a… joe dassin

Trước đây đã có giới thiệu về người nghệ sĩ Mỹ gốc Nga Do Thái hát tiếng Pháp Joe Dassin này qua bài hát Et si tu n’existais pas, một bài hát mà ai biết tiếng Pháp và văn hóa Pháp sẽ phải khóc khi nghe. Bài hát đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt: ngày mai không có anh trong đời, trần gian riêng em đâu có vui gì, để yêu đương để nhung nhớ và tha thiết, nỗi yêu thương ôi bao giờ hết…

A toi - Joe Dassin 

Hôm nay post tiếp bài hát đứng thứ hai trong số những ca khúc đẹp nhất của Joe: A toi, tạm dịch sang tiếng Việt là: Cho em (anh) hay Vì em (anh)… một ca khúc tuyệt hay về nhạc và có phần lời khó có thể viết hay hơn được. Thỉnh thoảng nghe lại cả hai bài hát này để A… Joe Dassin vậy!

A toi, a la façon que tu as d’être belle. A la façon que tu as d’être à moi. A tes mots tendres un peu artificiels quelquefois.

A toi, a la petite fille que tu étais. A celle que tu es encore souvent. A ton passé, à tes secrets, a tes anciens princes charmants.

[ REF ] A la vie, à l’amour. A nos nuits, à nos jours. A l’éternel retour de la chance. A l’enfant qui viendra, qui nous ressemblera. Qui sera à la fois toi et moi.

A moi, a la folie dont tu es la raison. A mes colères sans savoir pourquoi. A mes silences et à mes trahisons, quelquefois.

A moi, au temps que j’ai passé à te chercher. Aux qualités dont tu te moques bien. Aux défauts que je t’ai caché. A mes idées de baladin.

A nous, aux souvenirs que nous allons nous faire. A l’avenir et au présent surtout. A la santé de cette vieille terre, qui s’en fout.

A nous, a nos espoirs et à nos illusions. A notre prochain premier rendez-vous. A la santé de ces milliers d’amoureux, qui sont comme nous.

Vì em, vì dáng vẻ yêu kiều ngự trị trong anh, vì những lời nói đầy yêu thương (đôi khi vẫn thoảng chút giả tạo) dành cho anh.

Vì em, vì cô bé em từng là, vì người con gái là em như hiện tại, vì quá khứ, vì những điều thầm kín, vì cả những hoàng tử lịch lãm xa xưa của em.

[ REF ] Vì cuộc sống, vì tình yêu, vì đêm và vì ngày, vì những cơ hội luôn mãi còn giữa hai ta. Vì những đứa trẻ sẽ ra đời, mai đây chúng sẽ trở nên như anh và em.

Vì anh, vì những cơn giận mà em là nguyên nhân, vì những phút nóng nảy chẳng duyên cớ. Vì sự im lặng, vì cả đôi lần anh quay lưng phản bội em.

Vì anh, vì những lúc anh ghé qua tìm em. Vì những cá tính hay bị em diễu, vì những tật xấu anh thường che giấu. Vì cả những ý tưởng điên khùng chẳng giống ai của anh.

Vì chúng ta, vì những kỷ niệm ta đã có, vì hiện tại, vì tương lai. Vì cả trái đất già cỗi này, mà nó không quan tâm lắm đâu.

Vì chúng ta, vì những hy vọng và ảo tưởng. Vì lần “hẹn hò đầu tiên” sắp tới của chúng ta. Vì cả triệu cặp tình nhân như chúng ta trên khắp địa cầu.

hoài cảm

Một chiều bâng quơ, thầm hát câu: chờ nhau hoài cố nhân ơi, sương buồn che kín muôn nơi, hẹn nhau một kiếp xa xôi…, hát rồi tự hỏi không biết đây là bài gì, nhạc của ai. Mất một phút suy nghĩ mới nhớ ra bài Hoài cảm của Cung Tiến[ 1 ]. Nghĩ rồi cười một mình.

