thành ngữ 4 chữ

四个字的成语









Xưa xem phim Hoàn Châu cách cách, Tiểu Yến Tử sau khi học Tam tự kinh (kinh 3 chữ) thì tiếp tục học sử dụng thành ngữ 4 chữ. Đây là khởi đầu của vô số màn hài hước đặc sắc trong phim, vì Tiểu Yến Tử thì siêu dốt về chữ nghĩa, mà thành ngữ 4 chữ trong cổ văn TQ có đến hàng vạn vạn. Chỉ riêng những thành ngữ bắt đầu với chữ “nhất” cũng có đến 3 ngàn, học 1 chữ “nhất” này cả năm cũng chưa hết, ví dụ như:

Nhất ngôn vi định, nhất phàm phong thuận, nhất nhật tam thu, nhất phiến băng tâm, nhất tự thiên kim, nhất đao lưỡng đoạn, nhất bản vạn lợi, nhất bộ đăng thiên, nhất ngôn nan tận, nhất ngôn cửu đỉnh, nhất hô bách ứng, nhất diệp tri thu, nhất lộ bình an, nhất tiễn song điêu, nhất cử lưỡng tiện, nhất thạch nhị điểu, nhất thế chi hùng, nhất kiến như cố, nhất quốc tam công, nhất triêu nhất tịch, nhất tảo nhi không, nhất tự vi sư, etc…

Cái sự dốt của Tiểu Yến Tử được sử dụng làm yếu tố gây cười xuyên suốt phim, đồng thời với khán giả mà nói, cũng là một công cụ giáo dục. Thành ngữ 4 chữ rất phổ biến trong cổ văn TQ, đôi khi cả đoạn văn dài dùng toàn thành ngữ, nghe cân đối, nhịp nhàng, ngắn gọn, súc tích. Ngay cả khi không dùng thành ngữ thì thói quen dùng cụm 4 từ cũng rất phổ biến trong hành văn cổ, như thế nghe mới có vẻ “có học thức” và “sang trọng”.

Con đường đào tạo từ một cô gái mãi võ giang hồ trở thành một công chúa quý tộc phải trãi qua rất nhiều chông gai, đầu tiên là những bước giáo dục cơ bản này. Mặc dù chưa bao giờ thật sự thích xem những kiểu phim drama như Hoàn Châu cách cách, nhưng vẫn xem để học thêm về cổ văn (tốt nhất nên xem phụ đề tiếng Trung). Dưới đây là một số thành ngữ 4 chữ phổ biến thường sử dụng trong phim kiếm hiệp, cổ trang:

