viết cho 3///

Tôi không thích dùng từ ngữ bao đồng, xúc phạm, vì ở đâu, giới nào cũng luôn có người này, người khác (trong tất cả mọi phe phái). Nhưng thời gian đã qua đi gần nửa thế kỷ, những sự thật lịch sử hiển nhiên, nhiều người vẫn không muốn thừa nhận, hay tìm cách làm sai lệch nó đi! Dưới đây là bức tranh toàn cảnh sân khấu chính trị miền Nam Việt Nam, nói thật ra, Hà Nội có sách lược từng bước, từng bước, hết sức rõ ràng! Bước 1: tìm cách lật chế độ Diệm: một chế độ độc tài, gia đình trị, thiên vị tôn giáo, ngu dốt và tàn ác. Được dựng lên bằng một cuộc bầu cử gian lận, nhưng ít nhất người Mỹ cũng có thể “lu loa” với thế giới rằng đây là một chế độ “bầu”! Bước 2: ai ra ứng cử thổng thống, thủ tướng với tư cách “dân sự” là kêu biệt động thành đi ám sát, ví dụ như vụ GS Nguyễn Văn Bông.

Những sự việc này “chính sử” đã thừa nhận, chẳng có gì phải ngại mà không công khai. Bước 3: chính giới SG chỉ còn lại các tướng lĩnh, các ông này thì chẳng ai chịu ai. Như vụ Thiệu, Kỳ & Nguyễn Chánh Thi, cánh miền Nam & cánh miền Trung đánh nhau năm 66 ở Đà Nẵng, hàng trăm lính thương vong! Bước 4: dùng phong trào đấu tranh của Sinh viên và Phật giáo, đòi hỏi một chế độ “dân sự”. Nhưng trong một cái bẫy đã giương sẵn thì người Mỹ kiếm đâu ra một “chế độ dân sự”, trước sau chỉ có “quân phiệt, độc tài” thôi! Bốn bước trên làm cho miền Nam không bao giờ có được một chế độ dân cử, trước sau đều là các “chính phủ tạm thời” cho các tướng lĩnh đảm nhiệm. Như thế, tính “chính danh” của VNCH là không có, vì đó có phải là một chính phủ do dân bầu đâu!?

Nói trắng ra, là gì nếu không phải là một bộ máy quân sự cho người Mỹ tạo nên, bơm tiền nuôi sống và giật dây điều khiển, sự thật trước sau chỉ có thế! Ngay giới quân phiệt cũng không đồng nhất, thành phần già như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn… tương đối có tư cách, không muốn dính líu quá sâu với người Mỹ, thậm chí muốn đàm phán với MTGP. Thấy không thể chống Cộng với thành phần già, Mỹ giật dây cho các tướng trẻ lên nắm quyền. Từ 1963 đến 1973, 10 năm có 10 cuộc đảo chính, chẳng lúc nào yên, tình hình như thế chỉ có lợi cho MTGP. Lúc đảo chính họ Ngô, ông Nguyễn Văn Thiệu mới là… đại tá, sư trưởng, 40 tuổi, ông Nguyễn Cao Kỳ… trung tá, 33 tuổi, 4 năm sau thì một người thành tổng thống, một người thành thủ tướng, ở độ tuổi trên dưới 40!!!

Trong những thể chế thông thường khác thì phải hơn 20 năm nữa, các ông ấy mới “đủ tuổi” để ngồi vào hai cái ghế ấy! Nên nói cho đúng chỉ là một junta – tập đoàn tướng lĩnh tay sai mà thôi! Phật giáo thời gian đầu giữ lập trường không can thiệp chính trị của họ. Nhưng trước thực trạng bị đàn áp, sát hại quá nhiều, nên họ mới phải đấu tranh, trước sau đều bằng các biện pháp bất bạo động kiểu Gandhi! Tại thời điểm 1963, ông Trí Quang cũng chỉ 40 tuổi, trong hàng giáo phẩm Phật giáo mới ở cỡ… trung bình, các ông “boss” thực sự như Thích Tịnh Khiết, Thích Đôn Hậu… vẫn còn chưa ra mặt. 1000 người chết chỉ là một con số, đôi khi chẳng ai biết! Nhưng cái chết như của hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu lại làm rung chuyển thế giới, đánh thức lương tâm loài người!

