trái tim còn trinh

ôm nay tình cờ được nghe lại bài hát này, chợt nhận ra thoang thoáng mùi ngũ cung Nhật Bản trong nhạc điệu (nếu nó đậm đặc kiểu như Mùa hoa anh đào thì đã là hiển nhiên rồi). Một bài hát mà tôi đã “bị” nghe ra rả suốt ngày vào quãng những năm 12 ~ 15 tuổi (thời cuối của các giọng ca Nhã Phương, Bảo Yến…). Về nhà google thì hóa ra chính là bác Phạm Duy nhà ta đặt lời Việt cho ca khúc Nhật Bản này, bác mà đặt lời Việt tràn lan thế này thì ai còn biết bác là nhạc sĩ sáng tác vĩ đại nhất Việt Nam nữa bác ơi!?

Trái tim còn trinh - Thái Hiền 
Trái tim còn trinh - Nhã Phương 

Tài liệu của nhạc sĩ Phạm Duy cũng xác nhận, hai ca khúc “thành công” nhất (tính theo doanh số) suốt những năm 90s ở hải ngoại chính là bài này và Mười năm tình cũ (Trần Quảng Nam) 😬! Tiếc là chưa tìm được bản nhạc Nhật gốc, cái mùi ngũ cung bản địa dĩ nhiên là cứ nhạt dần qua mỗi lần chuyển ngữ, qua những giọng ca thể hiện khác nhau!

ếch muốn bằng bò


ần đây đọc một số bài viết của một nhạc sĩ có tiếng, cảm thấy khá đồng ý! Vâng, biết là thiên hạ ghét người này cũng nhiều, chưa kể một số chuyện lình xình khác. Nhưng hãy nhìn những gì người ta làm và nói đúng thì hẵng nghe cái đã! Là chuyện biết rồi, khổ lắm, nói mãi, nhưng thỉnh thoảng một tiếng kêu cảnh tỉnh không hẳn đã là thừa! Tiếp đó mời các bạn nghe một ca khúc của nhạc sĩ Y Vân, La grenouille qui veut se faire aussi grosse que le boeuf (chính là phỏng theo truyện ngụ ngôn của La Fontaine) – Ếch muốn bằng bò – ban Tuổi Xanh trình bày!

Ếch muốn bằng bò 
Sáng tác: Y Vân, trình bày: ban Tuổi Xanh

Nền âm nhạc đại chúng mông muội của chúng ta sẽ mãi mãi mông muội. Cái sự mông muội, nguyên thủy, tắc trách, học đòi, trẻ con của nó lớn dần lên theo năm tháng… Vẫn đầy người viết nhạc đấy thôi, và con số thống kê nhạc sĩ hàng năm vẫn cứ phồng lên như bánh đa nướng – mà vì nếu cứ tiếp tục sáng tác trong tâm trạng ngoái đầu ngoảnh cổ nhìn quá khứ (có thể huy hoàng) thì khoảng cách giữa chúng ta với thế giới cứ thế mà xa dần theo mỗi đợt ngoái đầu, cứ thế mà xa dần theo những đợt nghiêng mình sùng bái quá khứ (có thể hiển vinh), vô phương cứu vãn…

Ối, anh nói thế thì em phải nghe cái gì bây giờ?

Nhạc sĩ ca khúc chẳng cần bất cứ yêu cầu nghề nghiệp nào dù đơn giản, anh ta chỉ cần nghêu ngao hát: “tôi ca không hay tôi đàn nghe cũng dở”, rồi nhờ người có học ký xướng âm ghi lại… Bên ngành khoa học kỹ thuật, có cảm giác sự học hành diễn ra một cách lành mạnh hơn. Để thành một anh chuyên viên lập trình máy tính, anh cũng phải học cho đủ nào hệ điều hành, nào ngôn ngữ C, nào lô gích học… không chừa cả việc tập đánh máy mười ngón… Làm âm nhạc giống hệt chăng, với cách sống của người nguyên thủy, đói thì săn thú về ăn, khát thì ra suối uống, hứng thì ngân nga, buồn thì đi nhậu?

Úi anh ơi, em làm IT lâu năm rồi nên biết thực trạng đa số nó cũng giống như thế thôi, không khác gì nhiều lắm đâu!

Nhiều khi tôi thấy dường như chúng ta thừa bản sắc mới phải. Nếu không tự tin vào bản sắc… làm sao đại đa số người viết ca khúc duy ngã độc tôn đến mức chẳng thèm soạn chuyển hành hợp âm cho bài mình viết, làm sao chúng ta có được những “tác phẩm” không biết đệm bằng tiết điệu nào cho phải, reggae không được mà rumba càng chối? Nếu không tự tin vào bản sắc mênh mông ăn mãi không hết, làm sao nhiều người trở thành chuyên gia nhạc trẻ khi không thèm biết Ravi Shankar là đàn ông hay phụ nữ, cũng không cần phân biệt soul với R&B làm gì cho mất thời gian…

Nhắc đến Ravi Shankar càng thêm buồn, mỗi lần nghe Shankar xong thì em lại cúi gằm mặt khi nghe nhạc Việt. Thôi thì anh cứ để cho em “tự sướng” mà ôm ấp cái Tân nhạc của em vậy!

