Bức tranh này do cậu bé TKXuyên vẽ năm 1988, màu nước trên giấy, hiện vẫn treo trong phòng làm việc của mình (mọi người đừng cười một người chưa bao giờ có khiếu vẽ vời gì dù chỉ là một chút xíu). Dĩ nhiên là tôi còn nhớ rất rõ là vẽ vì những lý do gì, trong bối cảnh như thế nào. Mọi người hẳn chưa thể nào quên sự kiện CQ – 88 mà ngay cả một cậu bé 9 tuổi là tôi lúc bấy giờ cũng từng ngày dõi theo. Nghĩ mà buồn, đến nay hơn 20 năm rồi mà mọi chuyện vẫn thế. Dòng chữ đề trong bức tranh: Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ, Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
, cụ Nguyễn Công Trứ có sống lại mà nhìn bối cảnh bây giờ…
thôi
Ôi cuộc đời, đầy phong ba giữa lòng người…
Ly rượu này, đầy thương đau tấm hình hài…
Báo Thanh Niên gần đây có loạt bài là lạ: Những bóng hồng trong thơ nhạc, đầu tiên là về ca khúc Ngày xưa Hoàng thị, về những bài thơ của Phạm Thiên Thư đã được NS Phạm Duy phổ nhạc, tiếp theo đó là bài viết về ca sĩ Thanh Thúy, một trường hợp rất đặc biệt trong làng nhạc cũ. Chờ xem bài tiếp theo trong serie là về ai! Cá nhân tôi thì không ấn tượng đặc biệt lắm với giọng ca cũng như thể loại nhạc của ca sĩ Thanh Thúy (dù rất cảm cái chân thành, tự nhiên, “mộc” đến mức… “liêu trai” của bà).
Ca sĩ Thanh Thúy được gọi là “tình yêu của nguyên cả một thế hệ”, “người trong mộng” của không biết bao nhiêu là nhân vật trong giới văn nghệ sĩ đương thời: Trúc Phương, Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Nguyễn Long… danh sách những người chết mê chết mệt, thần tượng, tôn thờ, hay đơn giản là thầm yêu trộm nhớ bà còn dài, dài lắm. Quanh Thanh Thúy, có không biết bao nhiêu là tác phẩm thơ văn, âm nhạc, hội họa, kịch nghệ, phim ảnh… được thành hình, mà ca khúc phổ biến bên đây chỉ là một ví dụ.
hq – 011




Ảnh 1: HQ – 011 trong lễ thượng kỳ, Ảnh 2: sea – trial ở biển Baltic, Ảnh 3: cạnh 2 chiếc Molnya tại Cam Ranh, Ảnh 4: HQ – 012 chuẩn bị về VN, Ảnh 5: 1 chiếc Molnya và 1 Svetlyak ở Trường Sa.
Cái này thì mọi người đều biết cả rồi, Gepard – class light frigate đầu tiên về tới cảng Cam Ranh tháng 3 vừa rồi, chính thức thuộc biên chế HQND VN với số hiệu HQ – 011 và tên Đinh Tiên Hoàng, chiếc Gepard thứ hai HQ – 012, Lý Thái Tổ sẽ về tới VN trong hơn một tháng nữa. Đây là hai chiến hạm “lớn” đầu tiên, thuộc loại được mang tên chứ không phải chỉ có số hiệu như các Molnya covrette. Trước sức ép của tình hình thực tế, các bác ấy đã bay sang Nga và ký biên bản nghiệm thu tàu trước một tháng so với lộ trình! Và cũng chưa bao giờ khẩn trương như thế khi nhà máy Ba Son cùng một lúc đóng mới 10 chiếc Molnya đã mua bản quyền từ Nga.
Việc nghiên cứu, đầu tư và làm chủ công nghệ không phải là điều dễ dàng, nhưng với cách làm mất (lưỡi) bò mới lo làm chuồng
thế này thì chúng ta sẽ đi được tới đâu? Ai cũng hiểu là tàu thì cũng đã bắt đầu có rồi, nhưng cũng chỉ để “trưng” cho vui chứ chưa dùng được. Hệ thống huấn luyện điện tử giả lập (cho phép hơn 50 sĩ quan cùng một lúc thực hành trong điều kiện giống như chiến trận thật) mới về VN tháng 5 vừa qua, dĩ nhiên là không như chơi game, phải tập luyện 3 ~ 5 năm nữa thì số tàu kia mới bắt đầu có đôi chút giá trị, trọng lượng thực tế (riêng huấn luyện tàu ngầm thậm chí còn lâu hơn). Con bài chủ yếu để “mua thời gian” lúc này chính là không quân!