牛嚼牡丹 – Ngưu tước mẫu đơn – Bò ăn hoa mẫu đơn
猫哭老鼠 – Miêu khốc lão thử – Mèo khóc chuột già
笑里藏刀 – Tiếu lý tàng đao – Dấu dao trong nụ cười
海里捞针 – Hải lý lao châm – Mò kim đáy bể
班门弄斧 – Ban môn lộng phủ – Múa rìu trước cửa Lỗ Ban
借刀杀人 – Tá đao sát nhân – Mượn đao giết người
冤家路窄 – Oan gia lộ trách – Ngõ hẹp gặp oan gia
水中捞月 – Thủy trung lao nguyệt – Mò trăng đáy nước
打草惊蛇 – Đả thảo kinh xà – Đánh cỏ động rắn
对牛弹琴 – Đối ngưu đàn cầm – Đàn gảy tai trâu
过河拆桥 – Quá hà sách kiều – Qua cầu rút ván
落叶归根 – Lạc diệp quy căn – Lá rụng về cội
亡羊补牢 – Vong dương bổ lao – Mất bò mới lo làm chuồng
守株待兔 – Thủ chu đãi thố – Ôm cây đợi thỏ
顺水推舟 – Thuận thuỷ thôi chu – Thuận nước đẩy thuyền
以卵击石 – Dĩ noãn kích thạch – Lấy trứng chọi đá
走马观花 – Tẩu mã quan hoa – Cưỡi ngựa xem hoa
斩草除根 – Trảm thảo trừ căn – Nhổ cỏ tận gốc
一箭双雕 – Nhất tiễn song điêu – 1 mũi tên trúng 2 đích
半斤八两 – Bán cân bát lượng – Kẻ tám lạng, người nửa cân
不共戴天 – Bất cộng đái thiên – Không đội trời chung
不可思谊 – Bất khả tư nghì – “Không thể giảng cho hiểu được”
闭月羞花 – Bế nguyệt tu hoa – Hoa nhường nguyệt thẹn
甘拜下风 – Cam bái hạ phong – Cam chịu nhận thua
指腹为婚 – Chỉ phúc vi hôn – Hứa hôn từ trong bụng mẹ
孤掌难鸣 – Cô chưởng nan minh – 1 bàn tay vỗ không thành tiếng kêu
强词夺理 – Cưỡng từ đoạt lý – Nguỵ biện, nói xàm xí
造极登峰 – Tạo cực đăng phong – Đạt tới đỉnh cao
同归于尽 – Đồng quy vu tận – Cả 2 cùng chết
一帆风顺 – Nhất phàm phong thuận – Thuận buồm xuôi gió
拔刀相助 – Bạt đao tương trợ – Rút đao giúp đỡ
衣锦还乡 – Y cẩm hoàn hương – Áo gấm về làng
掩耳盗铃 – Yểm nhĩ đạo linh – Bịt tai trộm chuông
恒河沙数 – Hằng hà sa số – Nhiều như số hạt cát bên bờ sông Hằng
木已成舟 – Mộc dĩ thành chu – Ván đã đóng thuyền
锦衣夜行 – Cẩm y dạ hành – Áo gấm đi đêm
饮水思源 – Ẩm thuỷ tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn
流沙掌中 – Lưu sa chưởng trung – Cát chảy trong lòng bàn tay
望子成龙 – Vọng tử thành long – Mong con thành tài
传宗接代 – Truyền tông tiếp đại – Nối dõi tông đường
反复无常 – Phản phục vô thường – Thường xuyên thay đổi
了如指掌 – Liễu như chỉ chưởng – Rõ như trong lòng bàn tay
幸灾乐祸 – Hạnh tai lạc hoạ – Cười trên nỗi đau của người khác
狐假虎威 – Hồ giả hổ uy – Cáo mượn oai hùm
两全其美 – Lưỡng toàn kỳ mỹ – Vẹn cả đôi đường
措手不及 – Thố thủ bất cập – Trở tay không kịp
望梅止渴 – Vọng mai chỉ khát – Trông mơ giải khát, ăn bánh vẽ
一刀两断 – Nhất đao lưỡng đoạn – Chém 1 đao thành 2 khúc
夜长梦多 – Dạ trường mộng đa – Đêm dài lắm mộng
炉火纯青 – Lô hoả thuần thanh – Lửa trong lò toàn 1 màu xanh
同床异梦 – Đồng sàng dị mộng – Chung giường nhưng khác mộng
失之毫厘,差之千里 – Thất chi hào ly, sai chi thiên lý
宁为玉碎,不为瓦全 – Ninh vi ngọc toái, bất vi ngoã toàn
良药苦口,忠言逆耳 – Lương dược khổ khẩu, trung ngôn nghịch nhĩ
道高一尺,魔高一丈 – Đạo cao nhất xích, ma cao nhất trượng
处女守身,处士守名 – Xử nữ thủ thân, xử sĩ thủ danh
英雄气短,儿女情长 – Anh hùng khí đoản, nhi nữ tình trường
近朱者赤,近墨者黑 – Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc
近在眼前,远在天边 – Cận tại nhãn tiền, viễn tại thiên biên
龙生九子,各不相同 – Long sinh cửu tử, các bất tương đồng
永结同心,百年好合 – Vĩnh kết đồng tâm, bách niên hảo hợp
江山异改,本性难移 – Giang sơn dị cải, bản tính nan di
白刀子进,红刀子出 – Bạch đao tử tiến, hồng đao tử xuất
君子报仇,十年不晚 – Quân tử báo cừu, thập niên bất vãn
十年树木,百年树人 – Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân
狗口里生,不出象牙 – Cẩu khẩu lý sinh, bất xuất tượng nha
老鼠看书,咬文嚼字 – Lão thử khán thư, giảo văn tước tự
青山不改,泉水长流,后会有其 – Thanh sơn bất cải, tuyền thuỷ trường lưu, hậu hội hữu kỳ