Ta cũng có thể chưng cất từ tà áo dài ra nào hồn phương Đông với hơi dân tộc, nào tiết hạnh nghìn đời với e ấp nghìn năm, nào truyền thống song hành với hiện đại, trong khi vải áo đang ôm là hàng Nhật, khuy bấm Pháp, cổ cồn Thái Lan và chỉ may Trung Quốc. Thế mà chả cần chắt cần chưng, cũng rành rành cái tính lai căn của nhạc Việt… Đòi hỏi đại loại “tôi thèm thứ gì thực sự Việt cơ” nếu không chính đáng thôi thì cũng có thể tha thứ được như kiểu tha cho đứa trẻ hờn dỗi đòi ăn của độc. Chỉ sợ đòi hỏi ấy dần dà sẽ biến thành một thứ tâm bệnh, một thứ hoang tưởng, cứ dở thực đơn Âu mà tìm mắm cà.

Chỉ có kẻ không tự biết mình và không hiểu người khác thì mới manh động hết từ khái niệm này sang khái niệm khác. Nghĩ cho cùng thì người ta có được thứ người ta muốn, chuyện đó đâu có gì lạ.

bóng chiều xưa


a khúc rất phổ biến của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước do chính vợ ông hát. Hãy nghe giọng của nữ danh ca một thời, một trong những giọng ca nữ đầu tiên của Tân nhạc, Minh Trang, mẹ ca sĩ Quỳnh Giao hát những ca từ do chính bà đặt. Nếu không nghe phần thoại giáo đầu thì có ai nghĩ đây là giọng một “cụ bà” 60 tuổi (tại thời điểm thu âm)? Giờ thì không còn thích cái “tango” này như xưa nữa, nhưng vẫn thích cái lời ca với “yêu vận” trong những câu lẻ nhịp…

Bóng chiều xưa – Minh Trang 

Một chiều ái ân say hồn ta bao lần. Một trời đắm duyên thơ cho đời bao phút ơ thờ. Ngạt ngào sắc hương, tay cầm tay luyến thương. Đôi mắt em nhìn càng say đắm mơ màng nào thấy đâu sầu vương. Một chiều bên nhau, một chiều vui sống quên phút tang bồng. Anh ơi nhớ chăng xa anh em hát khúc ca nhớ mong.

Một chiều gió mưa, em về thăm chốn xưa. Non nước u buồn nào đâu bóng cố nhân lòng xót xa tình xưa. Lâng lâng chiều mơ, một chiều bâng khuâng đâu nguồn thơ. Mây vương sầu lan, gió ơi đưa hồn về làng cũ, nhắn thầm lời nguyện ước trong chiều xưa. Thương nhau làm chi, âm thầm lệ vương khi biệt ly. Xa xôi còn chi, vô tình em nhớ mối duyên hờ. Tình như mây khói, bóng ai xa mờ.

áng mây chiều


iếp tục cái mood serenata… mỗi khi nghe lại nhạc cũ mà có cái cảm giác “exotic” là tôi lại thấy bực mình, một cái bực mình thú vị, lại tìm thấy cái gì đó mới trong những thứ ngỡ đã biết rồi. Ca khúc Áng mây chiều, giọng ca Quỳnh Giao, tác giả không ai khác hơn chính là step – father của cô, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Áng mây chiều – Quỳnh Giao 

NS Dương Thiệu Tước khi viết nhạc thất cung thì nhạc ông “rất Tây”, khi viết nhạc ngũ cung thì lại “rất Ta”, nên không có gì lạ khi nghe lại nhạc ông, đôi khi lại cảm thấy “exotic”, vì ông vừa “Tây hơn” vừa “Ta hơn” chúng ta!

Về ca sĩ Quỳnh Giao: cũng từ cái lò ban nhạc Tiếng Tơ Đồng với Mai Hương và Kim Tước, cùng dưới sự dẫn dắt của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cũng một trường phái ca hát, một chất giọng bắt đầu từ Thái Thanh. Sau này ở hải ngoại, Mai Hương, Kim Tước và Quỳnh Giao tái lập Tiếng Tơ Đồng như là một biểu tượng.

Exotic tiếng Anh có nghĩa là “đẹp một cách kỳ lạ”! 😀

con đường vui

hiều người thường bảo Tân nhạc sao toàn những bài hát ảo não, ủy mị, ngậm ngùi, trông ngóng, hoài hương, xa quê, xa vắng… tôi cho rằng không phải. Tân nhạc đâu phải chỉ có vậy, còn có rất nhiều ca khúc thiếu nhi, ca khúc học sinh, thanh niên ca, hành khúc, tình ca, ca khúc hướng đạo, âm nhạc Phật giáo, Công giáo, nhạc trẻ, nhạc phản chiến… Một thực tế, thực thể sống động, phong phú, nhiều màu sắc đến như vậy không chịu khó tìm hiểu, không lắng nghe mà cứ phán bừa thì e rằng hồ đồ.