Hoài cảm - Thái Thanh 

Một bài hát nổi tiếng và phổ biến như thế này, nhiều người nghe, nhiều người biết nhưng không chắc mấy ai cảm được, nhạc Cung Tiến là như thế! Những Mắt biếc, Thu vàng, Lệ đá xanh, Hoàng hạc lâu, Hương xưa, Nguyệt cầm… mãi mãi là những ngón tay chỉ đến một mặt trăng xa xôi nào đó…

[ 1 ] Bản thu âm này trích từ trong băng nhạc Sơn ca 10: giọng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long.

la maladie d’amour

La maladie d’amour… tựa này dịch làm sao mới phải nhỉ, Căn bệnh tình yêu?? Nôm na nhưng chính xác phải là: Ốm tương tư… Dịch nghĩa phần lời: Nó hành hạ trái tim những “đứa trẻ” đang yêu, không ngoại trừ một ai từ 7 cho đến 77 tuổi. Nó cuộn chảy như một dòng sông ngạo nghễ, cuốn trôi theo nó mọi giới, mọi kiểu người. Nó làm đàn ông cất tiếng hát, làm thế giới trở nên rộng rãi hơn.

La maladie d'amour – Michel Sardou 
Lời Việt: Tình yêu vụt sáng – (?) 

Nó làm phụ nữ bật khóc, đôi khi là những tiếng khóc thầm trong bóng đêm. Lại có khi nó khiến con người ta đau khổ suốt cả cuộc đời. Chẳng ai thoát được căn bệnh tình yêu, nhưng đớn đau hơn cả lại là khi người ta lành khỏi căn bệnh đó…

japanese pentatonic

Mais, c’est la guerre pentatonique,
cinq notes au lieu de sept.

Cùng một tác giả: Kokoro No Tomo (lời Việt: Khi cô đơn em gọi tên anh), Koibito Yo (lời Việt: Người yêu dấu ơi), Ai No Shinkinro (lời Việt: Sa mạc tình yêu), Ribaibaru (lời Việt: Trời còn mưa mãi), Nokibiri (lời Việt: Tàn tro)… Xem ra nhạc Việt mượn của cô ca sĩ Mayumi Itsuwa này nhiều thật. Nhớ khi nhỏ, khoảng cỡ lớp 7, lớp 8, chưa biết bài gốc tiếng Nhật, thích bài Ngàn năm vẫn đợi này lắm, người khác thì cứ bảo: chỉ là thứ nhạc vàng đặt lời nhảm nhỉ… Giá như người ta hiểu nhạc không phải là lời nhỉ! Nó là cái intangible formation: 1 1/2 2 1/2 2!

Dakishimete (Mayumi Itsuwa) 
Ngàn năm vẫn đợi - Ngọc Lan 

mầu kỷ niệm dvd

Trời thần tiên, đôi bướm nhịp nhàng lả lơi,
Nương cánh nhau đi xa hơn cả cuộc đời!

Tập hợp 25 ca khúc tưởng niệm sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Hòa âm phối khí và kỹ thuật thâu âm tốt, a must – see DVD. Những ca khúc vang bóng một thời: Xóm đêm, Người đi qua đời tôi, Đêm nhớ trăng Sài gòn, Ly rượu mừng, trường ca Hội trùng dương, Tiếng dân chài, Sáng rừng… và đặc biệt là: Mầu kỷ niệm và Đôi mắt người Sơn Tây.

Mầu kỷ niệm - Thái Hiền 
Đôi mắt người Sơn Tây - Bích Liên 

Một số bìa nhạc Phạm Đình Chương:

văn cao – hải quân việt nam


Nếu nhạc sĩ nói chung là những con người mơ mộng thì Văn Cao là con người mơ mộng siêu việt. Ông toàn mơ về những thứ mà mãi 60, 70 năm sau chúng ta mới bắt đầu có! Có 5 bài hát được viết trong những năm 1944, 1945, trước Cách mạng tháng 8. Ngoài Tiến quân ca đã được chọn là quốc ca thì Bắc sơn là bài ca viết cho các đội du kích, Chiến sĩ Việt Nam là ca khúc cho các chiến sĩ bộ binh, Hải quân Việt NamKhông quân Việt Nam là hai bài hát cho hải quân và không quân.

