nhà 100 cột

uối tuần, tranh thủ “độp” ra ngoại thành tí cho giãn gân, giãn cốt, nhân tiện ghé thăm căn nhà cổ 100 tuổi, 100 cột ở Long An, lộ trình đi & về: 50km x 2. Căn nhà rường kiểu Huế, 5 gian 2 chái, có 2 dãy nhà phụ cộng lại hình chữ khảm (凵), do 17 người thợ làng mộc Mỹ Xuyên, Huế trong hơn 3 năm mới hoàn thành. Căn nhà có nhiều điêu khắc sống động, xinh xắn…

vũng tàu by bike

ạp xe 2 ngày (100km x 2) chỉ để ghé thăm con tàu này: ghe Sấm, Nhà Lớn, Long Sơn, Vũng Tàu. Một chút lịch sử di dân, một chút phong tục tập quán tốt đẹp cũ còn sót lại. Chiếc ghe Sấm này dài khoảng 20m, rộng khoảng 4.5m, có một cột buồm 15m với nhiều mái chèo…

Tiện ghé qua bảo tàng vũ khí Robert Taylor. Hình đầu tiên bên dưới, 1 biểu tượng của 2 cuộc kháng chiến. Tên “khoa học”: Bren light machine gun, tên “dân gian”: khẩu FM đầu bạc. FM là viết tắt từ tiếng Pháp: fusil mitrailleur – súng máy, còn cái biệt danh “đầu bạc” thì xem hình sẽ rõ… 😀

woodgas

ơn 30 năm về trước, những chuyến xe đò miền Trung, thường thấy có một cái lò đốt than gắn sau xe, vừa chạy vừa bốc khói, văng lửa tung toé. Hồi đó ngây thơ cho rằng đó là một loại động cơ hơi nước, giờ thì biết đó nó chạy bằng… củi, gỗ. Nguyên tắc hoạt động cũng đơn giản: củi, gỗ được đun trong 1 cái lò yếm khí (thường đun bằng than) phát sinh hỗn hợp khí gas (đa phần là H2 – hydro và CO – carbon monoxide), loại gas này cháy được, sau khi qua hệ thống lọc sạch, dùng làm nhiên liệu cho động cơ.

Trước WW1, châu Âu xài phổ biến hệ thống ống phân phối khí than (coal gas) qua đường ống để phục vụ nhu cầu thắp sáng, sưởi ấm ở các đô thị. Khí than cũng là một dạng syngas, khí tổng hợp nhân tạo như woodgas, hầm than trong môi trường kín để sinh ra khí đốt, hệ thống này được dùng mãi cho đến khi các hệ thống xài LPG hiện đại hơn ra đời. Trong những năm WW2, ở châu Âu, cả triệu xe hơi được hoán cải để xài loại woodgas này do thiếu hụt thiếu xăng dầu nghiêm trọng, thậm chí xe tăng cũng có lúc phải chạy… bằng củi!

Đến tận bây giờ, nhiều vùng tương đối lạc hậu (như ở Triều Tiên, Miến Điện, etc…) vẫn còn xài loại “lò hơi” này, xe chỉ cần thay đổi chút xíu ở carburateur – bộ chế hoà khí, lúc có xăng thì chạy xăng, lúc không có xăng thì… xách rìu vào rừng đốn củi! 😀 Khí gas có được từ quá trình “nung, hầm gỗ” chỉ có khoảng 60 ~ 70% mật độ năng lượng so với xăng, nên xe cũng chỉ có thể chạy tới mức đó, 60, 70 kmh cũng đã là rất tốt, và dĩ nhiên là hao củi, gỗ, ước lượng khoảng 100 kg cho 100 km với một chiếc xe tải 2 tấn!

Tuy chưa bao giờ được xem là giải pháp thay thế xăng dầu, nhưng woodgas cũng có một số ưu điểm có thể cân nhắc: quá trình đốt thải ra carbon dioxide – CO2, nhưng hầu như không thải ra carbon monoxide – CO như động cơ chạy xăng, nên được xem là sạch, ít gây ô nhiễm hơn. Tro than còn lại sau quá trình đốt có thể dùng làm phân bón, nên đứng từ góc độ kinh tế, hệ thống có hiệu suất toàn phần tốt hơn, phù hợp hơn với các môi trường nông nghiệp! Xem thêm các thông tin ưu / nhược trên wiki!