Con đường vui – Hợp ca Thăng Long 

Khi mà đối phương đang ở trên những Con đường không vui – La rue sans joie – Street without joy thì chúng ta có rất nhiều những bài như ca khúc Con đường vui này! 😀 Tôi không biết lúc đó bài hát phổ biến như thế nào, nhưng ai có dịp làm quen với các tổ chức Hướng đạo, Thanh niên Phật tử thì sẽ biết nhiều những ca khúc như thế này vẫn còn lưu truyền. Như thế hệ trước, có thể không biết cái tên Con đường vui, nhưng họ vẫn nhớ những lời ca đầy trẻ trung, phóng túng: giang hồ không bờ không bến, đẹp như kiếp Bohémien…

hướng về hà nội

rong một post trước đã nhắc đến giọng hát Kim Tước, thực sự thì ít người biết đến và yêu thích giọng ca điêu luyện này. Hướng về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương là Kim Tước hát đầu tiên (1954), do nhạc sĩ Hoàng Trọng giới thiệu (Hoàng Dương, Hoàng Trọng là bạn thân, hai người có nhiều liên hệ dù sau này ranh giới chính trị ngăn cách, Hoàng Dương cũng là người viết lời cho ca khúc Hoàng Trọng: Nhạc sầu tương tư mà tôi rất yêu thích).

Hướng về Hà Nội - Kim Tước 
Giấc mơ hồi hương - Kim Tước 

Giờ thì ai cũng biết bài này do có quá nhiều chương trình lăng – xê Hà Nội, nhưng đương thời, miền Bắc thì cấm bài hát lấy lí do tiểu tư sản, ủy mị, miền Nam thì cấm vì vừa ngay sau đợt di cư 1954 lại rầm rộ dấy lên phong trào, tâm tưởng Hướng về Hà Nội, nói chung là cấm, đơn giản là ở đâu cũng bị cấm, chính trị là như thế! 😬 Là người hát đầu tiên, Kim Tước đến tận bây giờ vẫn là người hát bài này hay nhất! Cũng trong trào lưu Hướng về Hà Nội này, Kim Tước còn hát Giấc mơ hồi hương, nhạc sĩ Vũ Thành: ta nhớ thấy “em” một chiều chớm thu, dáng yêu kiều của ngày đã qua…

dạ khúc – mỹ ca

ở dĩ blog này post toàn nhạc vì… chẳng có mấy khi nghe nhạc. Cái “nghe nhạc” của tôi không phải là ngồi xuống mở loa lên nghe (nhạc ở trong đầu mình chứ không tại mấy cái đĩa). Tại một không gian, thời điểm, tại một cái mood nào đó, tưởng đến một giai điệu phù hợp tâm trạng (ví như các raga Ấn độ có loại chỉ nghe buổi sáng hay trưa, tối, hay một mùa nào đó trong năm).

Dạ khúc - Thái Thanh 
Dạ khúc - Trần Văn Trạch 

Vì bản tính “mau nhớ mau quên” nên cần một cái index để ghi chú thông tin về những bản nhạc đã nghe được ở đâu đó và đôi khi nhiều năm chẳng bao giờ mở loa lên nghe lại! Gần đây hay có cái mood “dạ khúc” – serenade – serenity (tạm đặt tên như thế).

Tân nhạc VN có khá nhiều dạ khúc nhưng hay nhất theo tôi là bài này của Nguyễn Mỹ Ca, trình bày ở đây qua hai giọng ca, một giọng “tuyệt kỹ” Thái Thanh và một giọng “thô mộc” rặt Nam bộ Trần Văn Trạch. Một giai điệu tuyệt đẹp: đàn ai lên cung oán, tang tình, gieo hờn, đàn ai ngân theo gió, xế xang, gieo buồn… Rất ít được biết về cuộc đời tác giả, ông hy sinh năm 46, sử chính thức vẫn nhắc đến xưởng quân khí mang tên Mỹ Ca của “nhạc sĩ yêu nước” (sic – 😬) Nguyễn Mỹ Ca.

mùa thi

ột bài hát rất ít người còn biết, post ở đây làm tư liệu. Ngay cả thế hệ ba mẹ tôi cũng không biết bài này, phổ biến vào những năm 51, 52, khi đó họ mới bắt đầu tiểu học. Đây là bài hát yêu thích của tôi lúc còn ở cấp 1, 2, rất đặc biệt với cái giai điệu và lời ca tinh nghịch học sinh của nó! Nếu có điều gì để nói về âm nhạc trước 75 thì không phải là một nhận định hay, dở… mà là sự phong phú phản ánh tính “đa dạng sinh học” của cái xứ Indochinois này!