Rất nhiều lực lượng khác nhau, bao gồm gần như là toàn thể xã hội: một số là Cộng sản nằm vùng, một số thân CS, một số có liên hệ với CS, một số chẳng dính dáng gì đến CS, tất cả đều cùng đấu tranh, đó là phản ứng hiển nhiên trong tình trạng bị đàn áp đến mức dầu sôi lửa bỏng! Nên nói các bạn “ba que”, người Mỹ không hiểu Việt Nam đã đành (đó là một trong những sai lầm lớn nhất của họ, dẫn đến thua toàn bộ cuộc chiến), các bạn mang tiếng là người Việt, sống trong lòng dân tộc, mà các bạn chẳng hiểu éo gì về dân tộc. Đương thời, các bạn chẳng đại diện được cho đa số dân chúng, còn đến lúc thua rồi cũng không biết vì sao mà thua, lại còn cay cú đơm đặt, hoang tưởng! Cũng còn may là đất nước, dân tộc này vẫn còn những nguồn nội lực âm thầm & thâm hậu khác!

thích trí quang

高高山上行船
深深海底走馬

Cao cao sơn thượng hành thuyền, Thâm thâm hải để tẩu mã.

Cao cao trên đỉnh núi ta chèo thuyền, Sâu sâu dưới đáy biển ta cỡi ngựa.

Đại lão Hoà thượng Thích Trí Quang đã về cõi Phật, giới trẻ bây giờ còn không biết người này là ai. Người ta chụp lên đầu ông đủ thứ “mũ” khác nhau, bên thì gán là CS, bên thì nghi là CIA, người khác nữa thì cho là đại diện “bên thứ 3”, vâng vâng. Riêng ông thì bảo: “Càng nhiều mũ càng tỏ rõ thật không có mũ nào. Trái lại, càng nhiều mũ càng tốt…” Và tôi cũng nghĩ như vậy, trước sau, ông chỉ có cái mũ ni tu hành đó mà thôi!

Lại nói, đám bô bô cái mồm, cái gì mà… “Tiết trực tâm hư” – 節直心虛 (lòng ngay thẳng, tâm trống rỗng như đốt tre) chẳng những không có tư cách để hiểu con người này (và đã phải nhận lãnh nghiệp chướng vì không hiểu sức mạnh thâm trầm của đạo pháp), mà rất nhiều người khác cũng không hiểu ông nốt. Trong một thời đại mà người ta phải “chọn phe”, đứng giữa 2 làn đạn như ông là một bản lĩnh phi thường!

nhà 100 cột

Cuối tuần, tranh thủ “độp” ra ngoại thành tí cho giãn gân cốt, nhân tiện ghé thăm căn nhà cổ 100 tuổi, 100 cột ở Long An, lộ trình đi & về: 50km x 2. Căn nhà rường kiểu Huế, 5 gian 2 chái, có 2 dãy nhà phụ cộng lại hình chữ khảm (), do 17 người thợ làng mộc Mỹ Xuyên, Huế trong hơn 3 năm mới hoàn thành. Căn nhà có nhiều điêu khắc sống động, xinh xắn…

ghe Sấm

Đạp xe 2 ngày (100km x 2) chỉ để ghé thăm con tàu này: ghe Sấm, Nhà Lớn, Long Sơn, Vũng Tàu. Một chút lịch sử di dân, một chút phong tục tập quán tốt đẹp cũ còn sót lại. Chiếc ghe Sấm này dài khoảng 20m, rộng khoảng 4.5m, có một cột buồm 15m với nhiều mái chèo…

Tiện ghé qua bảo tàng vũ khí Robert Taylor. Hình đầu tiên bên dưới, một biểu tượng của 2 cuộc kháng chiến. Tên “khoa học”: Bren light machine gun, tên “dân gian”: khẩu FM đầu bạc. FM là viết tắt từ tiếng Pháp: fusil mitrailleur – súng máy, còn cái biệt danh “đầu bạc” thì xem hình sẽ rõ…

woodgas

Hơn 30 năm về trước, những chuyến xe đò miền Trung, thường thấy có cái lò đốt than gắn sau xe, vừa chạy vừa bốc khói, văng lửa tung toé. Hồi đó ngây thơ cho rằng đó là một loại động cơ hơi nước, giờ thì biết đó nó chạy bằng… củi, gỗ. Nguyên tắc hoạt động đơn giản: củi, gỗ được đun trong cái lò yếm khí (thường đun bằng than) phát sinh hỗn hợp khí gas (đa phần là H2 – hydro và CO – carbon monoxide), loại gas này cháy được, sau khi qua hệ thống lọc sạch, dùng làm nhiên liệu cho động cơ.