thanh mai trúc mã

Đọc truyện, xem phim thường thấy sử dụng thành ngữ “thanh mai trúc mã”, nhưng không để ý lắm đến xuất xứ của nó, hôm nay chợt nghĩ ra, “bụng đầy thơ” như mình sao bây giờ mới nhận ra chính là từ trong bài Trường Can hành của Lý Bạch hay đọc hồi nhỏ: Thiếp phát sơ phú ngạch, Chiết hoa môn tiền kịch, Lang kỵ trúc mã lai, Nhiễu sàng lộng thanh mai, Đồng cư Trường Can lý, Lưỡng tiểu vô hiềm sai, Thập tứ vi quân phụ…

Dịch nghĩa: Tóc em khi mới xoã ngang trán, Bẻ hoa trước cửa nhà chơi, Chàng cưỡi ngựa tre lại, Chạy quanh giường nghịch ném quả mơ xanh. “Trúc mã” chính là cây gậy trúc mà mấy cậu nhóc hay đóng giả làm ngựa, “thanh mai” là quả mơ chế biến thành món ô mai mà các cô bé hay ăn. Bài thơ mô tả chuyện tình của 2 đứa bé lớn lên bên nhau, từ nhỏ đến khi thành niên. Haizza, ai xui ngày xưa cụ Lý Bạch viết “ngôn tình” vậy ta!?

Trường Can hành – Lý Bạch

Trán em tóc mới chấm ngang,
Bẻ hoa trước ngõ, ngoài đàng đứng chơi.
Ngựa tre, chàng cỡi tới nơi,
Vui đùa ném trái mơ chơi quanh giường.
Trường Can, cùng chỗ náu nương,
Trẻ thơ chẳng có vấn vương ý gì.
Lấy chàng, mười bốn, biết chi!
Thẹn thùng, nên chẳng mấy khi ra ngoài.
Cúi đầu, quay mặt vách hoài,
Nghìn lần chàng gọi, không quay một lần.
Mười lăm, mày mới nở dần,
Nguyện cùng gian khổ quây quần bên nhau.
Tin nhau từ thuở ban đầu,
Có đâu nghĩ chuyện lên lầu ngóng trông.

Mới năm mười sáu, xa chồng,
Cù Đường, Diễm Dự, xót trông xa vời.
Tháng năm, chẳng đến được nơi,
Mãi nghe tiếng vượn bên trời bi ai.
Trước sân, dấu bước in dài,
Giờ rêu xanh phủ, đều phai mờ rồi.
Rêu dầy, khó quét, đành thôi,
Gió thu sớm thổi, lá rơi rụng đầy.
Bướm vàng tháng tám, lượn bay,
Từng đôi trên cỏ vườn tây chập chờn.
Lòng em chua xót, cô đơn,
Má hồng thấy đã già hơn trước rồi.
Tam Ba, chàng sẽ xuống thôi,
Gửi thư báo trước về nơi quê nhà.
Đón chàng chẳng quản đường xa,
Trường Phong Sa đến, thế là gặp nhau.

青梅竹马

tỉnh để chi oa

張三豐
無根樹

道法流傳有正邪
入邪背正遍天涯
飛騰罕見穿雲鳳
陷溺多成落井蛙

Về thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng”… hôm nay đọc được một bài thơ rất hay của Trương Tam Phong đạo trưởng, đề ở đầu tập thơ Vô căn thụ (Cây không gốc). Ai đọc Kim Dung hay xem kiếm hiệp Hồng Kông thì hẳn biết Trương chân nhân Quân Bảo là tổ sư của Võ Đang, nhưng cũng là một nhân vật lịch sử có thật, để lại nhiều tác phẩm văn thơ Đạo giáo.