Mùa thi – Đỗ Kim Bảng 
Nỗi buồn hoa phượng – Thanh Sơn 

May we see the differences between us and all that we share in common… để “ủng hộ” tính “đa dạng” đó, sau Mùa thi, mời các bạn tiếp tục với Nỗi buồn hoa phượng, ca khúc mùa tan trường! 😬 Và không có gì ngạc nhiên khi Mùa thi là ca khúc nổi tiếng nhất của một người mang cái tên Đỗ Kim Bảng! 😬

xa quê

…Ôi cánh chim chơi vơi,
triền miên áng mây trôi,
hoàng hôn rơi rơi.
Lặng nhìn vầng dương phai,
nhớ nhung vườn trăng soi,
nay đã xa vời…

ghe bài này một lần duy nhất cách đây đã mấy chục năm, khi còn rất nhỏ, thoáng qua không biết tác giả là ai, nhưng đã để ý thấy sự khác biệt nên gần đây cố lần lại lai lịch bài hát. Một ca khúc đơn giản, nhưng là loại đơn giản chỉ gặp trong không gian, thời gian của các bậc đàn anh: Nguyễn Hữu Ba, Nguyễn Văn Thương, Thông Đạt, Thẩm Oánh, Lê Trọng Nguyễn… và phần nào của thế hệ kế tiếp: Phạm Mạnh Cương, Hoàng Nguyên

Xa quê - Mai Hương 
Xa quê - Lệ Thu 

Rất nhiều ca khúc tôi chỉ biết hát hoặc ghi nhớ chứ không hề biết tác giả, thậm chí là tiêu đề, vì trước đây làm gì có internet đâu để mà tra cứu, giờ thì cập nhật thông tin đã tương đối dễ dàng hơn… Ca từ bài này có phần “sáo” nếu không đặt ca khúc đúng vào thời gian của nó, thời của Đêm đông, Ai về sông Tương… nhạc điệu thể hiện hoàn hảo cái mood “serenata” – khúc nhạc ban chiều!

(Khá nhiều những thu âm ở hải ngoại là hòa âm computer, hay là lạm dụng kỹ thuật máy tính để mix lại những thu âm có sẵn, đơn giản vì những home – brew recording như thế tiện lợi và ít tốn kém hơn. Tuy vẫn thể hiện được dáng nhạc với tai nghe rành rõi nhưng những âm thanh synthetized làm bản nhạc trở nên vô hồn, mất đi sức truyền cảm 😢)

bare feet, iron will

ne more item in my to – be – read list: Bare Feet, Iron Will, by James Zumwalt, a retired Marine lieutenant colonel, son of the Vietnam war’s time US Navy’s Admiral. The book has recently been translated and published in Vietnamese. Though I haven’t got an English copy in hand, my interests rose after reading this interview with the author. Just like Archimedes Patti’s book Why Vietnam?, I would expect stories from intermediate – level officers to contains a lot of facts, events, numbers… that gives details into the things that happened, and offers closer, truer look into the figures involved, unlike those of high – level cadre supérieur (a.k.a politicians).

The author recently gave an interview with Vietnamese presses, in which he confirmed that his book was inspired by The sorrow of war, Bảo Ninh’s novel. He loves the novel and dedicates part of his book to write about this Vietnamese fiction and its author. I knew some 20 years ago that The sorrow of war would be a very profound impact (read more about it in my another post here). It’s just ridiculous that the VN government once forbade (and still limits) the novel, permits it to be appeared on news on occasions only to serve some political purposes, this time is a step toward tighter relation with the US. Below is some notable remarks from the author, James Zumwalt interviews:

Was the loss of a loved one any less significant just because it occurred on the other side of the battlefield? …It just opened my eyes to the fact that we have to recognise that our suffering is mirrored on other side.

When I made my second trip, one of the first places I went to was the Hanoi war museum. And there they had a section devoted to war criminals – one of whom was my father for his use of Agent Orange. (Asked: How did he react to being a war criminal?) He kind of smiled and said: Well it’s a good thing they didn’t arrest me when I was there.

In one case, a doctor told his wife he would probably be gone for six months to a year. He was gone for eight years, and only got back to visit his wife once… Many of those I interviewed had difficulty pinpointing particular years, but they could tell me if it was in dry or monsoon season. That was the way they looked at it. The year didn’t matter. That shows the mindset they operated under.

There were some 1,400 mothers who lost three or more sons in the war. I think we’d be hard pressed in this country to find more than a handful of mothers who lost more than one son in Vietnam. They considered it a sacrifice they had to make.

In the interviews I did with hundreds of NVA / VC I asked them what their motivation was. It was not communism but rather it was nationalism and the desire to reunify the country… I believe it is part of the Vietnamese people’s DNA. To them, there was never any alternative, they just had to prevail.