Trước WW1, châu Âu xài phổ biến hệ thống ống phân phối khí than (coal gas) qua đường ống, phục vụ nhu cầu thắp sáng, sưởi ấm ở đô thị. Khí than cũng là một dạng syngas, khí tổng hợp nhân tạo như woodgas, hầm than trong môi trường kín để sinh ra khí đốt, hệ thống này được dùng mãi cho đến khi các hệ thống xài LPG hiện đại hơn ra đời. Những năm WW2, ở châu Âu, cả triệu xe hơi được hoán cải để xài woodgas do thiếu hụt thiếu xăng dầu nghiêm trọng, thậm chí xe tăng cũng có lúc phải chạy… bằng củi!

Đến tận bây giờ, nhiều vùng tương đối lạc hậu (như Triều Tiên, Miến Điện…) vẫn còn xài loại “lò hơi” này, xe chỉ cần thay đổi chút xíu ở carburetor – bộ chế hoà khí, lúc có xăng thì chạy xăng, lúc không có xăng thì… xách rìu vào rừng đốn củi! Khí gas có được từ quá trình “nung, hầm gỗ” chỉ có khoảng 60 ~ 70% mật độ năng lượng so với xăng, nên xe cũng chỉ có thể chạy tới mức đó, 60, 70 kmh cũng đã là rất tốt, và dĩ nhiên là hao củi, gỗ, ước lượng khoảng 100 kg cho 100 km với một chiếc xe tải 2 tấn!

Tuy chưa bao giờ được xem là giải pháp thay thế xăng dầu, nhưng woodgas cũng có một số ưu điểm có thể cân nhắc: quá trình đốt thải ra carbon dioxide – CO2, nhưng hầu như không thải ra carbon monoxide – CO như động cơ chạy xăng, nên được xem là sạch, ít gây ô nhiễm. Tro than còn lại sau quá trình đốt có thể dùng làm phân bón, nên đứng từ góc độ kinh tế, hệ thống có hiệu suất toàn phần tốt hơn, phù hợp hơn với các môi trường nông nghiệp! Xem thêm các thông tin ưu / nhược trên wiki!

Catalina

Lại những ngày tối mặt tối mũi với công việc, nhìn ra “biển” qua cái cửa sổ 15 inch. Nhân upgrade Macbook lên Catalina beta, ảnh nền có tính năng “dynamic lighting”, tự động điều chỉnh sáng theo thời gian trong ngày, để nhắc cho coder biết hiện tại đang là sáng hay chiều, là ngày hay là đêm (có khi không biết đâu!) Điều tuyệt vời nhất của chèo thuyền trong không gian rộng lớn, đó là sự tương phản ánh sáng. Đôi khi cơn giông kéo đến, mọi thứ xung quanh tối sầm lại…

Nhưng đâu đó cuối chân trời vẫn le lói ánh sáng. Tự nhủ rằng cố gắng chèo thêm vài tiếng đồng hồ nữa thôi là sẽ đến được “ánh sáng cuối đường hầm”. Cũng đôi khi, toàn mặt biển đều xám xịt, riêng tại chổ mình đang đứng, chỉ có vài trăm mét quanh chiếc thuyền, lại thấy ánh sáng chói lọi, mọi chi tiết tương phản rõ nét đến lạ lùng! Cảm giác như đang đứng dưới ánh đèn tròn sân khấu (lime light), một cái sân khấu chỉ có mỗi mình mình tự biên, tự diễn, tự mình thưởng thức…

nguyễn văn bảy

Không nhiều người biết đây là phi công chiến đấu số một Việt Nam mọi thời kỳ! Nổi tiếng với lối áp sát bắn ở cự ly 200, 300 mét, khoảng cách đó trên không cũng giống như dưới mặt đất, bộ binh bắn ở khoảng cách 2, 3 mét vậy, không thể nào mà trật được! Về công danh nhiều người hơn ông, ví dụ như: Nước này còn lắm gian truân, Việc gì phải phóng Phạm Tuân lên trời, về thành tích cũng nhiều người hơn, vì sau khi hạ 7 chiếc máy bay Mỹ thì bác Hồ lệnh ko cho ông Bảy bay nữa, sợ mất một người anh hùng. Nhưng về bản lĩnh chiến đấu – dogfight, thì Nguyễn Văn Bảy là số một!