Nhưng vài chục chiếc máy bay hiện đại ở sân bay Thành Sơn và Đà Nẵng chưa phải là tất cả vấn đề, máy bay bây giờ hầu như đâu có ném bom nữa! Về vũ khí, VN có cái gì thì dĩ nhiên TQ cũng có cái đó: Switchblade (Ural – E), Termit (P – 20), Sunburn (Moskit)… nên cũng đành bỏ ra 300 M nữa để sở hữu công nghệ chế tạo Yakhont (Onyx), loại tên lửa Nga không bán cho TQ, chỉ bán cho Ấn Độ và VN. Chủ động được vũ khí riêng, vẫn còn một bước cuối: dàn phóng và điều khiển bắn cho Yakhont từ tàu chiến, máy bay hay tàu ngầm, cái này vẫn chưa làm được. Thế nên ngay lúc này chỉ có cách đặt hỏa tiễn trên bờ (Bastion – P) đợi “tàu lạ” vào gần chút thì may ra bắn trúng mà thôi!
Vấn đề không nằm ở công nghệ hay chiến lược, chiến thuật, và cũng không hẳn là chuyện tiền nong. Nếu mỗi chiếc Đinh Tiên Hoàng như thế này có giá khoảng 125 ~ 150 M thì riêng một vụ Vinashin đã ăn hết 25 ~ 30 đời vua Đinh rồi, chưa kể hàng loạt những vụ khác. Nghe giống như chuyện Từ Hi thái hậu dùng ngân sách tu bổ, nâng cấp Bắc Dương hạm đội để xây Di Hòa viên, dẫn đến việc hạm đội này trở nên lạc hậu và thất bại thảm hại trước hải quân Nhật Bản 10 năm sau đó. Nếu từng chuyện nhỏ đã không đúng thì chuyện lớn chẳng thể nào đúng được, mà thực tế văn hóa, xã hội VN như hiện tại là đang ở trong tình trạng: không có gì đúng cả, từ chuyện nhỏ đến việc lớn!
môi tím
Tình mình là tình đẹp nhất đó anh. Tình tuổi học trò mực tím áo xanh…
Post lại một bài đã đăng ở FB… một bản nhạc Nhật lời Việt từng rất phổ biến mà không cách nào tìm lại được bài gốc (trời ạ, lấy của ai, nguồn nào thì làm ơn ghi chú rõ giùm cái, chơi cái trò tam sao thất bổn
này phiền quá…), chỉ biết là do Đặng Lệ Quân cover lại một ca khúc Nhật Bản (?), rồi ta tiếp tục cover lại bản F1 của Đặng Lệ Quân. Ngay cả khi viết trong một cái điệu rất Tây phương (pasodoble, really love all the pasodobles!) và qua mấy lần cover như thế này thì cái mùi Nhật vẫn chưa nhạt đi được…
thuyền viễn xứ – 2
Một bản nhạc càng hay thì người ta càng tìm cách diễn dịch nó theo nhiều cách khác nhau, một cảm hứng, gợi ý ban đầu cho nhiều trình diễn, chuyển soạn, phát triển… Như bản Thuyền viễn xứ, có không biết bao nhiêu là người trình diễn, tôi đã nghe nhiều, vocal cũng như instrumental, nhưng tiếng đàn bầu dường như vẫn là, một cách tự nhiên nhất, thanh âm phù hợp để truyền tải cái hồn của Thuyền viễn xứ.