Look at the Vietnamese who defeated the Japanese in 1945, the French in 1954, the Americans in 1975, and again the Chinese in 1979, I don’t think we realised we were probably fighting against Vietnam’s own Greatest Generation. (yes we sacrificed our best seeds in those wars, you know what the sh… is left as of today! 😢)

thuyền viễn xứ – 1

ột bài khá “đơn giản” của nhạc sĩ Phạm Duy mà đã nhiều năm không tìm được đúng tâm trạng để hát. Càng “đơn giản” càng không thể bừa bãi được, phải kén chọn không gian, thời gian, tâm trạng chút. Và cũng tự biết rằng phải nhiều nhiều năm nữa mới có được tâm trạng để hát bài này, dĩ nhiên sẽ trong một khung cảnh hoàn toàn khác… Đây có lẽ là một bản thu âm live giọng ca Thái Thanh, nên nghe thật và gần gũi, một loại gần gũi… “trên trời”. Nguyên phổ thơ Huyền Chi:

Thuyền viễn xứ - Thái Thanh 
Thuyền viễn xứ - Quỳnh Giao 

Thuyền viễn xứ – Huyền Chi

Lên khơi sương khói một chiều,
Thùy dương rũ bóng tiêu điều ven sông.
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng,
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang.
Có thuyền viễn xứ Đà giang,
Một lần giạt bến qua ngàn lau thưa.
Hò ơi tiếng hát ngàn xưa,
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người.
Đường về cố lý xa xôi,
Nhịp sầu lỡ bước tiếng đời hoang mang.
Sau mùa mưa gió phũ phàng,
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa.
Lệ nhòa như nước sông Đà,
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con.
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn,
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi.
Hai bờ sông cách biệt rồi,
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh.
Ngàn câu hát buổi quân hành,
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa.
Biết bao thương nhớ cho vừa,
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương.
Chiều nay trên bến muôn phương,
Có thuyền viễn xứ lên đường lại đi.

thái thanh

Một ngày đó tóc mây đã phai mầu,
Có chờ ta oán trách đâu, có vì duyên kiếp không lâu.
Đời sẽ thấy chúng ta sống không cầu!
Cho tình cứ úa phai mau, cho người cứ mãi phụ nhau.

ost ở đây làm tư liệu, những ca khúc cổ điển, bán cổ điển nhạc ngoại quốc lời Việt do giọng ca Thái Thanh trình bày. Đa số những ca từ này đều được đặt bởi Phạm Duy hay là Phạm Đình Chương, những người tiên phong trong việc “phổ cập” nhạc cổ điển, bán cổ điển ngoại quốc vào nền ca khúc Việt.

Ảnh trên: Thái Thanh và 2 người anh, Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm, half – brother), những giọng hát vàng của ban hợp ca Thăng Long một thời. Một số bản thu âm chất lượng khá tệ (một ít được thu vào những năm 50 hay sớm hơn), nhưng không vì thế mà che lấp đi được “tiếng hát trên trời” Thái Thanh! Về ca từ, trong những lời ca khá “cổ điển” và “sáo” này, tôi luôn tìm thấy điều gì đó về cách sử dụng tiếng Việt!

Khúc nhạc muôn đời - Domino, Louis Ferrari 
Lòng người ly hương - La complainte des infidèles, Georges Van Parys 
Dạ khúc - Serenade, F. Schubert 
Dòng sông xanh – Le beau Danube bleu, J. Strauss 
Sóng nước biếc – Les flots du Danube, J. Ivanovici 
Những chiếc lá úa – Les feuilles mortes, Joseph Kosma 
Ave Maria – F. Schubert 
Khúc ca muôn thủa – Granada 
Chiều tà – Serenata, E. Toselli 
Mối tình xa xưa – Célèbre valse, J. Brahms 
Ánh mắt liêu trai – Reverie, R. Schumann 
Tango xanh – Le tango bleu, Tino Rossi 

Tiện thể post luôn ở đây một số bìa minh hoạ nhạc ngoại quốc do NS Phạm Duy đặt lời Việt:

kim tước

rong số những giọng ca nữ trước 75 mà tôi thường nghe: Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương… còn có một người ít nổi tiếng hơn, nhưng không kém phần điêu luyện, đó là Kim Tước. Trước 75, Kim Tước thường chỉ hát bè cho các ca sĩ lớn khác (Anh Ngọc, Thái Thanh, Khánh Ly…), mãi sau này, cô mới thu âm một số album khi đã định cư ở Mỹ. Dĩ nhiên lúc đó, với thời gian, giọng ca đã khác, dù kỹ thuật studio thật sự tốt hơn trước rất nhiều.

Không nhìn nhau lần cuối 
Giọt nắng bên thềm 

Thu chiến trường 

Hai bài hát trên thuộc album Ngàn năm mây bay thu âm năm 2003, điều tôi lấy làm lạ là hòa âm của album này rất VN (loại VN sau 75), tôi suy đoán rằng người làm hòa âm này đã sống nhiều năm dưới chế độ VN XHCN. Riêng bài Thu chiến trường đã giới thiệu sơ qua trong một bài trước về Phạm Duy, là giọng Kim Tước khi còn trẻ.

văn phụng

Các anh về tưng bừng trước ngõ, lớp lớp đàn em hớn hở theo sau.
Mẹ già bịn rịn áo nâu, vui đàn con ở rừng sâu mới về…

ói về nhạc cảm, trước khi hiểu được phần nào âm hưởng dân ca Việt Nam trong nhạc Phạm Duy, Lê Thương, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh… một điều mà tôi phải qua 25, 30 tuổi mới cảm được phần nào, thì, nó giống như một đường vòng, con đường cảm nhận âm nhạc dễ dàng nhất là qua nét nhạc… Tây phương. Có một nhóm các nhạc sĩ trước 75 chuyên sáng tác thuần theo phong cách Tây phương, ít hoặc không sử dụng các nét dân ca VN: Văn Phụng, Cung Tiến, Vũ Thành

