bạch mã

Mô hình 3D Google Earth của khu vực Hải Vân – Bạch Mã: từ Đà Nẵng, đi theo lộ 1 – đường đỏ nét liền – đến quá Lăng Cô thì bắt đầu đi bộ lên đỉnh – đường đỏ nét đứt. Click vào ảnh để xem chi tiết.

Đầm Cầu Hai và cửa biển Tư Hiền xa xa, nhìn từ lưng chừng Bạch Mã


âu lắm rồi, năm 199x (không nhớ rõ), một nhóm bạn cũ ít gặp, những kỷ niệm lúc nhỏ trở về, một nhu cầu “reconnect & retreat” chợt xuất hiện… thế là một chuyến đi chơi không hẹn lại nên. Ngày 23 tháng chạp âm lịch, nhóm 5 người chúng tôi tổ chức một chuyến dã ngoại lên đỉnh Bạch Mã. Đây gần như là khu bảo tồn thật sự nguyên sinh duy nhất còn lại trên cả VN, và cái quyết định thất thường đi Bạch Mã vào một ngày giáp Tết đã cho phép chiêm ngưỡng nơi này vào mùa đẹp nhất trong năm. Tuy vậy đẹp nhất cũng đồng nghĩa là khó chịu nhất, cái lạnh và ẩm ướt gần như làm kiệt sức mọi thành viên.

Nếu xét riêng từng mặt thì đây không phải là một vùng quá ư đặc biệt, nhưng tính tổng hòa hệ sinh thái: núi, rừng, biển, đầm nước lợ ven biển, và sự đa dạng sinh học kỳ lạ thì nơi đây thật là một cảnh quang diễm lệ có một không hai. Tuy có đường nhựa cho xe chạy nhưng cả nhóm quyết định cuốc bộ, đi theo đường chính, thỉnh thoảng cắt rừng để thăm thú đó đây. Ngày đầu tiên nắng chang chang, lên cao thời tiết mát được thêm chút ít, và thảm thực vật cũng dần thay đổi theo. Đêm đầu tiên cả nhóm hạ trại trên đỉnh thác Đổ Quyên, một ngọn thác hùng vĩ cao hơn 400m, nước tuôn đổ xuống xuyên qua sương mù.

Từ một sườn núi nhìn về thác, có chiếc cầu nhỏ nối hai bờ, uốn hình vòng cung ôm ngọn thác vào giữa. Nhìn dòng nước này không thể không nghĩ đến Lý Bạch: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên… Gọi là thác Đổ Quyên vì có loài hoa đổ quyên mọc đỏ đầy ven bờ, một loài hoa mang nét đẹp quý phái. Rồi những ngọn tùng xuất hiện, hàng trăm năm qua, chỉ có thời gian khắc tạc nên nhiều hình thù cổ quái, nhiều cây mọc bên bờ vực, vươn mình như muốn lao vào khoảng không mù mịt. Cảnh tượng thiên nhiên hoang sơ quả thật quyến rũ lòng người.

Phần lớn những bức ảnh chụp trong chuyến đi bị mất khi lội qua suối Đổ Quyên: chiếc máy ảnh buộc không chặt trôi theo dòng nước, máy thì vẫn lấy lại được, nhưng những khung hình đẹp nhất đã không còn nữa. Những hình ảnh chung chung như thế này không đủ để lột tả vẻ đẹp của rừng nguyên sinh Bạch Mã… những ngọn tùng, những khu rừng trúc mù mịt trong màn sương khói phủ. Về sau xem những trường đoạn trong phim Ngọa hổ tàng long, tôi tự nhủ những hình ảnh trong phim cũng không khác Bạch Mã là mấy, ấy vậy mà chưa có ai bỏ công khai thác kỳ quan Bạch Mã lên phim ảnh.