VNG

hiều ngày tiên tiếp mưa rả rích, không tiện “ra khơi”, đành ngồi nhà đọc sách. Tác giả cuốn sách trong hình bên dưới, lúc đó đã 71 tuổi, đang chèo thuyền trên hồ Tây… 🙂

bích nhãn hồ

heo các kinh điển Phật giáo ghi lại thì một trong 32 tướng mạo tốt của đức Phật là ngài có mắt màu xanh (!!!) Nên biết Ấn Độ thời của đức Phật khác với Ấn Độ bây giờ, dù là xét về chủng tộc, văn hoá hay ngôn ngữ. Trước khi nhập diệt, đức Thế tôn đã nói rằng: Này các chư tăng, vạn vật trong thế gian thảy đều vô thường, không gì tồn tại mãi, vì vậy hãy luôn kiên trì, tinh tấn trên con đường tự mình tìm lấy giải thoát!

Chuyện kể thêm về “tinh tấn”: đệ Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc – Huệ Khả tìm đến Sơ tổ – Bồ Đề Đạt Ma xin học đạo nhưng không được chấp nhận, ông quỳ trước sân suốt đêm, tuyết ngập đến ngang thắt lưng. Sáng hôm sau, Bồ Đề Đạt Ma mới hỏi: ngươi bảo có quyết tâm học đạo, thế quyết tâm của ngươi đâu, cho ta xem! Huệ Khả liền rút đao chặt cánh tay trái của mình dâng lên (chuyện kể lại trong bức tranh dưới đây).

Sách vở TQ ghi lại rằng Bồ Đề Đạt Ma cũng có mắt màu xanh: 碧眼胡 – bích nhãn Hồ – người “Hồ” mắt xanh. Thế rồi hơn 2500 năm sau, ở một xứ cũng tạm gọi là “Phật giáo”, “tinh tấn” chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn “tinh tướng”, nhiều người hết “Thưa mẹ con đi” lại đến “Về nhà đi con”, cứ đi ra đi vào một vài bước con con như thế, tự tạo nên một đám bụi mù, rồi cũng học đòi, nhân danh, nào là “Vu Lan”, nào là “Giải thoát”, “Giác ngộ” .v.v. 😞

cao chu thần

hép tay một số bài thơ yêu thích của Cao Chu Thần – Cao Bá Quát, đa số đều đã post trong nhưng mục trước trên blog này! Cổ văn dù TQ hay VN, đều vẫn luôn là một chủ đề yêu thích của tôi, dù gần đây có xu hướng “lười biếng” là thường ghi ở “giản thể” nhiều hơn “phồn thể” 😀.

trừu đao đoạn thuỷ

uy nghĩ vẩn vơ, điều kỳ lạ là, thời bây giờ, người TQ có thể đọc sử VN như: Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư .v.v. một cách tự nhiên, bằng chính ngôn ngữ của họ (vì tất cả những sách đó đều viết bằng chữ Hán). Trong khi người Việt không còn có thể tự đọc sử của chính mình! Có khi nào… họ hiểu ta còn hơn ta tự hiểu mình… 😞

narcissism of small differences

hu vực tôi sinh ra & lớn lên, bên này & bên kia đèo Hải Vân, cách nhau một ngọn núi nhưng đời sống người dân có nhiều khác biệt: giọng nói khác nhau, tâm tính khác nhau, tập quán sinh hoạt cũng hơi khác nhau. Chính vì những sự khác biệt nho nhỏ ấy mà đẻ ra biết bao nhiêu mâu thuẫn, kèn cựa, thù ghét, mỉa mai, đàm tiếu, hài hước…

Ấy là còn cách nhau một con đèo, còn cách trở một chút. Gần hơn, như một dải từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên, con người từng vùng cũng khác biệt. Với người miền ngoài mà nói thì hầu như không thể phân biệt giọng Quảng Bình với Quảng Trị, Quảng Trị với Huế. Nhưng với người địa phương thì sự khác biệt là rất rõ ràng, hiển nhiên.