VNG

Nhiều ngày tiên tiếp mưa rả rích, không tiện “ra khơi”, đành ngồi nhà đọc sách. Tác giả cuốn sách trong hình bên dưới, lúc đó đã 71 tuổi, đang chèo thuyền trên hồ Tây…

tiểu thuyết

小説

Thế nào là “tiểu thuyết”, có vẻ chẳng liên quan gì đến khái niệm tương đương trong tiếng Anh là ”novel” (bản thân từ này lại có nghĩa gốc là… “mới”). Nếu dịch word-by-word thì “tiểu thuyết” tức là… “small talk”. “Tiểu thuyết” là để phân biệt với “trung thuyết” & “đại thuyết”.

Đại thuyết tức là Tứ thư, Ngũ kinh… lời của thánh hiền. Trung thuyết tức là Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến Quốc sách, Tôn Tử binh pháp… những sách vở có giá trị kém hơn chút, và cuối cùng trong nấc thang là… tiểu thuyết, thứ văn chương đọc giải trí, giết thời gian kiểu Thuỷ hử, Hồng lâu mộng…

guaras

Một thành viên VTSA đang thử nghiệm kỷ thuật “lái chọt” – Guaras, cầm cái mái chèo “chọt lung tung” để đổi hướng đi của thuyền buồm. Một kỷ thuật rất hữu ích có thể dùng khi thuyền bị hỏng bánh lái, cách này khiến thuyền thay đổi CLR – Center of Lateral Resistance và đổi hướng đi. Chỉ cần thuộc 3 nguyên tắc:

1. luôn luôn “chọt” phía bên mạn dưới gió (leeward).

2. “chọt” phía mũi khiến thuyền đi gần gió hơn (tack).

3. “chọt” phía đuôi khiến thuyền đi xa gió hơn (jibe).

bích nhãn hồ

Theo các kinh điển Phật giáo ghi lại thì một trong 32 tướng mạo tốt của đức Phật là ngài có mắt màu xanh (!!!) Nên biết Ấn Độ thời của đức Phật khác với Ấn Độ bây giờ, dù là xét về chủng tộc, văn hoá hay ngôn ngữ. Trước khi nhập diệt, đức Thế tôn nói rằng: Này các chư tăng, vạn vật trong thế gian thảy đều vô thường, không gì tồn tại mãi, vì vậy hãy luôn kiên trì, tinh tấn trên con đường tự mình tìm lấy giải thoát! Chuyện kể thêm về “tinh tấn”: đệ Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc – Huệ Khả tìm đến Sơ tổ – Bồ Đề Đạt Ma xin học đạo nhưng không được chấp nhận, ông quỳ trước sân suốt đêm, tuyết ngập đến ngang thắt lưng.

Sáng hôm sau, Bồ Đề Đạt Ma mới hỏi: ngươi bảo có quyết tâm học đạo, thế quyết tâm của ngươi đâu, cho ta xem! Huệ Khả liền rút đao chặt cánh tay trái của mình dâng lên. Sách vở TQ ghi lại rằng Bồ Đề Đạt Ma cũng có mắt màu xanh: 碧眼胡 – bích nhãn Hồ – người “Hồ” mắt xanh. Thế rồi hơn 2500 năm sau, ở một xứ cũng tạm gọi là “Phật giáo”, “tinh tấn” chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn “tinh tướng”, nhiều người hết “Thưa mẹ con đi” lại đến “Về nhà đi con”, cứ đi ra đi vào một vài bước con con như thế, tự tạo nên một đám bụi mù, rồi cũng học đòi, nhân danh, nào là “Vu Lan”, nào là “Giải thoát”, “Giác ngộ” .v.v.

trừu đao đoạn thuỷ

Suy nghĩ vẩn vơ, điều kỳ lạ là, thời bây giờ, người TQ có thể đọc sử VN như: Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư .v.v. một cách tự nhiên, bằng chính ngôn ngữ của họ (vì tất cả những sách đó đều viết bằng chữ Hán). Trong khi người Việt không còn có thể tự đọc sử của chính mình!