mưa
That’s when the monsoon reverses… Dù cho ai đó cứ viết thơ, làm nhạc: đầu mùa xuân, mùa hạ qua, rồi mùa thu, vào mùa đông… thì quê hương em hai mùa mưa nắng
và cũng chỉ có một thực tế đó mà thôi. Bài hát rất dễ thương của nhạc sĩ Văn Phụng như muốn bắt lấy khoảnh khắc giao mùa, điệu valse trẻ trung hợp với lúc mùa nước trở lại, cây cỏ vạn vật lại sinh sôi…
Mưa đem tươi vui về cho thắm áo nâu,
Mưa cho nương dâu và khoai sắn lên mau,
Mưa như trút sầu, mưa tô lúa đầu,
Mưa rơi qua Bến Hải, Cà Mau…
Một giọng hát rất chi self – assured, self – absorbed như của Lưu Bích, người em gái của ca sĩ Tuấn Ngọc này, rất là quyến rũ, nhưng thực cũng chóng chán…
nhạc sầu tương tư – 2
Mây trôi bơ vơ, mang theo niềm nhớ,
Ánh trăng vàng úa soi bóng hình ai phương trời nào đây…
Bài này nghêu ngao hát và thu âm ngay trên cái laptop cùi bắp đã lâu, chất lượng âm thanh rất là í ẹ, nghe cả tiếng ếch kêu quanh nhà, phải dùng Noise Removal tool của Audacity thì mới tạm nghe rõ lời hát (do noise nhiều nên voice cũng bị distort đi một chút). Bây giờ với máy tính và software thì ai cũng có thể làm ca sĩ karaoke được, mix vài cái sound – tracks: vocal và background music, kéo tới kéo lui, cắt dán một chút, apply vài cái effects là thành recording ngay thôi!
Vốn chẳng bao giờ tự thu âm mình hát nhưng vì rất yêu thích Nhạc sầu tương tư này nên đây là ngoại lệ. Bài này theo tôi rất là Vietnamese – authentic, nét nhạc ngũ cung mang cái fingerprint – “điểm chỉ” Việt Nam mà chỉ cần nghe thoảng qua là biết. Bên trên, từ trái qua phải: thời điểm thu âm tăng dần và chất lượng giọng ca giảm dần.
đừng xa nhau
Đừng đi mau, để mãi mãi,
là chiếc bóng đậm mầu,
còn theo nhau tới muôn đời sau…
Mỗi bản nhạc Việt giống như một bức tranh truyền thần: là ca khúc nên phần ký âm không “đầy đủ”, “chính xác” như truyền thống nhạc cổ điển (Tây phương), tác giả chỉ phác ra giai điệu chính (một số có soạn thêm hòa âm) và để phần diễn dịch tác phẩm âm nhạc đó cho thính giả. Đứng trước một bức tranh truyền thần, sẽ có rất nhiều cách nhận định khác nhau, nhiều khi là trái ngược nhau.
Thế nên mới có vai trò của nghệ sĩ hòa âm và ca sĩ trình diễn: bổ sung thêm nhiều cảm nhận, màu sắc, biến tấu… cho những nét nhạc chính, những điều mà tác giả chỉ gợi ý mà không viết ra (hoặc đôi khi là chính tác giả cũng chẳng có ý đó). Với tôi, cách diễn dịch Thái Thanh luôn luôn là độc đáo và duy nhất!
đường em đi
Đường em có đi, hằng đêm bước qua,
nở những đoá thơ, ôi dị kỳ…
Một tác phẩm nữa của nhạc sĩ Phạm Duy – Đường em đi mà tôi ngờ rằng là được phát triển bằng cùng một “thủ pháp” với các bản Còn gì nữa đâu, Đừng xa nhau. Cả ba bản nhạc như là những “bài tập” đặc sắc sau thời gian học nhạc lý ở Pháp, Phạm Duy học chung lớp với Trần Văn Khê, nhưng chỉ hơn năm thì bỏ học về nước, như lời ông nói: để sáng tác theo kịp với hơi thở của cuộc sống, của thời cuộc
. Còn anh học trò chăm chỉ Trần Văn Khê về sau trở thành giáo sư nghiên cứu âm nhạc.