Trương Tam Phong – Vô căn thụ

Đạo pháp lưu truyền hữu chính tà,
Nhập tà bội chính biến thiên nhai.
Phi đằng hãn kiến xuyên vân phụng,
Hãm nịch đa thành lạc tỉnh oa…

Dịch nghĩa: Đạo học lưu truyền có chính, có tà, Theo tà phản bội lại chính đâu đâu cũng có. Bay lên trời xuyên qua mây như chim phượng thì rất ít thấy, Mà rơi xuống thành con ếch ngồi đáy giếng thì lại rất nhiều. Chú thích: “Lạc tỉnh oa” – 落井蛙, lạc là rơi xuống, tỉnh là cái giếng, oa là con ếch, “lạc tỉnh oa” hay “tỉnh để chi oa” tức là “ếch ngồi đáy giếng” vậy.

miền sâu khói sóng

Thế sự thăng trầm người chớ hỏi, Miền sâu khói sóng chiếc thuyền câu. Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu, So giấc mộng với thân ta… y hệt! Duy chỉ có thanh phong, minh nguyệt,
 Của trời chung mà vô tận riêng mình. 
Sự bại thành để mặc u linh, 
Người đô hội, kẻ vui miền rừng rú. 
Tay gõ nhịp, hát câu Tương tiến tửu:
 Anh có thấy dòng Hoàng hà? 
Con sông vĩ đại nước sa lưng trời! 
Làm chi cho mệt một đời!?

chơi xuân kẻo hết

Gẫm cho kỹ đến bất nhân là tạo vật, Ðã sinh người lại hạn lấy năm. Kể chi thằng lên bảy, đứa lên năm, Dẫu ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc! Lại mang lấy lợi danh vinh nhục, 
Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan. 
E đến khi hoa rữa trăng tàn, 
Xuân một khắc dễ nghìn vàng đổi chác!
 Tế suy vật lý tu hành lạc, 
An dụng phù danh bạn thử thân. 
Song bất nhân mà lại chí nhân,
 Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy. 
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy!
 Nếu không chơi thiệt ấy ai bù? 
Nghề chơi cũng lắm công phu…


ngói đỏ lợp nghè

Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới.
Đá xanh xây cống, hòn dưới chống hòn trên.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, dù dân số đông gấp vài lần ĐNA, nhưng sự đa dạng sinh học của dân TQ (dưới góc độ đa dạng các phân tử di truyền DNA) lại ít hơn nhiều lần. Thế có nghĩa là: không chỉ đông hơn, họ còn đồng nhất hơn hẳn, từ trong… máu huyết. Hiểu điều đó như thế nào, dùng sự đa dạng để tạo ra những giá trị khác biệt, hay cứ mãi tủn mủn, lặt vặt, kình chống nhau, chẳng ai chịu ai, sự lựa chọn là ở các bạn!

bark canoes and skin boats

Món qùa của một người bạn già Mỹ gởi tặng… cuốn sách hard – copy, hard – cover: The bark canoes and skin boats of North America – Ca-nô bọc vỏ cây và bọc da thú vùng Bắc Mỹ. Cuốn sách chứa đựng rất nhiều thông tin, bản vẽ về những chiếc ca-nô, kayak cổ xưa của thổ dân da đỏ bản địa. Những “nguyên mẫu” trong sách này chính là “tổ tiên” của những thiết kế ca-nô, kayak hiện đại. Thank you so much for the gift!

côn sơn ca

阮廌 – 昆山歌

Ngỡ đã quên từ lâu, đứng nơi đây, nhẩm lại được toàn bộ nguyên bản Hán văn của Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi: Côn sơn hữu tuyền, Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên, Ngô dĩ vi cầm huyền… Trích bản dịch tiếng Việt:

Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
Người như cây cỏ thân hình nát tan.
Hết ưu lạc đến bi hoan,
Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay.

Núi gò đài các đó đây,
Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
Sào, Do bằng có tái sinh,

Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn.

xăm, 2018

Miềng vốn vô thần (atheist) tuyệt đối: không Thần, không Phật, không Chúa, không thờ cúng, không ông Địa, thần Tài, không mê tín dị đoan, không xem bói, xem ngày, thậm chí không cả thờ cúng tổ tiên, etc… Xăm chẳng qua chỉ là một trò chơi chữ nghĩa mang tính chất giải trí.