Càng lên cao, hệ động thực vật càng thay đổi. Từ 1500m trở lên, chúng tôi bắt gặp một cảnh quan ôn đới, những rừng cây khoác một màu áo đỏ hay vàng sáng rực cả không gian. Những cây dương xỉ thân gỗ cao như cây cau, những con giun đất (dài hơn 1m) bò qua lại trên nền rừng ẩm mục. Nhiều thế hệ học trò của kỹ sư lâm nghiệp Nguyễn Hữu Đính (thuộc lứa kỹ sư lâm nghiệp đầu tiên của VN do Pháp đào tạo – một người bạn của gia đình tôi) đã dày công bảo vệ vun xới nơi này, biến nó thành một công viên quốc gia thật sự, nơi nhiều loài thảo mộc, động vật quý hiếm có được không gian sống, được giới thiệu cho chúng ta biết đến. Những năm gần đây nghe nói loài hổ Đông Dương tưởng chừng đã tuyệt chủng đã bắt đầu xuất hiện trở lại ở vùng rừng Bạch Mã.

Đến cuối ngày thứ 2, tình hình thời tiết và sức khỏe đã không cho phép phần lớn thành viên của nhóm có thể xem đây là một chuyến du ngoạn được nữa. Chỉ có tôi là vẫn vừa đi vừa xuýt xoa trước cảnh tượng dọc đường. Trời chuyển bão cấp 9, nhiệt độ tụt xuống 8°C, sương mù dày đặc đến nỗi khó có thể thấy gì trước mặt quá 2, 3m. Mãi cho đến khi “đám tàn quân” đâm sầm vào một khối đen kịt lù lù bất chợt hiện ra trong sương mù thì mới phát hiện ra đó là tòa biệt thự cũ gần đỉnh núi (ảnh bên dưới). Chúng tôi nghĩ lại đêm thứ hai ở đây, đến mờ sáng hôm sau chỉ có tôi và một người nữa leo nốt 300m còn lại để đứng được trên nóc nhà Bạch Mã.

Cái câu nói không có hạnh phúc cuối con đường, chính con đường là hạnh phúc chưa bao giờ trở nên đúng đắn như thế 😬. Đứng trên Wuthering Height mù mịt trong sương, nghe gió gào thét và nghĩ đến những cảnh tượng kỳ vĩ hoành tráng trên đường đã đi qua. Riêng trong đám bạn tôi, có lẽ một vài người tìm được “hạnh phúc cuối con đường” trong một căn phòng (bây giờ là khách sạn), chiếc chăn bông dày cả tấc và bữa cơm nóng cứu đói được các nhân viên gác rừng ở đây hào phóng “ban phát”. Những kỷ niệm về chuyến đi ấy mãi còn lưu lại trong chúng tôi, những trò chuyện tranh luận quanh suốt hành trình, những người “nhất định phải đến”, những kẻ “nhất định phải về”, những người “về cũng tốt nhưng đi tốt hơn”, lại có người “đi cũng tốt nhưng về tốt hơn” 😀.

raketa

ime, much obsession for time and timing lately! Just purchased this Soviet Raketa wrist watch from eBay (quite cheap the price)! First about Raketa: the brand name is famous among Soviet-built timepieces for its accuracy! Yes you know Russian clocks and watches, fews are pretty good, the rest are… phhhh! Raketa is said to achieve the accuracy of [-10, +30] secs per day.

That’s quite good if you know high-class Swiss timepieces have it at [-10, +10], only some best Swiss-made full-fill the requirements of a chronometer at [-4, +6] secs per day. Yet we’re mentioning mechanical watches, since modern quartz ones easily ensure the range [-2, +2]. Raketa’s movement (the internal clock mechanism) are widely acclaimed as well, though no Raketa pieces is known to be well-water-proof.

But the thing I love about this watch is neither its Soviet origin nor its accuracy reputation. Click to see an enlarged image, you would notice it’s a 24-hour system. One round of the minute hand equals 60 minutes, but one round of the hour hand equals 24 hours, so noon is at the 12nd position, and midnight at the opposite! Yet it takes some times to adjust your habit of time-watching. So why 24-hour? Is it so ambiguous with the AM/PM 12-hour system?