Những bản nhạc tình chung chung, mông lung thế này chỉ là phương tiện để tác giả gởi gắm cảm xúc từ ý nhạc, những cảm xúc không tên (hãy nghe thêm phần piano arrangement rất hay), nên cũng chẳng quan trọng lắm về ca từ, Đường em đi hay Đường em chẳng đi, Còn gì nữa đâu hay Không còn gì nữa đâu… Hình bên: ảnh ông cụ những tháng ngày gần đây, trông vẫn rất tinh anh ở cái tuổi ngoài 90, vẫn còn xuất hiện và diễn thuyết về âm nhạc, tuy rằng ít hơn trước.
còn gì nữa đâu
Còn gì nữa đâu, tình chôn đã lâu!
Còn gì nữa đâu, mà phải khóc nhau?
Một thu âm rất mộc và đầy chất fantasy của ca sĩ Kim Tước, Còn gì nữa đâu – Phạm Duy. Lần đầu nghe bản này, tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy một ca sĩ nổi tiếng bài bản, trường lớp như Kim Tước lại có thể “fantasy” đến vậy, một thu âm tuyệt vời!
Phải nghe version này và phần chuyển soạn cho piano của nhạc sĩ Võ Tá Hân thì mới nhìn rõ cái “dụng ý” và “dáng nhạc” của tác giả, những giọng ca khác dù rất nổi tiếng và tài năng như Khánh Ly, Lệ Thu cũng chỉ có thể… phá hỏng bài này.
portrait
It is me, turning exactly 32 years old, graphite on paper, drawn by a senior student of École des beaux arts de Gia Định
. Nice painting, I really love it, although the character in the drawing was not in the best mood for a portrait! Just something for me to remember… “the stains of time”.
I’m sorry having to blank out the artist signature, she is a brave one, having chosen the difficult way of becoming an artist, and even among the very small minority who has chosen Vietnamese lacquer painting
for her path!
See a large version here.
em lễ chùa này
Tàn mùa đông, vào chùa bỡ ngỡ,
Tiễn đưa em trong áo quan này…
Mừng đại lễ Phật đản, mừng Đạo pháp và Dân tộc mời các bạn nghe ca khúc: Em lễ chùa này qua giọng ca Thái Thanh. Bài hát phổ thơ Phạm Thiên Thư xuất bản lần đầu trong tập nhạc Phạm Duy: Con đường tình chúng ta đi. Bài thơ kể lại chuyện tình có thật giữa một chú tiểu và một cô bé Phật tử thường lên lễ chùa vào các mùa trong năm, cả hai cùng vào độ tuổi 16 trăng rằm:
Đầu mùa xuân cùng em đi lễ, lễ chùa này vườn nắng tung bay… mùa hạ qua cùng em đi lễ, trái mơ ngon đồi gió mơn man…
Về sau cô bé chết trong chiến tranh loạn lạc và được chôn trong chính ngôi chùa đó: tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ, tiễn đưa em trong áo quan này…
Về nhà sư hoàn tục Thích Tuệ Không – Phạm Thiên Thư (có phải là ông xuất gia tại chính ngôi chùa cô bé thường đi lễ!?), ông thật sự là ảo thuật gia của thể lục bát, một nhà “tu hành” kiêm người viết thơ tình thượng hạng, tác giả những bài thơ khác đã được Phạm Duy phổ nhạc: Ngày xưa Hoàng thị, Đời gọi em là đóa hoa sầu, Đưa em tìm động hoa vàng, 10 bài Đạo ca… như chính ông đã thừa nhận: Hạc rằng: thưa bác Thiên Thư, Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ!
dân ca mới
Chiều về, chiều về trên cánh đồng xanh,
Có nàng gánh lúa cho anh ra đi diệt thù, u hù,
Từ ngày chinh chiến mùa Thu…
Hồi ký Phạm Duy có nhắc đến việc xây dựng những sáng tác âm nhạc mới dựa trên dân ca, chính thức thì trong những cuộc trao đổi, học tập kinh nghiệm với các chuyên gia TQ tại chiến khu Việt Bắc (các nhạc sĩ “Bát Nhất” đã rất thành công trong thể loại này), ý tưởng đó đã được nêu ra, và khái niệm “dân ca mới” được đặt tên.