Nghĩ thế nào mà ngày đầu năm mới Âm lịch 2018 lại bốc một lá xăm, đúng ngay quẻ số 09 Đại Cát (khá hiếm), xem có câu: Kim triêu hỉ sắc thượng mi đoan – Sáng nay sắc vui hiện lên cuối khoé mi, lại bảo có thư về trước cửa. Haizzaa, để xem xem trong năm là sự việc gì đây!

bến my lăng

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.

Từng có một “xứ Nẫu” “như thị ngã văn” – như là tôi biết, hoàn toàn khác biệt, cũng chẳng phải “hoa vàng trên cỏ xanh”, so với trí nhớ thời trai trẻ của chính mình cũng đã khá là xa cách tịch liêu, mà trong mắt giới trẻ bây giờ chỉ e rằng là một viễn tượng như cổ tích…

xa – thư

讀萬卷書
行萬里路

Hoàng thành Huế, điện Thái Hoà, ngay bên dưới chiếc biển đề ba chữ “Thái Hoà điện” có khắc một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Tạm dịch: Đất nước ngàn năm văn hiến, Cơ đồ “xe và sách” vạn dặm, Từ sau họ Hồng Bàng dựng nước, Trời Nam lại thịnh trị như thời Đường, Ngu. Khái niệm “xa & thư” được sử dụng rất phổ biến trong văn thư chính trị cổ. Nhưng như thế nào là “xa & thư” – “xe và sách”!?

Xe (xa): dĩ nhiên ngày xưa là chiếc xe ngựa, dùng để chờ người, đồ vật, đồng thời cũng là chiếc chiến xa (chariot). Xem phim về thời cổ đại ở cả Đông lẫn Tây, cả ở La Mã lẫn Trung Quốc đều thấy một điểm chung là chiến xa phổ biến hơn chiến mã. Tại sao lại đi dùng một thứ phức tạp là xe ngựa, mà không đơn giản trực tiếp cỡi ngựa!? Có người lý luận một cách hoàn toàn sai lầm rằng văn minh nhân loại đã đi thụt lùi, từ việc sử dụng chiến xa thời cổ đại, sang dùng chiến mã thời trung đại.

Trong việc cỡi ngựa, phát minh quan trọng nhất là cái bàn đạp, đây được xem là một phát minh tuy đơn giản, nhưng làm thay đổi lịch sử nhân loại! Bộ yên cương, có thêm cái bàn đạp mới khiến kỵ sĩ có thể ngồi vững vàng trên lưng ngựa, điều khiển được ngựa một cách khéo léo, và quan trọng nhất là nhờ có cái bàn đạp mới có điểm tựa để sử dụng vũ khí: gươm, đao, thương… và nhất là có thể bắn cung một cách chính xác. Từ khi phát minh ra cái bàn đạp, nhân loại mới bỏ chiến xa mà dùng chiến mã.

Nhưng quay trở lại thời cổ đại, thì chiến xa vẫn phổ biến hơn là chiến mã, đơn giản là vì không có bàn đạp, kỵ sĩ chưa thể ngồi vững trên lưng ngựa. Thời cổ đại ở Trung Quốc, vua một nước nhỏ có thể có một ngàn cỗ xe, vua một nước lớn có thể có đến vạn cỗ xe. Chiến xa là thứ thể hiện sức mạnh và quyền lực của một vương triều. Người ta đánh giá sức mạnh của một vương quốc thông qua số chiến xa mà nước đó sở hữu, cũng giống như bây giờ chúng ta dùng các đại lượng GDP, GNP, etc… vậy.

Lại nó thêm về xe ở Trung Quốc, thời cổ đại, có hàng trăm vương quốc lớn, nhỏ, mỗi nước dùng một loại xe riêng, đóng theo những quy cách riêng: kích thước bánh xe, độ rộng trục bánh xe. Ở các cổng thành, người ta xây các trụ đá nhỏ làm vật cản, khiến cho xe của một nước có thể đi lọt qua cổng thành nước đó, mà qua nước khác lại không thể đi lọt. Việc mỗi quốc gia sử dụng “quy chuẩn” xe khác nhau thực ra là một cách phòng thủ, không cho xe đối phương đi vào nước mình quá dễ dàng.