Well, for some who works underground (miners) or undersea (submariners), who works near the (north or south) poles (where days and nights are mostly the same), one works expanding over several timezones, they would prefer this watch. It’s surely suitable for programmers as well, since sometimes we could not differentiate days and nights! 😀

elektronika

Russian Elektronika clone

Nintendo Game & Watch original.

very sweet souvenir, a sudden reminiscence that happen to recall, my first computer game. Some day in the mid-80s, I’d got a gift, a Soviet built, hand-held device. I still remember the sound, the addictive feelings came with it! The game featured a wolf, a rabbit, likely to be seen in the Nu, pogodi! cartoon series (pronounced by us – little child as nupacachi). The game’s goal is trying to catch falling eggs, if an egg missed, it breaks and a chick is born. If 4 chicks are born, you lose! I played hundreds of games on this pad, then batteries ran out but can’t find anywhere replacement back then 😢.

Several years later, in the late-80s, these types of games became obsolete, then seen the Nintendo’s Famicom console widespread. Now I know it was a clone of Egg (a variant of Mickey Mouse), played on console manufactured by Nintendo. Although capable of building super computers, the Soviet Union was, at the time, in shortage of consumer goods, they choose to reverse engineer various Western products.

It’s very interesting to learn about separate branches of electronics and computer science in the USSR. They had distinctive type of computers, architectures, operating systems, programming languages… Some are even found nowadays quite bizarre like the trinary computers (as apposed to binary systems we’re extensively using). It should be noticed that the Russian had very successful specific-purpose models that offer superior power in narrow fields (such as ballistic computing). Areas in their separated genealogical branches of science and technology remain mysterious until today, some are covered in the book Computing in Russia, a highly-recommended reading!

Update, May, 13rd, 2009

It was kind of a very first and famous game, yet only ones at the time know about it, in the early and mid 80s. After searching a while, I found various simulators for playing the Game & Watch series, on Linux, on Windows and even on Mac. On the left is Flash version of the game, the Soviet variant named Nu, pogodi!, you can guess from Cyrillic letters above the screen. Enjoy!

văn cao – hải quân việt nam

Hải quân Việt Nam 
Không quân Việt Nam 


ếu nhạc sĩ nói chung là những con người mơ mộng thì Văn Cao là con người mơ mộng siêu việt. Ông toàn mơ về những thứ mà mãi 60, 70 năm sau chúng ta mới bắt đầu có 😬! Có 5 bài hát được viết trong những năm 1944, 1945, trước Cách mạng tháng 8. Ngoài Tiến quân ca đã được chọn là quốc ca thì Bắc sơn là bài ca viết cho các đội du kích, Chiến sĩ Việt Nam là ca khúc cho các chiến sĩ bộ binh, Hải quân Việt NamKhông quân Việt Nam là hai bài hát cho hải quân và không quân.

Quốc ca được viết khi tác giả Văn Cao chỉ mới nghe phong phanh về mặt trận Việt Minh, còn những bài ca cho hải, lục, không quân thì được viết khi bộ binh còn là những guerrilla bands, còn hải quân và không quân hoàn toàn chưa có một chiếc canô hay tàu lượn nào, chưa nói đến những máy bay hay tàu chiến hiện đại. Mãi gần 70 năm sau khi hai bài ca được viết, VN mới bắt đầu có cái có thể gọi là Hải quân.

Việc Nga bán cho VN 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, cộng với những tàu chiến đã và đang được đóng tại xưởng Ba Son (theo hợp đồng chuyển giao công nghệ từ Nga) đã chính thức hoá những tin tức đồn thổi lâu nay về việc thành lập Hạm đội biển Đông bao gồm khoảng 30 chiến hạm tương đối hiện đại, 6 tàu ngầm (Kilo-class submarine là lớp tàu tiên tiến) và vài chục máy bay đời mới. Thảo nào dạo gần đây, đài báo nói về biên giới, Trường Sa, Hoàng Sa có vẻ rõ ràng mạnh bạo hẳn lên, có đâu cứ “giấm giúi” như trước mãi!

tiens bien fou

Le Chant des Partisans (Anna Marly) 

Le Chant des Partisans (or in English: The guerrillas’ song) was a famous French song, widespread among members of France’s resistant movement against the Nazi, many of whom later fought at Điện Biên Phủ battle, including De Castries, Langlais, Bigeard… The guerrillas’ song was once used by French against the Nazi, now ironically used by Vietnamese fighting the French.