Từ trong vốn văn hoá cũ, từ hơn 1200 năm trước, Lý Bạch đã cho thấy một mẫu cá tính… larger – than – life, xa hơn cả cuộc đời! Cuộc sống hiện đại, với tất cả những tiến bộ, hiểu biết của nó, hoá ra, lại toàn tạo thành những con người… smaller – than – micro – beads, nhỏ hơn vi – nhựa!

narcissism of small differences

Khu vực tôi sinh ra & lớn lên, bên này & bên kia đèo Hải Vân, cách nhau một ngọn núi nhưng đời sống người dân có nhiều khác biệt: giọng nói khác nhau, tâm tính khác nhau, tập quán sinh hoạt cũng hơi khác nhau. Chính vì những sự khác biệt nho nhỏ ấy mà đẻ ra biết bao nhiêu mâu thuẫn, kèn cựa, thù ghét, mỉa mai, đàm tiếu, hài hước…

Ấy là còn cách nhau một con đèo, còn cách trở một chút. Gần hơn, như một dải từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên, con người từng vùng cũng khác biệt. Với người miền ngoài mà nói thì hầu như không thể phân biệt giọng Quảng Bình với Quảng Trị, Quảng Trị với Huế. Nhưng với người địa phương thì sự khác biệt là rất rõ ràng, hiển nhiên.

Ngay bên trong một tỉnh, từ huyện này sang huyện khác, từ làng này sang làng khác cũng không hoàn toàn giống nhau. Sự khác biệt từ ngôn ngữ giọng nói, đến phong tục, tập quán, đến độ có những câu “thành ngữ” kiểu như: Bất thú Dạ Lê thê, bất thực Nguyệt Biều kê… – không lấy vợ làng Dạ Lê, không ăn gà làng Nguyệt Biều…

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó, theo cái nhìn của Freud, là một trong những động lực chính để các nền văn minh đấu tranh và phát triển. Trong nỗ lực tạo nên sự khác biệt, con người ta có xu hướng ghét những cái giống mình, mà thích những thứ khác biệt với mình, đó âu cũng là bản tính tự nhiên của con người và muôn loài!

Suốt lịch sử nhân loại, hầu hết những xung đột đều là những mâu thuẫn cục bộ nhưng gay gắt, càng giống nhau lại càng gay gắt. Xưa đã có Hy Lạp & La Mã, Ngô vương Phù Sai & Việt vương Câu Tiễn, gần hơn thì Anh & Pháp (nội chiến 2 Hoa hồng), Anh & Đức (WWI & II), Iran & Iraq, gần nữa thì Nam & Bắc Triều Tiên, Ukraine & Nga, etc…

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó nó lặp đi lặp lại trên nhiều mức độ, quy mô khác nhau. Như người Việt tự nhìn mình thì Nam VN và Bắc VN khá là khác nhau: Mạc & Trịnh khác nhau, Trịnh & Nguyễn khác nhau, Nguyễn & Tây Sơn khác nhau. Nhưng từ góc nhìn phương Tây thì cả Nam & Bắc VN đều giống nhau và đều rất giống… Trung Quốc.

Suốt hơn 2000 năm, Trung Quốc là cái lý do căn bản để VN… đến như ngày hôm nay. Chúng ta học họ mọi thứ, từ ngôn ngữ đến văn chương, từ phương thức sản xuất đến thể chế chính trị. Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục học, TQ làm cái gì là y như rằng 5, 10 năm sau, chúng ta bắt chước làm theo (kiểu như “điện mặt trời” và “ví điện tử”).

Nhưng cũng vì quá giống nhau như thế, nên hết lần này đến lần khác, xuyên suốt lịch sử, cái ám ảnh tự kỷ đó lại thôi thúc VN đi tìm kiếm, khẳng định bản sắc riêng của mình, luôn muốn tách ra để được “độc lập”, không chịu nằm trong vòng ảnh hưởng của TQ. Căn bản, đó cũng là một điều tốt, tiếc là sự “khác biệt” tạo ra chỉ ở trên “đầu lưỡi”.

Khác biệt nhỏ, nhưng thế nào là to, thế nào là nhỏ…tất cả đều tương đối. 15 tuổi, tôi đã thấy những khác biệt địa phương là nhảm nhí, 25 tuổi, đã thấy toàn VN đâu cũng như nhau… Toàn cầu hoá, kết nối thông tin, thế giới lại càng trở nên “không phẳng” hơn bao giờ hết, tất cả khác biệt, to hay nhỏ sẽ đều được đem ra xét lại… (to be continued)



vay mượn

Ngôn ngữ và văn hoá TQ ảnh hưởng khắp Á Đông: Đài, Hàn, Nhật, etc… không chỉ riêng gì Việt Nam, từ cả ngàn năm trước cho đến thời hiện đại. Dưới đây là 3 ví dụ về những thời điểm khác nhau mà một từ tiếng Hoa du nhập vào tiếng Việt, ví dụ đầu tiên là chữ… “ví dụ”:

1. 比如 âm Hán – Việt: tỉ như, âm Bắc Kinh hiện đại đọc là… ví dụ. Hiện tại, trong tiếng Việt, “tỉ như” và “ví dụ” dùng tương đương nhau, cả 2 thực ra chỉ là một từ, nhưng du nhập vào VN tại 2 thời điểm khác nhau, một là cả ngàn năm trước, một có thể chỉ mới vài trăm năm gần đây!

2. 如果 âm Hán – Việt: như quả, âm Bắc Kinh hiện đại đọc là: rút cuộc, hiểu theo nghĩa: kết quả là, cuối cùng thì… “Như quả”, từ này trong Hán Nôm rất ít thấy ghi nhận. Rút cuộc, có thể kết luận từ “rút cuộc” du nhập vào tiếng Việt tại một thời điểm chưa quá xa.

3. âm Hán Việt: toan, toán. Từ này du nhập vào tiếng Việt chỉ vài năm gần đây, âm Bắc Kinh đọc giống như là… xoã, chính là từ “xoã” của giới trẻ hiện tại với ý nghĩa: bỏ đi, quên đi, thư giãn. Hãy copy cụm từ: 算了,回家了 vào translate.google.com xem nó đọc và dịch thế nào!

Một số người thành kiến với ngôn ngữ và văn hoá TQ, nhưng không nhận ra ảnh hưởng sâu rộng của nó khắp Á Đông, cũng chẳng khác gì ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp – La Mã với phương Tây vậy. Hình dưới: cổ động viên bóng đá Nhật Bản đeo băng-rôn đề chữ: Tất Thắng – 必勝.

chuyển động brown – brownian motions

Có những chiều, tìm cách nhích từng bước nhỏ trong dòng xe đông đặc, ken kín của Sài Gòn… ngột ngạt khói bụi, inh ỏi còi bấm, lất phất mưa rơi. Cả một rừng người căm phẫn, dẫm đạp, chửi bới nhau, ai cũng muốn thoát ra nhưng không ai có thể! Nhiều khi cũng muốn chửi thề lắm, nhưng như người ta nói: people living in glass house shouldn’t throw stones – người đang sống trong nhà kính không nên ném đá, bởi chính tôi cũng đang là một người tham gia giao thông, cũng đang góp phần tạo ra cái tệ nạn nan giải ấy, dù muốn dù không cũng đang là một phần của nó!

For your own sake peace – of – mind, ai chịu đựng được cái “thảm cảnh” ấy, chứ tôi thì không! Nhất là khi có vài cô chú Tây đứng trên lề đường, giương máy ảnh, điện thoại chụp lấy chụp để, kiểu như là họ đang được chứng kiến được một giống loài hiếm có trong sở thú ấy! Mà dân Việt Nam, dù đã 100 triệu người, quả là một chủng loại khá hiếm hoi trên cái quả đất này về cái khoản tự sinh ra, tự chịu đựng tệ nạn, vừa ăn cướp vừa la làng, vừa là thủ phạm cũng như vừa là nạn nhân của chính mình, mà tuyệt nhiên không hề có một chút ý thức nào để cải thiện tình hình!

Nhìn từ trên cao, tất cả giống như một kiểu chuyển động Brown – Brownian motion của hàng triệu hạt phấn hoa đặt trên một giọt nước khi quan sát qua kính hiển vi, điên cuồng, hỗn loạn, giống như mô tả của nhà sinh học Robert Brown mấy trăm năm về trước! Quay trở lại chuyện các cô cậu Tây chụp ảnh, tôi thấy… nhục nhã vô tận! Muốn bước đi chỗ khác, nhưng chẳng thế nào mà bước đi đâu được! Dĩ nhiên, với tầm cỡ cá nhân mình thì đúng là bất lực trong việc giải quyết các vấn đề nan giải của cộng đồng và xã hội, mà cũng chẳng hơi đâu quan tâm chuyện vĩ mô!