Hải quân Việt Nam 
Không quân Việt Nam 

Quốc ca được viết khi tác giả Văn Cao chỉ mới nghe phong phanh về mặt trận Việt Minh, còn những bài ca cho hải, lục, không quân thì được viết khi bộ binh còn là những guerrilla bands, còn hải quân và không quân hoàn toàn chưa có một chiếc canô hay tàu lượn nào, chưa nói đến những máy bay hay tàu chiến hiện đại. Mãi gần 70 năm sau khi hai bài ca được viết, VN mới bắt đầu có cái có thể gọi là Hải quân.

Việc Nga bán cho VN 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, cộng với những tàu chiến đã và đang được đóng tại xưởng Ba Son (theo hợp đồng chuyển giao công nghệ từ Nga) đã chính thức hoá những tin tức đồn thổi lâu nay về việc thành lập Hạm đội biển Đông bao gồm khoảng 30 chiến hạm tương đối hiện đại, 6 tàu ngầm (Kilo-class submarine là lớp tàu tiên tiến) và vài chục máy bay đời mới. Thảo nào dạo gần đây, đài báo nói về biên giới, Trường Sa, Hoàng Sa có vẻ rõ ràng mạnh bạo hẳn lên, có đâu cứ “giấm giúi” như trước mãi!

chhom nimol

    Integration 
   Connect four 
   Seeing hands 
     Nights 

Got to know about music of our neighbor, Cambodia. Sure it used to be a country with brilliant art traditions, from dancing, music to architecture… Quite a strange combination: Cambodian singer Chhom Nimol and the Los Angeles world-music rock-band Dengue Fever.

Together, they brought back popular music of the 60s in Cambodia, which was Khmer music with Western influences, now retrofitted in a new psychedelic style. You’re listening to some songs in Venus On Earth album, selected as one of the best world music records of 2008 by iTunes Store. Beautiful!

the rain on the leaves

Some interesting recently – collected video documents: Phạm Duy with Steve Addiss on his song: Giọt mưa trên lá (the rain on the leaves) and Phạm Duy with the legendary Pete Seeger and the American folk song Clementine. Center image: the original poster of the song, and the original Vietnamese rendition (by the singer Thái Thanh) on the left.

Giọt mưa trên lá - Thái Thanh 
The rain on the leaves 
Steve Addiss & Phạm Duy

It’s not an abnormal thing to see church – music – influential songs like this to be the first to catch notices from Westerners (the Vietnamese – native pentatonic is harder to digest however). Indeed the song has been thought by some as a translation of a certain American folk song, which is absolutely not. The same is applied to several other Vietnamese songs, such as this Scents of Yesteryears, which easily touch the hearts of listeners outside VN.

songs for free men

…The reasoning behind his persecution centered not only on his beliefs in socialism and friendship with the peoples of the Soviet Union but also his tireless work towards the liberation of the colonial peoples of Africa, the Caribbean and Asia, his support of the International Brigades…

Listening to Paul Robeson’s album: Songs for free men… a very lovely basso profondo concert singer (he was one of the few true basses in American music), performing spirituals. Despite being a very famous and successful singer & performer, the man was kept under strict surveillance by US and UK governments for his international activities in Labor and Anti – Colonialist movements. It’s believed that he was unsuccessfully murdered by the CIA while in Moscow. He is now deserved a position in mainstream history by various posthumous recognitions.