Éliane-2 hill nowadays, vestige of the blew-away top.

ay, 6th, 1954, 11 PM: Nguyễn Hữu An, commander of the 174th regiment, 316th division, ordered the last attack on the Éliane-2 height (Vietnam nomenclature: A1 hill). The hill ownership has been shifted from side to side many times during the past 55 days, on the Viet Minh side, a price of about 2000 deaths was paid for the area of 2000 m2 of the hilltop. Finally, a tunnel was digged into the hill foot, one ton of TNT explosive was placed in to blow up the whole fortification. The mine blast was starting signal for the ultimate assault into Điện Biên Phủ garrison, fate of the famous battle has just been decided.

May, 7th, 1954, 04 AM

Captain Pouget, from Éliane-2 called the commanding post on radio, asking for reinforcements, the situation was hopeless. Major Vadot, in an indifferent voice, told Pouget, like a professor trying to explain a hard problem to his student: Reinforcement? Be reasonable boy, we have no more such!. Then, he ordered Pouget to destroy the radio and defend to death. Suddenly, a voice intercepted on the wave, in French, the Viet Minh radio operator said: Hold the line, please! Gentleman, we invite you one piece of music: Le Chant des Partisants. Vadot listened to the whole song, then blew 3 carbine shots destroying the device.

Later the same day, May, 7th, 1945

Gia Lâm airport, Hà Nội, a certain French drunk soldier dragging his feet on the street, crying: Quoi? Điện Biên Phủ? C’est exactement: Tiens bien fou! (kind of French playing on words, literally translated into English as: What? Điện Biên Phủ? It’s exactly: should probably go mad there).

chhom nimol

Integratron 
Connect four 
Seeing hands 
Nights 

ot to know about music of our neighbor, Cambodia. Sure it used to be a country with brilliant art traditions, from dancing, music to architecture… Quite a strange combination: Cambodian singer Chhom Nimol and the Los Angeles world-music rock-band Dengue Fever.

Together, they brought back popular music of the 60s in Cambodia, which was Khmer music with Western influences, now retrofitted in a new psychedelic style. You’re listening to some songs in Venus On Earth album, selected as one of the best world music records of 2008 by iTunes Store. Beautiful!

the sorrow of war… film?

“Better to die than surrender, my brothers! Better to die!” – the battalion commander yelled insanely; waving his pistol, and in front of Kien, he blew his own brains out through his ear. (The Sorrow of War)

An un-put-down-able novel. It should win the Pulitzer prize, but it won’t. It’s too gripping for that. (The Guardian)

Dramatic… Will force American readers to acknowledge how little they still understand of the long war that left such a legacy of grief and guilt in their own country. (The Washington Post)

The Sorrow of War has won worldwide acclaim and become an international best-seller. (Amazon.com)

good news: 8th, May, 2008, The Sorrow of War novel will be turned into movie by an American director: Nicolas Simon. After 10 years of discussion and negotiation, Bảo Ninh, the novel’s author finally permitted making of the film based on his famous book. The producer, Dominic Scriven, a very passionate admirer and friend of the author, who now holds the book copyright and want to transfer it onto the silver screen. An even better news: 9th, Aug, 2008, author of The Sorrow of War novel stated that he wouldn’t have any further connection with the The Sorrow of War movie project.

The reason given is: film’s script is not aligned with the author’s ideas. In fact, many people is doubtful that an unnamed director would be capable of working on such a great novel, although the producer (Dominic Scriven) ‘s goodwill is widely recognized! The movie project is now paused, in searching for another director! That’s a very good thing in my opinion, in the fear that we would have another history distortion (or even worse)! A picture is worth a thousand words? That’s not always true, think twice (or read the book)! In this case, words are worth thousands of pictures (or a movie)!

The novel is, more or less, an semi – autobiography. Bảo Ninh himself (or the protagonist Kiên in the novel) was a soldier in the 24th battalion, a special formation commissioned to the B3 front (central highland) in 1969. Of the unit’s 500 man, he is among the only 10 survivors. The story is an nonlinear scatter of memories, mixed the past with the moments of post-war time: childhood, a high school’s love story, the battles, and importantly lives after war.