Sách (thư): nếu như xe có hàng trăm quy chuẩn khác nhau, thì sách vở, chữ viết cũng vậy. Tuy đều là chữ tượng hình, nhưng mỗi nước lại có cách viết khác nhau, ví dụ cùng một chữ “kiếm” nhưng có đến hàng chục cách viết, tuỳ theo quốc gia, vùng miền. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc mới thống nhất tất cả các quy chuẩn: xe đóng theo cùng một kích cỡ, chữ viết theo cùng một lề thói, tất cả các đơn vị đo lường, các hình thức nghi lễ, áo mũ, âm nhạc cũng được thống nhất.

Nên có thể xem: Thư là kiến thức, Xa là kinh nghiệm, Thư là lý thuyết, Xa là thực hành, Thư là trừu tượng, Xa là hiện thực, Thư là tâm hồn, Xa là thể xác, Thư là tinh thần, Xa là vật chất, Thư là sức mạnh mềm, Xa là sức mạnh cứng… “Xa dữ thư – xe và sách” là hai mặt của một đồng xu, hai yếu tố chính yếu nhất để đại diện cho một nền văn minh. Chẳng phải xưa có câu: Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – 讀萬卷書行萬里路 – Sách: đọc ngàn chương, Đường: đi vạn dặm đó sao!?

cổ kính – tàn y

Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi!

M ột bài thơ cổ, tương truyền là của Ôn Như hầu – Nguyễn Gia Thiều, theo thể Thất ngôn Đường luật, tác giả thương khóc người vợ đã mất, trong đó có hai câu luận rất “đắt”: Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi. Tác giả muốn đập vỡ kính (gương) ra, để tìm bóng người yêu từng soi trong đó, rồi đành xếp manh áo lại, để giữ chút hương xưa còn sót của người đã khuất. Cổ thi mà ngôn từ, ý tứ như thế quả thật là quá mới lạ, táo bạo và cũng rất lãng mạn. Dù lời văn nghe có vẻ xưa cũ, “thơ tình” như thế này, ngay cả thời hiện đại dễ gì sánh được!?

Tình hoài hương - Thái Thanh 
Tình ca - Thái Thanh 
Cành hoa trắng - Quỳnh Giao 
Quê nghèo - Quỳnh Giao 
Nhớ người thương binh - Mai Hương 
Nương chiều - Mai Hương 
Thu chiến trường - Kim Tước 
Dạ lai hương - Kim Tước 
Chinh phụ ca - Hà Thanh 

Nhạc của Phạm Duy, với tôi cũng giống như là “cổ kính” và “tàn y”! “Dân ca VN”, xem như là một thứ đã mất, một người đã khuất, không mấy ai còn biết bóng dáng thế nào! Âm nhạc của Phạm Duy cũng giống như “cổ kính” – chiếc gương còn lưu giữ lại bóng dáng của người đẹp, cũng giống như “tàn y” – manh áo cũ còn lưu lại chút hương thơm của giai nhân, âm nhạc Phạm Duy còn lưu lại phảng phất hình bóng dân ca Việt. Về sau, muốn tìm lại bản sắc, e rằng cũng phải làm những việc “đập kính – xếp áo”, tìm lại sự phản chiếu trong âm nhạc của Phạm Duy vậy!

đoạn trường tân thanh

Haizzaa… ngày xưa, cụ Nguyễn Du chỉ vì say mê cuốn tiểu thuyết “ngôn tình” Đoạn trường tân thanh, loại “dâm thư” có tiếng của Tàu, mà viết nên Truyện Kiều, hậu bối ngày nay xem là áng văn chương tuyệt tác. Khá khen cho biết bao nhiêu thế hệ tài tử, văn nhân, cũng vì trí lực, ngôn năng có hạn mà đành phải vin vào loại thi ca nhàm chán đó. Chữ nghĩa tuy có đôi phần tài hoa, bay bướm, nhưng ý tưởng, thần thái, tựu trung than thân trách phận, yếm thế não tình, quả thật bỏ thì thương, vương thì tội!