The USSR anthem - Paul Robeson 

In the background video above (1945 victory parade in Moscow), Robeson presents the Soviet Union’s national anthem with a translated English lyric (let read the verses). I think, though it’s a very subjective idea, the song is the best anthem in the world, much more impressive than French’s La Marseillaise. The music’s still used as national anthem in Russia now, with a new lyric.

Don’t know why, but the music reminds me of spaces in the mesmerized text of Ernest Hemingway’s For whom the bell tolls (yet another American activist). As a child, I adored Hemingway’s writing style, and remembered many excerpts from his novel by heart, the spirits of International Brigades! The paragraph quoted on the left had been given a wonderful Vietnamese translation, it describes El Sordo’s final fighting on a hill, his thoughts on life and death, yet another picturesque Song for free men!

otp (one-time-pad)

OTP takes a security problem and changes it into a
distribution problem. Modern cryptography takes a
distribution problem and changes it into a security problem.

Chuỗi khoá được in trên một cuốn sổ bé xíu, để dễ cất dấu hay tiêu huỷ khi cần thiết. Mỗi lần mã hoá dùng một (hay nhiều) tờ trong cuốn sổ, những tờ đó sẽ bị huỷ sau khi dùng, do vậy mà có cái tên one-time-pad

Hình bên: một cuốn sổ OTP của KGB, được in trên giấy phim để dể cháy khi đốt

đĩa Vigenere

Tôi đến với Computer Science khá trể, nhớ lại hồi năm nhất đại học, khi lần đầu tiên học về toán tử XOR (bit-wise operator XOR), tôi đã nghĩ ngay đến phương pháp mã hoá đơn giản và hiệu quả: thông điệp cần gửi được XOR với một chuỗi ký tự ngẫu nhiên (chuỗi khoá), ở đầu nhận, người ta XOR chuỗi đã được mã hoá với chuỗi khoá lần nữa để giải mã thông điệp. Đây chính là biểu diễn máy tính của phương pháp mã hoá cổ xưa OTP (one-time-pad) được dùng từ thời đệ nhất thế chiến.

Lincolnshire Poacher (MI6 ?) 
Magnetic Fields (Deuxième Bureau?) 

OTP được các điệp viên CIA, KGB, MI6… dùng phổ biến trong hai cuộc thế chiến. Lý do thứ nhất là vì nó đơn giản: mã & giải mã chỉ cần dùng đến tính nhẩm (có thể dùng thêm bút chì và giấy), lý do thứ hai là nó rất an toàn. Tuy đã được dùng rất lâu từ trước nhưng mãi đến khoảng năm 1940, phương pháp này mới được chứng mình bằng lý thuyết về tính an toàn tuyệt đối của nó. Chứng minh được đưa ra đồng thời và độc lập bởi Claude Shannon (nhà toán học Mỹ, cha đẻ lý thuyết thông tin) và Vladimir Kotelnikov (viện sĩ khoa học Liên bang Nga, kỹ sư chế tạo rađa).

Mã & giải mã với OTP rất đơn giản, tương đương phép XOR, ta định nghĩa phép biến đổi như sau. Mã hoá = (text T(19) + khoá X(23)) mod 26 = Q(16). Giải mã = (Q(16) – khoá X(23)) mod 26 = text T(19), với 26 là kích thước bản chữ cái (phép XOR thực chất là phép cộng và modulo cho 2, với 2 là kích thước bảng chữ cái nhị phân: 0 & 1). Những người không giỏi tính nhẩm có thể dùng “thiết bị” sau (gọi là đĩa Vigenere), đĩa gồm 2 vòng giấy đặt đồng trục. Mã hoá text T với khoá X: gióng (xoay) vị trí [X] của vòng trong với vị trí [A] của vòng ngoài, tìm [T] tại vòng ngoài, ví trí tương đương [Q] tại vòng trong chính là kết quả. Giải mã là quá trình ngược lại: gióng [Q] của vòng trong với [A] của vòng ngoài, tìm [X] tại vòng trong, vị trí tương đương [T] tại vòng ngoài là văn bản gốc.