The Sorrow of War is without doubt timeless. Perhaps it is one of the world’s greatest war novels ever written. Imagine the film Apocalypse Now and increase its effect, say by a factor of a thousand – this is the power of Bảo Ninh’s writing. I remember shivers in my spine when first reading the book, some 15 years ago! Just surf around some online bookstores, to see what readers have said about the book:

  • If this book doesn’t make you cry, you have no soul.

  • It’s definitely not a book for everyone, and I nearly put it down during the first 50-60 pages. But, I soon became wrapped up in the story and the language.

  • Books usually lay with me on my bed and after their formal end we sleep together for a few days but after the last sentence I promptly put this right back on my shelf and am having trouble thinking about it again. I had horrible nightmares during the read.

  • This book is amazing. The story progresses thematically rather than chronologically, and leaves you piecing together historical non-fictional events… He succeeds in taking the reader on a difficult journey of emotional and spiritual crisis, right to the core of the human condition and captures a sorrowful despair like no other literature I’ve ever read.

  • Like pouring acid on your moral center…

  • Just an excellent novel. To everybody who considers The Things They Carried the penultimate work of fiction about the Vietnam War: pick up The Sorrow of War and be prepared to be blown away by the stories of a Vietnamese.

  • In fact, my view of just about everything I thought I knew about North Vietnam from the mid-60’s to the mid-70’s was altered by this book.

  • This book is unbelievably emotional. The style of writing is unique: it is not linear or chronological in any way. It is chaotic, a reflection on the subject of the book. The writing style, though chaotic, seems to be a perfected style. The book was written with total disregard to order; there is no doubt that all was deliberate.

the battle of iadrang

To make war all you need is intelligence.
But to win you need talent and material.

For whom the bell tolls – E. Hemingway

Col.Gen. Harold Moore and Col.Gen. Nguyễn Hữu An returned to the old battlefield, Oct, 1993, exchanging their diaries, maps, operational notes, memories and friendship.

The IaDrang Campaign was to the Vietnam War what the terrible Spanish Civil War of the 1930’s was to World War II – a dress rehearsal. The place where new tactics, techniques and weapons were tested, perfected and validated. In the IaDrang, both sides claimed victory and both sides drew lessons, some of them dangerously deceptive, which echoed and resonated throughout the decade of bloody fighting and bitter sacrifice that was to come.

While those who have never known war may fail to see the logic, this story also stands as tribute to the hundreds of young men of the 320th, 33rd and 66th regiments of the Peoples Army of Vietnam who died by our hand in that place. They, too, fought and died bravely. They were a worthy enemy.

Wild flowers now grow in those places of violent death. The IaDrang from PleiMe west is uninhabited except for a few montagnards who are/have been driven out to the east near PleiKu. The Ia Drang/Chu Pong area is now known as The forest of Screaming Souls and remains mysterious and beautiful.

Hoa dại giờ mọc đầy trên mảnh đất từng đầy rẫy chết chóc. Vùng IaDrang đến giờ vẫn không có ai cư trú, ngoại trừ một vài sắc dân miền núi đang được di dân về hướng đông gần PleiKu. IaDrang, ChưPrông nay được biết đến với cái tên Truông Gọi Hồn, vẫn nguyên vẹn huyền bí và đẹp đẽ như tự ngàn xưa.

ar, 1965, the first U.S troops arrived in Vietnam (Danang). 8 months later, their first major engagement with the VPA in a large battle (of regimental, divisional size) took place at the Valley of IaDrang, which is since then known as the Valley of Death. Feb, 1994, President Bill Clinton announced the normalization in relationship with Vietnam. In an action to bootstrap of the process, in 1993, a film was made featuring the old bloodshed battle of IaDrang. Thus, battle of IaDrang marks the begin and end of a long-time painful and bitter relationship between the two nations. Up to the present days, lots of people from both sides still can not get it right about what had really happened then and there. The story below tries to recall the truth.