thời hoa đỏ – 2

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ,
Em thầm hát một câu thơ cũ,
Về một thời thiếu nữ say mê
Về một thời hoa đỏ diệu kỳ…

Chạy dọc trên triền đê sông Thao, rồi qua Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải, lên đến Lai Châu… thi thoảng lại bắt gặp cái mầu hoa gạo đỏ nao lòng này… Những ai đã từng tận mắt chứng kiến mùa hoa gạo nở (thử dùng google image search với 2 từ khoá: “chùa Hương” + “hoa gạo”) mới hiểu được cái đẹp quyến rũ đến lạ kỳ của “Thời hoa đỏ”.

tuoitre.vn – Vĩnh biệt nhà thơ Thanh Tùng, tác giả Thời hoa đỏ

Thời hoa đỏ - Nguyễn Đình Bảng 

algorithms

Một phần quan trọng của 4 năm ĐH nằm trong cuốn này. Sách ngoại văn bìa cứng, bản in đẹp giấy tốt, đồng giá 50K/cuốn. Những năm 199x, FAHASA nhập sách ngoại về, bán chẳng ai mua, canh me đi qua lúc nó sale off, xúc luôn một lúc cả chục cuốn, từ Algorithms, Data structure, Computer graphics… cho đến Algebra, Advanced Calculus, Statistics, Mathematical Analysis, etc… Cũng là lý do tại sao thuật ngữ Toán, Tin… ko hề biết tiếng Việt. Cũng chưa thấy cuốn sách Tin học nào hay và bổ ích như cuốn này. Nói cho đúng là cái cách hành văn khoa học tiếng Anh của nó ám ảnh mình, ít khi thấy được một cách hành văn hay, súc tích, dể hiểu đến như thế, cộng thêm minh hoạ cực kỳ xinh đẹp.

Nếu nói mức độ hiểu vấn đề nó thể hiện qua khả năng diễn đạt, trình bày lại để cho người khác cũng hiểu thì tác giả cuốn này đúng là siêu đẳng! Về sau phát hiện ra, cả thư viện Đại học Khoa học Tự nhiên cũng chỉ có đúng một cuốn này, mình có riêng một cuốn! Không có thói quen đọc nhiều sách, theo mình, cả ĐH chỉ cần đọc chừng 3, 4 cuốn, và cả cuộc đời chắc không cần đến 20 cuốn. Đọc nhiều phí hoài tuổi xanh đi! Dự định sau này mình sẽ đóng cái kệ sách cao đến sát trần nhà, bỏ bớt những cuốn không đọc lên trên cao để không phải đụng đến chúng! Sách hay thì ít như sao buổi sớm, mà sách lôm côm lại nhiều như… lá rụng mùa thu! Sau bác nào đó thấy sách ngon, mượn ko trả, tiếc đứt ruột!

viễn mộng

Sách vở thường phân tích phương Đông (không giống như phương Tây): sống nội tâm, mẫn cảm, chan hoà và gần gũi với thiên nhiên. Theo như thực tế hiện nay mà thấy, hình như điều ngược lại mới là đúng! Lại dùng cổ máy thời gian, mời tác gia Lý Bạch ngược đến tương lai, trích bốn câu trong bài Dạ bạc Ngưu chử hoài cổ để bình luận cho bức hình bên dưới!

Ngưu chử Tây giang dạ,
Thanh thiên vô phiến vân…
Minh triêu quải phàm tịch,
Phong diệp lạc phân phân.

Cảnh đêm Ngưu chử Tây giang,
Trời thu trong vắt không hàng mây trôi.
Sáng dong buồm chiếu đi rồi,
Lá phong đã rụng tơi bời bến sông!

李白 – 夜泊牛渚懷古
牛渚西江夜
青天無片雲
。。。。。
明朝挂帆席
楓葉落紛紛

xét lại

Một là đừng đọc, hai là đọc thì phải biết suy nghĩ, nhận định. Tôi lấy ví dụ như tự truyện Papillon người tù khổ sai (Henri Charrière), một thời gây biết bao ấn tượng. Nhưng các phân tích hiện đại đã xác minh có không đến 10% những sự kiện xảy ra trong 2 tập sách ấy là sự thật! Phần lớn những câu chuyện là của các tù nhân khác được tác giả vơ về mình!