Dĩ nhiên, các nhạc sĩ Tân nhạc đã sáng tác nhiều tác phẩm mang âm hưởng dân ca lâu từ trước, nhưng biến nó thành một trào lưu, một phương pháp thì buồn thay không có mấy người thành công: Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát… nằm trong số ít những tác giả tạo ra được nhiều tác phẩm thành danh còn lại đến ngày hôm nay. Hồi ký Phạm Duy cũng nêu rõ:
-
Dùng chuyển hệ ngũ cung (metabole) để không giới hạn giai điệu trong một làn điệu dân ca duy nhất.
-
Ca từ chủ đạo vẫn là lục bát, nhưng linh động, thêm thắt để phù hợp nhạc điệu.
Nếu những nguyên tắc sáng tác (bên đây) chỉ đơn giản có vậy, tại sao chỉ có một số ít người làm được? Nó gợi cho tôi nhớ đến những lĩnh vực khác, như IT, nơi có quá nhiều suy nghĩ hình thức và có rất rất ít người được việc! Lý do tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng hiểu. Tôi cá có nhiều người sẵn sàng tỏ ra “hiểu”, “biết” Phạm Duy mà chưa nghe lấy được một chục ca khúc của ông, mà giả sử có nghe đi nữa thì cũng chắc gì đã hiểu?
Đến hôm nay, những ca khúc dạng này được thế giới biết đến như là “Vietnamese folksongs” (như một ví dụ ở đây), kỳ thực chúng là những “dân ca mới”, nghe có vẻ cũ mà không phải cũ, nghe có vẻ là dân ca mà lại không phải dân ca… Chàng về, chàng về nay đã cụt tay, Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù, u hù, Từ ngày chinh chiến mùa Thu…
Rất nhiều những “dân ca mới” của Phạm Duy ghi lại một giai đoạn lịch sử đầy bi thương và hào hùng, những ca khúc đã sống trong lòng bao nhiêu thế hệ: Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Người lính bên tê, Đường ra biên ải, Mười hai lời ru, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Tiếng hát trên sông Lô, Nương chiều, Bao giờ anh lấy được đồn Tây (Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Gánh lúa…
dưới giàn hoa cũ
Lại tiếp tục về giọng ca Thái Thanh. Phải nói thật cái gu “chất giọng” của tôi khá là hẹp… giọng nữ thì phải như Thái Thanh, Hà Thanh, giọng nam thì phải như Anh Ngọc, Tuấn Ngọc (tức là nam phải ra nam, nữ phải ra nữ, không có chỗ cho các loại Đàm, Đan, Lam… của thời bây giờ).
(Hình trên: bộ ba danh ca, từ phải sang: Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly). Tiếng hát Thái Thanh thường đi liền với nhạc Phạm Duy, nhưng bà cũng hát khá nhiều các tác phẩm của những nhạc sĩ khác. Từ khi nghe giọng ca Thái Thanh đến bây giờ, thú thật chưa thấy bài nào mà bà hát không hay (đó cũng có thể chỉ là “natural bias”).
Hai ca khúc nhẹ nhàng: Về mái nhà xưa – Nguyễn Văn Đông và Dưới giàn hoa cũ – Tuấn Khanh. Khi xưa, riêng thích hai bài này còn vì những lời ca phảng phất một phong vị rất chi Tự lực văn đoàn: về đây mây nước đêm thâu lạnh lùng, vườn dâu thưa lá ngại nỗi tương phùng…
, hỏi tôi những chiều buồn mây tím xây thành, có thương hoa thắm mong chờ không anh…
nước mắt rơi
Nhạc tình Phạm Duy ít khi chung chung, mông lung, càng không bao giờ trừu tượng như nhạc Trịnh. Nhưng mỗi khi tác giả chuyển sang một cái mood có vẻ hoang vắng, xa vời… ta biết là ông đang đi tới những khúc quanh trên con đường sáng tác của mình: Cành hoa trắng, Thu ca điệu ru đơn, Nước mắt rơi, Đường chiều lá rụng…
Những lúc ấy, “nhạc tình” của ông không còn là về một mối tình cụ thể nào nữa, có chăng chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ một tâm trạng mênh mang khi đứng giữa những “ngã ba đường”. Như khi nghe Cành hoa trắng, ta có thể hiểu đó là tâm trạng (và lý do?) lúc ông từ bỏ chiến khu để “dinh tê về thành”.