Ngay bên trong một tỉnh, từ huyện này sang huyện khác, từ làng này sang làng khác cũng không hoàn toàn giống nhau. Sự khác biệt từ ngôn ngữ giọng nói, đến phong tục, tập quán, đến độ có những câu “thành ngữ” kiểu như: Bất thú Dạ Lê thê, bất thực Nguyệt Biều kê… – không lấy vợ làng Dạ Lê, không ăn gà làng Nguyệt Biều… 😀

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó, theo cái nhìn của Freud, là một trong những động lực chính để các nền văn minh đấu tranh và phát triển. Trong nỗ lực tạo nên sự khác biệt, con người ta có xu hướng ghét những cái giống mình, mà thích những thứ khác biệt với mình, đó âu cũng là bản tính tự nhiên của con người và muôn loài!

Suốt lịch sử nhân loại, hầu hết những xung đột đều là những mâu thuẫn cục bộ nhưng gay gắt, càng giống nhau lại càng gay gắt. Xưa đã có Hy Lạp & La Mã, Ngô vương Phù Sai & Việt vương Câu Tiễn, gần hơn thì Anh & Pháp (nội chiến 2 Hoa hồng), Anh & Đức (WWI & II), Iran & Iraq, gần nữa thì Nam & Bắc Triều Tiên, Ukraine & Nga, etc…

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó nó lặp đi lặp lại trên nhiều mức độ, quy mô khác nhau. Như người Việt tự nhìn mình thì Nam VN và Bắc VN khá là khác nhau: Mạc & Trịnh khác nhau, Trịnh & Nguyễn khác nhau, Nguyễn & Tây Sơn khác nhau. Nhưng từ góc nhìn phương Tây thì cả Nam & Bắc VN đều giống nhau và đều rất giống… Trung Quốc.

Suốt hơn 2000 năm, Trung Quốc là cái lý do căn bản để VN… đến như ngày hôm nay. Chúng ta học họ mọi thứ, từ ngôn ngữ đến văn chương, từ phương thức sản xuất đến thể chế chính trị. Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục học, TQ làm cái gì là y như rằng 5, 10 năm sau, chúng ta bắt chước làm theo (kiểu như “điện mặt trời” và “ví điện tử”).

Nhưng cũng vì quá giống nhau như thế, nên hết lần này đến lần khác, xuyên suốt lịch sử, cái ám ảnh tự kỷ đó lại thôi thúc VN đi tìm kiếm, khẳng định bản sắc riêng của mình, luôn muốn tách ra để được “độc lập”, không chịu nằm trong vòng ảnh hưởng của TQ. Căn bản, đó cũng là một điều tốt, tiếc là sự “khác biệt” tạo ra chỉ ở trên “đầu lưỡi”.

Khác biệt nhỏ, nhưng thế nào là to, thế nào là nhỏ…tất cả đều tương đối. 15 tuổi, tôi đã thấy những khác biệt địa phương là nhảm nhí, 25 tuổi, đã thấy toàn VN đâu cũng như nhau… Toàn cầu hoá, kết nối thông tin, thế giới lại càng trở nên “không phẳng” hơn bao giờ hết, tất cả khác biệt, to hay nhỏ sẽ đều được đem ra xét lại… (to be continued)



chuyển động brown – brownian motions

ó những chiều, tìm cách nhích từng bước nhỏ trong dòng xe đông đặc, ken kín của Sài Gòn… ngột ngạt khói bụi, inh ỏi còi bấm, lất phất mưa rơi. Cả một rừng người căm phẫn, dẫm đạp, chửi bới nhau, ai cũng muốn thoát ra nhưng không ai có thể! Nhiều khi cũng muốn chửi thề lắm, nhưng như người ta nói: people living in glass house shouldn’t throw stones – người đang sống trong nhà kính không nên ném đá, bởi chính tôi cũng đang là một người tham gia giao thông, cũng đang góp phần tạo ra cái tệ nạn nan giải ấy, dù muốn dù không cũng đang là một phần của nó!