Tiếng dương cầm - TT 
Bóng người đi - TT 
Các anh đi - TT 

Đa số các vị này đều là Công giáo, con đường âm nhạc của họ bắt đầu từ… nhạc nhà thờ, họ học nhạc lý vỡ lòng với các linh mục, và đa số đồng thời là những nhạc sĩ hòa âm tài năng. Nhạc của họ nghe rất dể nhận ra và dể nhập tâm… dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là nhạc của họ thuộc loại “easy – listening”. Nói cho đúng thì tôi đã thích những tác phẩm của ông: Tiếng dương cầm, Bóng người đi, Tôi đi giữa hoàng hôn, Ô mê ly… những circle of fifths dạng như: trao ai duyên ban đầu, dù muôn năm trọn kiếp không phai mầu, thương cho ai dãi dầu…, nhiều năm trước khi hiểu rằng Các anh đi mới là ca khúc mình thực sự yêu thích!

Một vài bìa nhạc Văn Phụng:

sến

iếp tục chương trình nhạc “sến” ở post trước, những loại nhạc mà khi nhỏ mỗi lần nghe đến tôi đều nở một nụ cười “mím chi”. Nhưng cũng ngay từ lúc ấy, tôi cũng biết rằng “sến” cũng có năm bảy đường, không phải “sến” nào cũng giống nhau, cùng một tác giả viết toàn nhạc “sến” cũng có nhiều bài “nghe được”. Nên những nhận định hoàn toàn mang tính cá nhân, không phân tích kỹ nhiều khi gây ra nhiều nhận định bao đồng, hàm hồ… mà nói rõ ràng thì mang tiếng khắt khe, thiên lệch…

Sang ngang – Thái Thanh 
Cho tôi được một lần – Lệ Thu 

Có hai bài mà người ta thường hay gọi là “sến” mà tôi rất thích. Một bài sầu não đến rợn người mà không ai có thể nghĩ là được viết ra bởi một cậu bé 15 tuổi, nhạc sĩ Đỗ Lễ: Nếu biết rằng tình là dây oan, nếu biết rằng hợp rồi sẽ tan… thà dương gian đừng có chúng mình.

Một bài lại tràn đầy vui tươi yêu đời (nhạc sĩ Bảo Thu) mà lũ trẻ con chúng tôi bấy giờ thường rêu rao hát: Cho tôi được một lần, nhìn hoa giăng đầu ngõ. Một lần cài hoa đỏ lên tim. Một lần dìu em qua nhà mới… Riêng bài sau có không biết bao nhiều là lời nhạc chế tinh nghịch!

hoàng thi thơ

ếu ai đó để cho trí nhớ của mình quay lại những khoảnh khắc mong manh xa xưa sẽ không dấu được trên môi những nụ cười nhẹ như thời gian thoáng qua… những đứa bé chưa lớn ngày xưa nghêu ngao những lời hát: Thi ơi Thi, Thi biết không Thi, khi con tim yêu đương là sống với đau thương… hay Anh xin đưa em về, về quê hương yêu dấu, Anh xin đưa em về, về quê hương tuyệt trần… Những đứa bé đó đang hát nhạc của Hoàng Thi Thơ và dám cá là về sau, đa số sẽ bắt gặp lại chính mình với cảm giác ngượng ngùng khi nghe lại những bản nhạc ấy: phải chăng đó chính là chúng ta một thời như thế?

Phút đầu tiên – Thái Thanh 
Đường xưa lối cũ – Thái Thanh 

Nhạc của Hoàng Thi Thơ rất quen thuộc qua nhiều thế hệ, những bản Gạo trắng trăng thanh, Trăng rụng xuống cầu, Tà áo cưới rất phổ biến ở thế hệ cha mẹ tôi. Riêng cá nhân tôi thì chỉ thích một phần các tác phẩm của Hoàng Thi Thơ, và biết rằng nhạc của ông, cũng như của nhiều tác giả khác, thuộc loại phải cần một không gian, một giọng ca phù hợp, một cảm nhận thực sự để không bao giờ phải thấy ngỡ ngàng, xa lạ với chính mình. Trong số những tác phẩm của Hoàng Thi Thơ, tôi đặc biệt thích Phút đầu tiên, một bản nhạc có phần đi trước thời gian của nó…

Một vài bìa nhạc Hoàng Thi Thơ:

the world is not flat

The book title reminds me of the same stupid question: how to put an elephant into a refrigerator. I still insist that you can not put a normal elephant into a normal refrigerator, no matter how people is arguing about that! The question: how to eat an elephant (answer: one bite at a time) actually makes more sense to me!