Trong nhận thức của tôi, không có chuyện đúng / sai theo kiểu “biết rồi để đó”, “ậm à ậm ờ”, tức là người “biết” đúng mà không làm theo, không ủng hộ cái đúng thì trong sự phân loại của tôi, được xếp vào loại “chưa biết”. Chả ai hơi đâu đi phân tích đúng / sai bên trong một con người, người ta chỉ căn cứ vào kết quả sau cùng, chẳng cần phải “lý gio lý trấu” gì! Các bạn đừng cho rằng tôi “cực đoan”, vì sự chọn lựa cuối cùng mới nói lên bản chất con người, và “nhận thức” là để phục vụ cho “hành động”, chứ thời buổi internet này, bảo “biết” một cái gì đó thì có vẻ như ai cũng “biết” cả!

Nói về ủng hộ hay phản đối xe hơi, xe máy, đó không phải chỉ là vấn đề kinh tế! Xe hơi nếu bán đúng giá, tôi nghĩ không phải là chuyện quá lớn. Vấn đề lớn hơn là quy hoạch đô thị! Nhưng còn lớn hơn nữa là thói quen sinh hoạt của người dân, ai cũng thích những tiện lợi nho nhỏ, ai cũng muốn xẹt qua xẹt lại nhanh chóng! Nếu đã nghĩ đến đó, lập tức chúng ta nhận ra… hình như bài toán không có lời giải! Kinh tế có thể phát triển, đô thị có thể mở rộng, nhưng các bạn nghĩ có thể thay đổi được bản chất của người Việt ư!? Ai còn ảo tưởng về điều đó, chứ tôi thì không mảy may!

Nghĩ rồi làm, thế là tôi đạp xe từ hơn 3 năm nay, xe máy vẫn để đó nhưng chỉ khi đi đâu xa, hoặc đi có việc gấp thì mới dùng đến! Còn đi cafe, siêu thị, gặp gỡ bạn bè, hàng ngày tôi vẫn đạp xe, 20, 30 km vẫn đạp! Tức là vẫn còn dính dáng đến những thứ gây kẹt xe, ô nhiễm, nhưng ở một mức độ khá ít! Thêm nữa là có lợi cho sức khoẻ, rèn luyện đôi chân (đôi tay đã có bộ môn chèo thuyền). Nhưng đi đâu, làm gì cần phải tính toán kỹ càng, không thể ngẫu hứng mà xẹt xẹt xe máy như trước được! Giờ thì trên cạn, dưới nước, em đều dùng sức người nhé, toàn phải đổ cơm mới chạy cả!






sơn mài, sơn & mài



Trước quen một số bạn Mỹ thuật Gia Định, chuyên ngành Sơn mài. Có thể nhiều người chưa biết, Sơn mài là một ngành mỹ thuật rất đặc thù của VN. Cứ sơn lên rồi lại mài đi, làm như thế 10, 15 lớp, thậm chí nhiều hơn. Làm tranh sơn mài tốn công hơn các loại tranh khác rất nhiều, nhưng bù lại, tranh có độ trong, độ sâu huyền ảo, do có nhiều lớp chất liệu chồng lên nhau. Nhắc nhớ vụ án gần đây, kiệt tác, bảo vật quốc gia đã “lên đường” do bị “phục chế” bằng… nước rửa chén. Cũng có ý kiến (có khả năng cao) cho rằng: có ai đó đã mượn việc “phục chế” này để tráo một bức tranh giả, tranh chép vào đấy, còn bức “gin” của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí thì đã biến mất.

Quay lại chuyện sơn và mài… với đồ gỗ nội thất, thường chỉ 2, 3 lớp sơn là đủ, nhưng với vật dụng ngoại thất, đặc biệt là thuyền bè, thì phải sơn 5 ~ 7 lớp là bình thường. Cực kỳ tốn công: sơn xong một lớp, đợi cho khô, dùng máy chà nhám chà cho bay bớt đi, rồi lại sơn chồng lên, lặp đi lặp lại như thế 5, 7 lần. Với đồ nội thất, sơn là để tạo ra bề mặt bóng đẹp, đồ ngoại thất thì lại cần lớp phủ bảo vệ bền. Nên sơn xong là chà, là mài đi, cái gì bám thì bám, cái gì bay là bay, cứ như thế 5, 7 lần mới có được lớp sơn bền đẹp. Chẳng liên quan gì, nhưng em mèo ngồi quan sát mình làm việc, giờ này qua giờ khác, mãi làm ko để ý thấy, lúc nhìn lại thì thấy nguyên bộ mặt tức tối, giận dỗi!

cao khảo

Cao khảo – 高考, giống kỳ thi ĐH ở VN (âm Bắc Kinh hiện đại, hai từ cao & khảo đọc gần giống hệt nhau). Là một sự thách đố, làm khó các bạn trẻ giai đoạn đầu đời mà chẳng cần lý do vì sao. Một năm trước khi kỳ thi diễn ra, thầy cô chủ nhiệm họp phụ huynh và đề nghị: nếu muốn ly hôn, phá sản, cưới vợ lẻ, hay muốn qua đời vâng vâng… thì nên hoãn đến sau khi kỳ thi kết thúc, để con em tập trung ôn thi!