“Thiên đường”, “trần gian”, “tiên nữ”, “cành hoa trắng”… cũng dể biết nó ẩn dụ cho những điều gì). Bài Nước mắt rơi này sáng tác ở Sài gòn năm 1961, nó có vẻ nói về tình yêu, mà thực chẳng có liên quan gì tới yêu đương, nó như một đoạn chuyển, dường báo hiệu thực tế xã hội giai đoạn tiếp theo đó, một thực tế mà tác giả đã phản ứng bằng cách soạn Tục ca và Vỉa hè ca!
làm sao có em
Ai đã từng đi qua tuổi ngây thơ mà không say mê bài hát này, là nhạc phim The Godfather, nhưng giờ tôi mới biết tới một “diễn dịch” lời Việt khác của Phạm Duy, mà giả sử như bây giờ có một bài hát với lời như thế, không biết Bộ VHTT có duyệt cho lưu hành không:
Làm sao có em để ấm giường êm trong một đêm mềm. Ðể ta ngất ngây một giấc mộng ngoan mơ màng ảo huyền… Làm sao có em để cháy giường loan soi lửa lên tường. Một đôi rắn hoang vội cuốn vào nhau không rời bàng hoàng…
Điều tôi thích ở âm nhạc (cũng như ở con người Phạm Duy) là… nó không phải ràng buộc vào một khuôn khổ nào cả. Một con người phong phú, đa dạng đến thế hẳn nhiên không nằm trong cách đánh giá của những kẻ tầm thường, những người không tự vượt qua được suy nghĩ hình thức sơ đẳng, nhảm nhí, những kẻ chỉ biết dùng thông tin một chiều để chứng minh những nhận định tầm phào.
Nhạc của ông có thể hàn lâm, có thể dân dã, có thể cao siêu, có thể dung tục… Nó cover một khoảng rất rộng đủ mọi nội dung, thể loại, nguồn gốc… Âm nhạc Phạm Duy không hẳn là dễ, nhưng với “popular music” – nhạc phổ thông, thái độ của ông rất là thoải mái, ai hát nhạc ông cũng được, giọng Kim tốt, mà giọng Mộc, Thủy, Hỏa… cũng tốt ça va tout!
. Ông đặt rất nhiều lời cho các ca khúc phổ thông, kể cả bài Happy Birthday lúc ở Mỹ như sau:
– Mừng cả vạn người di cư, cuộc đời tiền vào có dư. Ðể rồi có con, dân bầu, làm tổng thống Mỹ mai sau (biết đâu).
– Wish all the refugees, our life will be easy. And wish some child will be, the President of this country.
trái tim còn trinh
Hôm nay tình cờ được nghe lại bài hát này, chợt nhận ra thoang thoáng mùi ngũ cung Nhật Bản trong nhạc điệu (nếu nó đậm đặc kiểu như Mùa hoa anh đào thì đã là hiển nhiên rồi). Một bài hát mà tôi đã “bị” nghe ra rả suốt ngày vào quãng những năm 12 ~ 15 tuổi (thời cuối của các giọng ca Nhã Phương, Bảo Yến…). Về nhà google thì hóa ra chính là bác Phạm Duy nhà ta đặt lời Việt cho ca khúc Nhật Bản này, bác mà đặt lời Việt tràn lan thế này thì ai còn biết bác là nhạc sĩ sáng tác vĩ đại nhất Việt Nam nữa bác ơi!?
Tài liệu của nhạc sĩ Phạm Duy cũng xác nhận, hai ca khúc “thành công” nhất (tính theo doanh số) suốt những năm 90s ở hải ngoại chính là bài này và Mười năm tình cũ (Trần Quảng Nam)! Tiếc là chưa tìm được bản nhạc Nhật gốc, cái mùi ngũ cung bản địa dĩ nhiên là cứ nhạt dần qua mỗi lần chuyển ngữ, qua những giọng ca thể hiện khác nhau!