But first, about the film: We were soldiers is based on We were soldiers once… and young, a book written by Harold Moore himself, as one of the direct commanders in the battle (on the American side). It’s a Randall Wallace‘s film, the famous director of Brave Heart, Pearl Harbor, and now We were soldiers, with Mel Gibson as Lt.Col. Hal Moore, and Đơn Dương as Lt.Col. Nguyễn Hữu An. To my disappointment, the film is no better than any other Hollywood’s films such as Black Hawk Down, solely made to demonstrate American heroism. Exactly as written in Harold Moore’s book: Hollywood got it wrong every damned time, whetting twisted political knives on the bones of our dead brothers.

The film is no exception, it takes many of the small facts of the book onto it, but only to falsely portray the historical events. In fact, the film is a distortion of facts that happened, of peoples involved in the battle, especially the figure of Lt.Col. Nguyễn Hữu An. In a sense, the film has undermined the author Hal Moore’s (and many other American veterans) sincerity and goodwill. Hal Moore is also a man of literature talent, the following line is written upon his revisiting the old battlefield, 1993, accompanied by general An, about the battle and his old enemy (column on the left).

Strictly speaking, Lt.Col. Harold Moore was not the corresponding counterpart of Lt.Col. Nguyễn Hữu An, he was one of the three direct commanders in the battle, a battalion under Thomas W. Brown. Nguyễn Hữu An was then the division commander of the 325th. But history has brought the two man into one battle and a rendezvous aftermath. Battle of IaDrang was actually two main battles in an operation which lasted for one month (between American 1st division and VPA’s 320th, 33rd and 66th regiments). The main confrontations were at the X-Ray and Albany landing zones, between the 1st, 2nd, and 3rd battalions of the 7th cavalry regiment of the U.S army with the 7th, 8th, 9th battalions of the 66th regiment (and one company of the 33th regiment) of the VPA. Hence, in formations’ numbers, the two sides have equal forces.

Contrary to many many sources, Lt.Col. Nguyễn Hữu An did not have any advantages in power comparison, even in number of man. All his infantry battalions are light-armed units, with just some mortars. On the adversary side are air assault and air mobility cavalry units, with superior fire power support. From the air, an average number of 300 sorties per day was made, with all available air units in south Vietnam, and on land, field artillery came in heavy use. So the ratio here is at least 3:1 with the weaker is the Vietnamese side. Some sources give intentionally wrong information like: the landing troop of 400 man was surrounded by 4,000 soldiers, in fact, 4,000 was number in the whole area (not each individual landing zone), in the same way, we can say: two VPA regiments confronted with forces of the 1st division (a typical American division has at least 20,000 personnel).

The battle witnessed extreme uses of fire power: for the first time in history, strategic bombers B52 are used for tactical roles, air mobility by helicopters reached the highest level ever since the start of WWII. The VPA learned that they could neutralize the effectiveness of that fire power by quickly engaging American forces at close range, thus turned the battle into a close-quarter struggles with mainly knife, bayonet and other small arms. A series of well-planed ambushes turned the American situation to desperate. Finally, they know that they can not deny or hide an obvious defeat, then dropped napalm bombs to clear all vestiges, sacrificing all, including man of their own. This is known as one of the most savage battle and can be considered as microcosm of the whole war.

The American casualties is about 700, the Vietnamese is about 1100, a victory to Lt.Col. Nguyễn Hữu An in consideration to forces participated in the confrontation. The battle set up, for the first time, an example in which a modern Calvary division can be defeated (Calvary division was then a new concept of air assault and air mobility units, formed firstly in the Vietnam war). In fact, the battle is blueprint of tactics successfully anticipated by Lt.Col. Nguyễn Hữu An, many interesting details can be found in his memoir (all details, facts, formations, numbers, estimations… in this post can be confirmed by both 2 memoirs from the 2 sides). He is named: the General of Battles for his exceptional talent in tactical problems. The man is among only a few number of generals in Vietnam who truly gained respect from the people, not only for his success in military career but also for his righteous attitude toward history and moral principles he’s practiced in life.