Mình chưa bao giờ biết cảm giác đó là thế nào: không đi học thêm, không giải bộ đề, cũng vẫn tự ôn thi nhưng túc tắc một cách cầm chừng nhỏ giọt, kết quả không cao không thấp, 27.5/30 điểm. Vẫn luôn có những cách để các bạn trẻ thoát ra được những định kiến, lề thói, ràng buộc của xã hội để mà chọn hướng đi cho riêng mình, hay ít ra vẫn luôn có cách để giữ cho tâm hồn mình được tự do, thanh thản, mạnh khoẻ!

con quay hồi chuyển

Báo chí VN tràn ngập những kiểu thông tin như thế: con quay hồi chuyển giúp loại bỏ 90% tròng trành của thuyền. Những tay “nhà báo” chuyên la liếm các trang tin nước ngoài rồi copy lại mà không có tẹo suy nghĩ! Trước hết, đúng là thiết bị này có một số ứng dụng thực tế chứ không phải là không. Những “gyroscopic device” thế này đã được phát minh ít nhất cách đây hơn… 100 năm, nhưng tại sao đến bây giờ vẫn không phổ biến!?

Thứ nhất là khối lượng của con quay hồi chuyển phải khá lớn mới có thể cân thuyền, điều này làm giảm trọng tải hữu ích, chưa kể năng lượng hao phí để giữ cái “gyroscopic device” đó quay liên tục ở tốc độ rất cao hàng ngàn vòng / phút. Thứ hai, quan trọng hơn nhiều: giúp cho thuyền có ổn định ở vị trí bình thường cũng có nghĩa là giúp thuyền có “ổn định” ở mọi vị trí, hiểu theo nghĩa: khó nghiêng, nhưng khi nghiêng cũng rất lâu quay lại vị trí cân bằng.

Khi sóng gió nhỏ, thuyền có vẻ như bớt lắc, nhưng trong sóng to gió lớn, thuyền rất lâu quay về vị trí cân bằng, điều này tạo nên cảm giác “say sóng” cực kỳ khó chịu, nếu không muốn nói là nguy hiểm. Những thí nghiệm cách đây gần 100 năm cho thấy: đúng là thuyền bớt lắc trong sóng gió nhỏ, nhưng nó cũng có xu hướng cứ giữ mãi tư thế nghiêng trong sóng to gió lớn, chính là vì con quay hồi chuyển giúp ổn định vật thể ở *trạng thái hiện tại*!

USS Henderson là con tàu đầu tiên được trang bị thiết bị ổn định con quay hồi chuyển (1917). Nhưng chính nhà sản xuất thiết bị cũng khuyến cáo chỉ dùng trong điều kiện sóng nhỏ, nếu sóng lớn thì nên “tắt” thiết bị này đi (!!??). Trãi qua hơn 100 năm phát triển, người ta thấy rằng, trên tàu biển, con quay hồi chuyển vừa nặng nề, vừa phức tạp, lại không hữu ích bằng “stabalizing fins”, các “vây, cánh” ổn định.

Có lúc, ai cũng nói, ai cũng nhắc: “con quay hồi chuyển”, xem nó như “thiết bị vạn năng”, “công nghệ toàn năng” giải quyết được mọi vấn đề. Tôi thì đơn giản nghĩ là sự lặp lại như con vẹt những khái niệm hình thức mà không thực sự hiểu nội dung, nội hàm của nó, điều đó chỉ phản ánh sự “thiểu năng trí tuệ” của người nói, nói mà không hiểu mình nói cái gì, đơn giản chỉ vì mọi người ai cũng đang “nói” về cái đó! Tập tính bầy đàn cố hữu của người Việt!

bel canto

Chờ nhau hoài cố nhân ơi! Sương buồn che kín muôn đời, Hẹn nhau một kiếp xa xôi, Nhớ thương nhau hoài mà thôi…