Hà Nội, Việt Nam’s capital. Wise old men argue that if this only remaining sacred creature is going to die, then who would reclaim the hammer and sickle – ☭ ?

diệc lạc hồ

双鸟齐飞

黄莺飞到北京都
会遇金鹏亦乐乎
大事未成行小事
双鸟齐飞至善图

Song điểu tề phi

Hoàng Oanh phi đáo Bắc Kinh đô,
Hội ngộ Kim Bằng diệc lạc hồ!
Đại sự vị thành, hành tiểu sự,
Song điểu tề phi chí thiện đồ!

Nhân kỷ niệm 60 năm quốc khánh nước CHND Trung Hoa (1/10/1949 ~ 1/10/2009), trích đăng lại ở đây bài thơ của một nhân viên ngoại giao đoàn Việt Nam (đăng trên Tạp chí Sông Hương, 2002): Bài thơ thể hiện tình hữu nghị cao quý của nhân dân hai nước Việt – Trung. Bài thơ được làm năm 1991, sau một thời gian dài 10 năm (kể từ 1981), khi hai nước tuy không còn những đối đầu quân sự lớn, nhưng hai bên vẫn tiến hành một đường lối tạm gọi là artillery diplomaticngoại giao pháo binh – chân lý, lẽ phải đứng trên đầu nòng đại bác.

Các địa danh đẫm máu như Vị Xuyên, Ngọc Đường, Lũng Cú… những người từng bám trụ 10 năm ở đó đến nay vẫn nhiều người còn sống, vẫn còn kể lại chuyện ngày xưa ở đâu đó quanh đây. Trở lại với bài thơ, năm 1991, một đoàn ngoại giao VN sang TQ, những bước đi đầu tiên của tiến trình bình thường hóa quan hệ. Trưởng đoàn phía VN là ông Vũ Oanh, trưởng đoàn phía TQ là ông Lý Bằng.

Cả “Oanh” và “Bằng” đều là tên của hai loài chim (không giống nhau), như được thể hiện rất rõ trong bài thơ trên đây: Song điểu tề phiĐôi chim cùng bay. Không cần phải biết chữ Hoa, đọc phiên âm Hán Việt hẳn mọi người cũng sẽ dễ dàng hiểu nội dung bài thơ! Chúng ta thấy lại cái điệp khúc Diệc lạc hồ ở đây! Diệc lạc hồ (hay Bất diệc lạc hồ) đều có thể hiểu theo nhiều kiểu: vui lắm thay, há không vui hay sao… hay theo phương ngữ miền Nam: vui quá hén!