Như thế thì tác phẩm nên được xem như là “tiểu thuyết” hơn là “hồi ký, tự truyện”, và mức độ tin cậy của các sự kiện cũng chỉ nên xem như là sản phẩm tưởng tượng. Ví dụ thứ hai là các tác phẩm của Nguyễn Tường Bách viết về tôn giáo, triết học… Với tư cách là một nhà vật lý thiên văn thì ông đã là một học giả nổi tiếng được cả thế giới ghi nhận.

Nhưng có điều gì không ổn khi các so sánh triết học giữa phương Tây và phương Đông của ông đều rập khuôn theo kiểu: con voi có cái đầu, con chuột có cái đầu, con voi có bốn chân, con chuột cũng có bốn chân, cả hai đều có đuôi, thế nên… con voi là con chuột! Nhưng so sánh, liên tưởng kiểu như thế rất là mộng mơ, nếu không muốn nói là lầm lạc.

Chừng nào mà cái sự đọc còn chưa vượt qua được cái ngưỡng tư duy logic cơ bản ấy, chừng nào mà còn chưa phân biệt được tác phẩm hay với loại làng nhàng, thì tất cả những lập luận tiếp theo đều vô nghĩa. Chừng nào còn đem những lí luận kiểu “bán hàng đa cấp” đi gạt người khác, thì những kêu gào chính trị, chính quyền, dân chủ… xem ra rất hài hước.

Tôi không có ý định khuyến khích hay ngăn cản ai trong việc đọc khi viết loạt bài này. Thực ra, từ rất lâu tôi không còn đọc nhiều nữa rồi. Cuộc sống là của các bạn, bạn sống cho mình chứ không phải người khác. Cũng như thế, bạn đọc cho mình chứ không phải người khác! Cái nồi lẩu VN đã đủ hổ lốn từ xa xưa rồi, có thêm các loại xàm xàm thì nó cũng thế thôi!

trào lỗ nho

Cách đây gần 1300 năm mà người ta đã viết như thế này đây! Dịch nghĩa: Ông già nước Lỗ bàn chuyện Ngũ kinh, tóc bạc vùi trong những từ chương đã chết, hỏi ông cách giúp nước giúp đời, ông ngơ ngác như từ trên mây rơi xuống, chân đi giày “viễn du”, đầu chít khăn “phương sơn”, khệnh khạng ông bước trên đường thẳng, chưa đi đã thấy bụi bay mù…

Kinh tế (经济) là rút gọn của kinh bang tế thế (经邦济世), không phải nghĩa hẹp như chúng ta đang dùng bây giờ. Vị hành tiên khởi trần: phàm người ta đi đường thì làm bụi bay, như thế là chuyện bình thường, còn tác giả mô tả ông này chưa bước đi đâu cả mà bụi đã bay mù, ám chỉ loại người vô tích sự, không được việc gì! Chữ dùng đến là khéo!

Trào Lỗ nho – Lý Bạch
Lỗ tẩu đàm ngũ kinh,
Bạch phát tử chương cú.
Vấn dĩ kinh tế sách,
Mang nhiên truỵ yên vụ.
Túc trước viễn du lý,
Thủ đới phương sơn cân.
Hoãn bộ tòng trực đạo,
Vị hành tiên khởi trần…

Giễu ông đồ nước Lỗ
Ông đồ nước Lỗ học Ngũ kinh
Bạc đầu nhai chết từng chương cú
Hỏi ông giúp đời thế nào đây?
Mờ mịt như người mây khói phủ!
Chân đi đôi giày “viễn du lý”,
Đầu đội chiếc khăn “phương sơn cân”.
Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng,
Chưa đi bụi đã như mây vần…

李白 – 嘲鲁儒
魯叟談五經
白髮死章句
問以經濟策
茫如墜煙霧
足著遠遊履
首戴方山巾
緩步從直道
未行先起塵
。。。。。