Friedman is right that there have been dramatic changes in the global economy, in the global landscape; in some directions, the world is much flatter than it has ever been, with those in various parts of the world being more connected than they have ever been, but the world is not flat… Not only is the world not flat: in many ways it has been getting less flat. (Nobel Prize – winning economist Joseph Stiglitz)

The popular expression that a capitalist will even sell you the rope you need to hang him with seems to be becoming increasingly true. Aronica and Ramdoo’s book is an important addition to the literature of globalization and a necessary therapy for all those whose minds have been in touch with Friedman’s glib phrases. (blogcritics.org)

After reading the book, I got the feeling that Friedman would even sell you the rope to hang yourself (not him) and I’ve thought there’s quite a lot of people who would willingly buy the rope!

would tell you how I usually encounter a dialogue taken place in Vietnamese, a pattern that repeats over and over again, and people never learns a thing, neither do they actually have a little sense about real things behind it. Here’s how the dialogue would go on, taken an example to describe the pattern: A (a certain person): I’ve recently read the book “The world is flat”, and really love it! Ah ha, the world is truly flat!   Me: No, the world is not flat!   A: I would suppose you don’t mean it geographically, think about it like a metaphor to get the philosophy of the book, man!   Me: No, the world is not flat!   A: You never get a thing, you crazy!

By now, anyone with a second thought should recognise my meaning either geographically or metaphorically. After that I asked him something into the content of the book. It turned out he knows almost nothing of the book except its name, and parrots the name as if he had found a “holy truth”! Yes I would certainly understand, while everyone was reading and everyone was saying the world is flat, he wouldn’t dare saying (or even thinking) the opposite. My opinion about the book could be right, or it could be wrong, but actually I won’t argue on the surface of phrases, flat or not flat is just a matter of words, what important is the book’s content.

I’d read through the more than 300 pages of the book which takes its examples, facts… exclusively in the Information Technology contexts, either in India, China or other Asian, Latin countries. It is full of details of only the IT industries, details about out – sourcing, internet, software work flow, email, network phone… the things usually seen in outsourcing service. Obviously the author meant a similarity for other fields, other industries, which seems to be a too restrictive point of view, we all know that IT in fact is only a very small fraction of the economy (taken the VN textile industry alone for an example, its estimated yearly revenue is roughly 12 ~ 15 times bigger than the IT counterpart).

The book concentrates on globalisation: the trends of out – sourcing, the way people communicates, the way firms process information… The author propagates it as “a way to be”, a trend, a life style that is absolutely irreversible. Also Friedman considers open source software the most disruptive force of all of the trends since it allows knowledge to be freely distributed and decentralised efforts could be cooperated. Friedman also encourages young American to become scientists, engineers, mathematicians… leaving low – level labour jobs to other countries. The author also tried to relate those vast details with other profound social and political problems.

I have never read anything so “colonial” like that book. It takes a lot of facts, truths… in a small sector of the economy and tries to provide a biased and exaggerated point of view. To exactly quote the author: When the walls came down, and the windows came up, windows can not come from thin air, there’re always “invisible” walls somewhere, and most of the times, those invisibles are much more overwhelming than the visible ones. In fact the book only receives “warm appreciations” in the field it’s related with, and aiming to, that is IT, it does tremendously receive negative reviews right in the country of its author (you can easily check out the web for that).

The world has never been flat, anywhere, anytime. It’s not flat in the sense of people about their living conditions and standards. It’s not flat in everyone’s mental and psychological status. It’s not flat in different life styles, in people’s hugely diverse definitions and pursuits for happiness. It’s not flat even in the American (or any Western) societies, whose tradition has always been the supporting for personal values, think and do differently. It’s not flat as human as a physical and mental objects are bounded to geological and social constraints, and human is more a complex creature rather than, over copper wires, a piece of (possibly cleverly falsified) transmitted information.

thất cầm

ột album rất dễ thương Thất cầm một thuở… một số tác phẩm của Thất cầm, nhóm những cây đại thụ trong làng guitar Việt Nam. Dĩ nhiên là thật khó để so sánh, nhưng nhiều khi cách chơi guitar không liền mạch, cách tạm ngừng hết câu rất VN, và cả những tiếng ngón tay rít trên dây đàn… những âm thanh đó gần gũi với tai nhạc của chúng ta hơn là âm thanh mượt mà đến hoàn hảo (không hề có lấy một tiếng rít dây) như của Francis Goya chẳng hạn.

Domino 
Bài ca hy vọng 
Quê em miền trung du 

Quê em miền trung du – Thái Thanh 

Không khó để tìm thấy trong album này những bài nhạc mình yêu thích: Domino, Mazuka, Andaloucia, Bài ca hy vọng… và nhất là Quê em miền trung du, bài ca của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn nổi tiếng thời kháng chiến 9 năm: Quê em miền trung du, đồng suối lúa xanh rờn, giặc tràn lên thôn xóm… Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê, giặc tan đón em về. Từ mờ sáng tinh mơ, anh đi trong bóng cờ… Riêng bài ca này, hãy nghe lại qua một giọng ca đã đi vào huyền thoại: Thái Thanh.

kindle – the verb

indle, I’m using it extensively for the time being, my reading list is growing huge with so much books, documents to be read. Kindle suits my needs very well, you can make side notes along the lines, like writing on the margins (similar to the layout of this website with notes putting on the left). These notes can later be synchronised to your laptop so that you can re – organise your random thoughts into systematic thinking and schedule. You can also use dictionaries without having to leave your reading. I’m still getting surprises on Kindle’s audio quality and its battery time, you can read, listen to music for weeks before having to recharge.