⓵⏎ Hemingway’s words were true in the Spanish civil war, but it’s not true anymore in the Vietnam war. Even with talent and material, you still can not win it.

⓶⏎ The phrase: The forest of Screaming Souls may have been first introduced in the famous Vietnamese novel The sorrow of war by Bảo Ninh. The author (also the main character Kiên in the novel) was also a soldier in this B3 (Central Highland) front.

phạm mạnh cương

Thu ca - Thu Phương 
Thương hoài ngàn năm - Khánh Ly 

Phạm Mạnh Cương và vợ, Như Hảo

inh hoạt âm nhạc miền Nam trước 1975 có 3 ông họ Phạm nổi tiếng, ngoài Phạm Duy và Phạm Đình Chương ra còn có thêm Phạm Mạnh Cương (tuy vậy không bà con gì với hai ông Phạm trước). Sinh ra và lớn lên tại Huế, học Cao đẳng Sư phạm tại Hà Nội, và làm giáo viên môn Triết tại miền Nam (trường Petrus Ký, Sài gòn).

Con người suốt đời theo đuổi nghiệp giáo viên mô phạm này có những hoạt động trái nghề hết sức thành công: là một nhạc sĩ, một nhà sản xuất băng đĩa hát (nhiều băng nhạc trước 1975 là của hãng đĩa Tú Quỳnh, hãng do ông thành lập), và là người tổ chức những chương trình ca nhạc trên vô tuyến truyền hình đầu tiên tại miền Nam (chương trình mang tên Phạm Mạnh Cương, kéo dài từ 1966 đến 1975).

Ông có thể được xem như một người tiên phong trong việc thương mại hoá hoạt động âm nhạc. Xin trích giới thiệu hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Phạm Mạnh Cương: Thu ca, bản tango thoáng một chút âm giai Nhật Bản, và Thương hoài ngàn năm, bản này chắc nhiều người biết vì mấy năm gần đây liên tục bị Mr. Đàm đem ra phá hôi! 😬

Một vài bìa nhạc Phạm Mạnh Cương:

hiểu quá hương giang

text=十载抡交求古剑&font=1&size=17&color=FF0000
text=一生低首拜梅花&font=1&size=17&color=FF0000

 

text=晓过香江-高伯适&font=1&size=17&color=0000FF

text=万嶂如奔绕绿田&font=2&size=17&color=222222
text=长江如剑立青天&font=2&size=17&color=222222
text=数行渔艇连声棹&font=2&size=17&color=222222
text=两个沙禽屈足眠&font=2&size=17&color=222222
text=尘路悠悠双倦眼&font=2&size=17&color=222222
text=远情浩浩一归鞭&font=2&size=17&color=222222
text=桥头车马非吾事&font=2&size=17&color=222222
text=颇爱南风角枕便&font=2&size=17&color=222222

âu không trở lại chủ đề thơ chữ Hán của Cao Chu Thần. Con người ông tính khí ngang tàng, tư tưởng xã hội chính trị không có gì mới lạ, nhưng văn tài thì đúng là lạ lùng. Một trường hợp nổi bật hiếm hoi trong cổ văn Việt Nam. Đôi câu thơ giáo đầu ở trên: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Mười năm giao du tìm bạn tri âm, khó như tìm cổ kiếm, Cả một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) vẫn thường được truyền tụng như chính cốt cách con người Mẫn Hiên – Cúc Đường vậy!

Hiểu quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên.
Kiều đầu xa mã phi ngô sự,
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Buổi sáng qua sông Hương

Muôn núi quanh co diễu cánh đồng,
Trời xanh gươm dựng một dòng sông.
Giặm đò văng vẳng vài chài cá,
Co cẳng lim dim mấy chú mòng.
Dặm khánh mịt mờ đôi mắt mỏi,
Tình quê man mác chiếc roi vung.
Đầu cầu xe ngựa ta nào tưởng!
Tưởng trận nam phong quạt giấc nồng.

Xin đọc thêm về thơ Cao Bá Quát trong những post trước của tôi: Trà giang thu nguyệt ca, Sa hành đoản ca, Trệ vũ chung dạ cảm tác.