bóng chiều xưa
Ca khúc rất phổ biến của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước do chính vợ ông hát. Hãy nghe giọng của nữ danh ca một thời, một trong những giọng ca nữ đầu tiên của Tân nhạc, Minh Trang, mẹ ca sĩ Quỳnh Giao hát những ca từ do chính bà đặt. Nếu không nghe phần thoại giáo đầu thì có ai nghĩ đây là giọng một “cụ bà” 60 tuổi (tại thời điểm thu âm)? Giờ thì không còn thích cái “tango” này như xưa nữa, nhưng vẫn thích cái lời ca với “yêu vận” trong những câu lẻ nhịp…
Một chiều ái ân say hồn ta bao lần. Một trời đắm duyên thơ cho đời bao phút ơ thờ. Ngạt ngào sắc hương, tay cầm tay luyến thương. Đôi mắt em nhìn càng say đắm mơ màng nào thấy đâu sầu vương. Một chiều bên nhau, một chiều vui sống quên phút tang bồng. Anh ơi nhớ chăng xa anh em hát khúc ca nhớ mong.
Một chiều gió mưa, em về thăm chốn xưa. Non nước u buồn nào đâu bóng cố nhân lòng xót xa tình xưa. Lâng lâng chiều mơ, một chiều bâng khuâng đâu nguồn thơ. Mây vương sầu lan, gió ơi đưa hồn về làng cũ, nhắn thầm lời nguyện ước trong chiều xưa. Thương nhau làm chi, âm thầm lệ vương khi biệt ly. Xa xôi còn chi, vô tình em nhớ mối duyên hờ. Tình như mây khói, bóng ai xa mờ.
áng mây chiều
Tiếp tục cái mood serenata… mỗi khi nghe lại nhạc cũ mà có cái cảm giác “exotic” là tôi lại thấy bực mình, một cái bực mình thú vị, lại tìm thấy cái gì đó mới trong những thứ ngỡ đã biết rồi. Ca khúc Áng mây chiều, giọng ca Quỳnh Giao, tác giả không ai khác hơn chính là step – father của cô, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
NS Dương Thiệu Tước khi viết nhạc thất cung thì nhạc ông “rất Tây”, khi viết nhạc ngũ cung thì lại “rất Ta”, nên không có gì lạ khi nghe lại nhạc ông, đôi khi lại cảm thấy “exotic”, vì ông vừa “Tây hơn” vừa “Ta hơn” chúng ta!
Về ca sĩ Quỳnh Giao: cũng từ cái lò ban nhạc Tiếng Tơ Đồng với Mai Hương và Kim Tước, cùng dưới sự dẫn dắt của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cũng một trường phái ca hát, một chất giọng bắt đầu từ Thái Thanh. Sau này ở hải ngoại, Mai Hương, Kim Tước và Quỳnh Giao tái lập Tiếng Tơ Đồng như là một biểu tượng.
Exotic tiếng Anh có nghĩa là “đẹp một cách kỳ lạ”!
con đường vui
Nhiều người thường bảo Tân nhạc sao toàn những bài hát ảo não, ủy mị, ngậm ngùi, trông ngóng, hoài hương, xa quê, xa vắng… tôi cho rằng không phải. Tân nhạc đâu phải chỉ có vậy, còn có rất nhiều ca khúc thiếu nhi, ca khúc học sinh, thanh niên ca, hành khúc, tình ca, ca khúc hướng đạo, âm nhạc Phật giáo, Công giáo, nhạc trẻ, nhạc phản chiến… Một thực tế, thực thể sống động, phong phú, nhiều màu sắc đến như vậy không chịu khó tìm hiểu, không lắng nghe mà cứ phán bừa thì e rằng hồ đồ.
Khi mà đối phương đang ở trên những Con đường không vui – La rue sans joie – Street without joy thì chúng ta có rất nhiều những bài như ca khúc Con đường vui này! Tôi không biết lúc đó bài hát phổ biến như thế nào, nhưng ai có dịp làm quen với các tổ chức Hướng đạo, Thanh niên Phật tử thì sẽ biết nhiều những ca khúc như thế này vẫn còn lưu truyền. Như thế hệ trước, có thể không biết cái tên Con đường vui, nhưng họ vẫn nhớ những lời ca đầy trẻ trung, phóng túng: giang hồ không bờ không bến, đẹp như kiếp Bohémien…

