For your own sake peace – of – mind, ai chịu đựng được cái “thảm cảnh” ấy, chứ tôi thì không! Nhất là khi có vài cô chú Tây đứng trên lề đường, giương máy ảnh, điện thoại chụp lấy chụp để, kiểu như là họ đang được chứng kiến được một giống loài hiếm có trong sở thú ấy! Mà dân Việt Nam, dù tròm trèm 100 triệu người, quả là một chủng loại khá hiếm hoi trên cái quả đất này về cái khoản tự sinh ra, tự chịu đựng tệ nạn, vừa ăn cướp vừa la làng, vừa là thủ phạm cũng như vừa là nạn nhân của chính mình, mà tuyệt nhiên không hề có một chút ý thức nào để cải thiện tình hình!

Nhìn từ trên cao, tất cả giống như một kiểu chuyển động Brown – Brownian motion của hàng triệu hạt phấn hoa đặt trên một giọt nước khi quan sát qua kính hiển vi, điên cuồng, hỗn loạn, giống như mô tả của nhà sinh học Robert Brown mấy trăm năm về trước! Quay trở lại chuyện các cô cậu Tây chụp ảnh, tôi thấy… nhục nhã vô tận! Muốn bước đi chỗ khác, nhưng chẳng thế nào mà bước đi đâu được! Dĩ nhiên, với tầm cỡ cá nhân mình thì đúng là bất lực trong việc giải quyết các vấn đề nan giải của cộng đồng và xã hội, mà cũng chẳng hơi đâu quan tâm chuyện vĩ mô!

Trong nhận thức của tôi, không có chuyện đúng / sai theo kiểu “biết rồi để đó”, “ậm à ậm ờ”, tức là người “biết” đúng mà không làm theo, không ủng hộ cái đúng thì trong sự phân loại của tôi, được xếp vào loại “chưa biết”. Chả ai hơi đâu đi phân tích đúng / sai bên trong một con người, người ta chỉ căn cứ vào kết quả sau cùng, chẳng cần phải “lý gio lý trấu” gì! Các bạn đừng cho rằng tôi “cực đoan”, vì sự chọn lựa cuối cùng mới nói lên bản chất con người, và “nhận thức” là để phục vụ cho “hành động”, chứ thời buổi internet này, bảo “biết” một cái gì đó thì có vẻ như ai cũng “biết” cả!

Nói về ủng hộ hay phản đối xe hơi, xe máy, đó không phải chỉ là vấn đề kinh tế! Xe hơi nếu bán đúng giá, tôi nghĩ không phải là chuyện quá lớn. Vấn đề lớn hơn là quy hoạch đô thị! Nhưng còn lớn hơn nữa là thói quen sinh hoạt của người dân, ai cũng thích những tiện lợi nho nhỏ, ai cũng muốn xẹt qua xẹt lại nhanh chóng! Nếu đã nghĩ đến đó, lập tức chúng ta nhận ra… hình như bài toán không có lời giải! Kinh tế có thể phát triển, đô thị có thể mở rộng, nhưng các bạn nghĩ có thể thay đổi được bản chất của người Việt ư!? Ai còn ảo tưởng về điều đó, chứ tôi thì không mảy may!

Nghĩ rồi làm, thế là tôi đạp xe từ hơn 3 năm nay, xe máy vẫn để đó nhưng chỉ khi đi đâu xa, hoặc đi có việc gấp thì mới dùng đến! Còn đi cafe, siêu thị, gặp gỡ bạn bè, hàng ngày tôi vẫn đạp xe, 20, 30 km vẫn đạp! Tức là vẫn còn dính dáng đến những thứ gây kẹt xe, ô nhiễm, nhưng ở một mức độ khá ít! Thêm nữa là có lợi cho sức khoẻ, rèn luyện đôi chân (đôi tay đã có bộ môn chèo thuyền). Nhưng đi đâu, làm gì cần phải tính toán kỹ càng, không thể ngẫu hứng mà xẹt xẹt xe máy như trước được! Giờ thì trên cạn, dưới nước, em đều dùng sức người nhé, toàn phải đổ cơm mới chạy cả! 🙂