Xa cách – Tuấn Ngọc 

While I’m trying to develop some home – brew softwares for Kindle (including an email client), I’m also getting sympathised to Amazon’s designs. You would only got a special – purpose machine by removing odd features, confiding yourself to very specific needs, anything rather than reading is strictly restricted. Reading, taking notes, making investigations and drawing out plans are real pleasures, at least for the time being. Just want to discover what I wanna want to do until the time of vanishing out of this earthy world!

I used to criticise reading a lot, and I still do. We’d had generations of parrot – repeating readers already. You don’t have to read (at all), but whatever you read, do it thoroughly. I have to speak straight out, as many of our fellows pretend to read something other reads, listen to music other likes. But the cassock doesn’t make the priest, literature, music… are of personal values. Whatever you read or listen does not matter, it does only matter if you can discover new things out of the contents. I apologise the true readers and listeners, this is specific to my environment only, I get disgusted with all those “fashionable things” going on around down town!

unity




Screenshots of the new Unity desktop. There’s certainly a harsh non – exclusive competing between Unity and GNOME Shell. A proxy war between Ubuntu and Fedora Core, which is in turn a proxy war between Canonical and Red Hat.

Eventually, it’s user experiences that would decide which desktop is best (and best for what), and that’s still a long way to come. But technically, Unity is the first huge bold break from tradition, whose real goal deep inside is replacing completely the age – old heritage of X window system by an OpenGL – based one, a problem partially addressed in my previous post.

am trying Ubuntu’s new desktop introduced lately with Natty Narwhal (11.04). After heavy development phases, Unity has reached its alpha stage, a massive move replacing the GNOME desktop environment by a completely new one written from scratch. I’ve read too many negative reviews about Unity already, but personally I think this is a good move. Developed from Ubuntu’s Netbook Remix (which I didn’t like much, you don’t have to maximize windows like that all the time), switched from Clutter to Compiz 3D windows compositing system (my last experiment with Clutter also hinted potential performance problems), the new Unity shows a huge shift toward Mac’s style desktop. Though there’s still lots of bugs and missing features, a few things can be said about this new Unity.

First, people complains about the break from the norms, some hates Unity because it stops their accustomed habits. The GNOME community (with its long development history) can feel like being betrayed. But for all I knew after some years in graphics, UI design is the job of personality, it’s the task of a small group who decides what is “nice and beautiful”, and which is the way (for other users) to follow, it’s not the task of a committee (that is “People’s Committee” I mean 😬). As a developer, I’m often in the self – conflicting state of wondering what is “nice and beautiful”, modify over and over again some simple UI widgets. It’s no strange that UI always becomes a huge diversity (and problems) for community – driven projects. Key requirements for a UI system in my opinion are: simplicity, consistency and elegance.

For consistency and simplicity, Unity is a big step forward, reasons given that GNOME has become too complex and inconsistent (then how about the much more complex KDE?). Maximized windows have the caption and menu bars all incorporated into the system bar on top, a feature clearly borrowed from Mac, yet further varied and developed. A simple dock bar is positioned on the left, and system menu button doesn’t bring up menu but a searching panel with which you can launch programs, open files… with a few key strokes. I like this much cause it offers a form of GNOME – Do: it’s harder to launch rarely – used items (especially if you don’t remember the names) but it’s more convenient for frequently – used ones. After all, lexical memory is much faster than spatial memory, if one has been trained to that.

One more apparent physical factor is that the vertical screen space is more scarce compared to horizontal space, and 16:9 screens has become quite popular. To conserve useful screen space, UI must make constraints to the caption, menu bars, especially tool bars, there’s even recommendations on eliminating the status bar and minimizing scroll bar at Mark Shuttleworth’s (Canonical’s founder) blog. For scroll bar, that’s quite sure a mimic and modified version taken from iOS. Actually with my recent experiences with Mac and iOS, there’s still a lot of lessons to be learned from these two OSes on how to use space efficiently: remove heavy windows decorations and borders, use lighter UI fonts, smaller and more symbolic icons, design simpler widgets… and in cases even sacrifice some less – used UI features.

The trend of UI becoming simpler and more consistent is quite obvious. Efficient uses of space is the key, but spatial is not all for user experiences: keyboard and mnemonic are also important parts of the learning path (UI effects can be fancy, but over time, people get to love the simplest keystrokes that do the job). The third factor: elegance is even more a topic of debate, people can largely agree to what is simplicity and consistency, but what is aesthetics remains mysterious! Unity claims that it would directly compete Mac on UI designs and user experiences, but my opinion is that its aesthetic aspect is still far behind that of Mac, e.g: Compiz’s effects are numerous, but actually not very fine – tuned compared to the smaller set of animations Mac offers… And even Mac still doesn’t satisfy my eyes in quite many cases…