Có một cách sử dụng OTP đặc biệt gọi là chia xẻ bí mật (secret splitting), sau khi mã hoá, văn bản gốc bị huỷ thay vì khoá, sau đó khoá và văn bản mã hoá được đưa cho hai người khác nhau cất giữ. Chỉ khi hai người này cũng đồng ý nối hai “khoá” lại với nhau thì mới giải mã ra được văn bản gốc. Tương tự, có thể chia xẻ bí mật cho 3, 4,… người bằng cách sử dụng 2, 3,… khoá. Đây là cách bảo vệ các tài nguyên đặc biệt quan trọng, trách nhiệm bảo vệ đó được chia xẻ cho nhiều người, tuy nhiên lưu ý rằng nếu chỉ một phần của bí mật bị mất đi, thì bí mật đó cũng sẽ mất đi vĩnh viễn.

OTP là phương pháp mã hoá tuyệt đối an toàn nếu được sử dụng đúng cách, và là phương pháp tuyệt đối an toàn duy nhất cho đến thời điểm hiện tại. Văn bản được mã hoá với OTP không cho biết bất kỳ thông tin gì về văn bản gốc, ngoại trừ độ dài. Với một văn bản đã mã hoá cho trước, chúng ta có thể nghĩ ra các chuỗi khoá để “giải mã” nó về bất kỳ văn bản nào chúng ta muốn! Các phương pháp mã hoá mới sau này như DES (Data Encryption Standard), AES (Advanced Encryption Standard), PGP (Pretty Good Privacy), PKI (Public Key Infastructure)… tuy tiện dụng và có nhiều ưu điểm khác, nhưng về mặt lý thuyết không phải là không phá được. Nhưng trong sử dụng thực tế, có những lý do sau khiến OTP trở nên không an toàn:

  • Chuỗi khóa OTP không thực sự ngẫu nhiên (các nhân viên thư ký của KGB tạo ra OTP bằng cách gõ ngẫu nhiên lên máy đánh chữ, nhưng xu hướng gõ phím của tay người vẫn có những pattern nhất định).

  • Việc cất giữ và tiêu huỷ OTP có quá nhiều yếu tố rủi ro (đã có tình huống CIA giải được mã nhờ một cuốn sổ OTP đã bị đốt nhưng chưa cháy hết).

  • Mỗi trang OTP chỉ được dùng một lần (đã có lúc trong tình hình khẩn cấp, nhân viên KGB bất cẩn dùng một trang OTP cho nhiều lần mã hoá, dẫn đến việc CIA giải được khoảng 1% trong số những thông điệp gửi bởi KGB trong những năm 1945 ~ 1950).

Điểm yếu nhất của OTP nằm trong quá trình trao đổi khoá (key exchange), đó là một trong những lý do hình thành phương pháp public key rất tiện dụng sau này. Đến bây giờ, khi những phương tiện mã hoá và truyền thông đã quá hiện đại, người ta vẫn còn tiếp tục dùng OTP cho những kênh thông tin thuộc loại top secret (như đường dây hotline Washington DC – Moscow, liên lạc với tàu ngầm…) vì tính tuyệt đối an toàn đã được chứng minh lý thuyết của nó. Có thể kiểm chứng dấu vết của việc sử dụng OTP trong thực tế:

Các Number Station nổi tiếng bí ẩn, là những đài phát thanh không rõ nguồn gốc, phát trên băng tần sóng ngắn (shortwave) những bản tin toàn chữ số, được xem như những hoạt động tình báo của nhiều nước. Trên internet, những Numbers Relay Pages như nrp.write2me.com là hình thức mới của Number Station, cho phép mọi người gửi đi những thông điệp bí mật. Tất cả đều dưới hình thức những bộ 5 chữ số của mã hoá OTP (e.g: 41888 42037 89537 55295 14846 82981 63440…).