đức thành thuyền tử

Nhị thập niên lai giang thượng du, Thủy thanh ngư kiến bất thôn câu. Điếu can chước tẫn trọng tài trúc, Bất kế công trình đắc tiện hưu. – Hai chục năm qua dạo sông chơi, Nước trong nên cá chẳng ham mồi. Hết cần trồng trúc làm cần mới, Đâu quản nhọc nhằn được mới thôi!

二十年来江上游
水清鱼见不吞钩
钓竿斫尽重栽竹
不计工程得便休

bát trạo ca

Facebook nhắc lại ngày này năm trước, chùm “Bát trạo ca” của “Đức Thành thuyền tử” (cái tên này có nghĩa là: người chèo thuyền Đức Thành), thi nhân, thiền sư thời Đường. Đây là một chùm nhiều bài lấy chủ đề sông, nước, thuyền, trăng, câu cá (vì là nhà sư nên ông ta luôn câu bằng lưỡi thẳng, nôm na chính là… đi cho cá ăn). Các làng chài ven biển miền Trung Việt Nam có lối “Hát bả trạo”, là từ chữ “bát trạo” mà ra! Bát trạo ca, tức là bài ca chèo thuyền, chỉ là một trong vô số nội dung của thơ Đường. Nói về các chủ đề của Đường thi…

Đầu tiên là dòng thơ cung đình, những lời chúc tụng hoa mỹ, sáo rỗng. Đối lập với nó là dòng thơ điền viên, diễn tả niềm vui, an lạc của cuộc sống nơi thôn dã. Một dòng nữa tạm gọi là “khuê trung oán”, mô tả nỗi ai oán, sầu não của người phụ nữ chốn khuê phòng khi trượng phu ra trận đã lâu ngày. Dòng mà tôi thích đọc nhất là Biên tái, có nội dung về chiến trận, sa mạc, đời sống nơi biên ải, kiểu như: Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh, Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ!Chiến sĩ nơi trận tiền nửa sống nửa chết, Mà dưới trướng, người đẹp vẫn múa hát!

Có dòng thơ hiện thực khốc liệt của Đỗ Phủ, hay lãng mạn cao vời của Lý Bạch, lại có những dòng thơ thể hiện rõ ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo như của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên. Cứ thử đọc thử vài ngàn bài, để thấy cái thế giới tâm hồn, cái kỹ năng sử dụng ngôn từ của người ta phong phú đến cỡ nào, mà đó là thời hơn một ngàn năm ba trăm trước nhé! Có tác giả đã nhận xét về Đường thi: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần… Không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch!

Nhiều khi nghĩ mà buồn, có những loại bên trong trống hoác, đến bản thân dốt, kém chỗ nào cũng chưa thể tự nhận thức, không thể tự luận ra được! Lại có những loại ngồi trước TV xem toàn phim Trung Quốc suốt mấy chục năm, ấy thế mà vẫn không học được điều gì! Và cũng có những loại, loay hoay hiểu được một vài câu chữ rồi… mắc cứng luôn vào đó, dùng câu chữ như một loại “bùa chú” để “lòe người” chứ không thực sự lĩnh hội được cái tinh thần, hồn cốt bên trong! Và khổ nỗi, đó chính là những loại vỗ ngực: “ta đây là nhà thơ” các kiểu!

kiểm soát vũ khí

Xem phim cổ trang Trung Quốc, một vị hoàng đế mặc thường phục vi hành… Trong ảnh có thể thấy mấy người thị vệ cầm đoản đao, dài chưa đến 5 tấc kể cả cán. Nghĩ bụng: cẩm y vệ mà không sắm được trường đao cho nó đàng hoàng hay sao!? Nhưng nghĩ lại, đây là thời Tống, vũ khí được kiểm soát chặt chẽ!

Mang trường đao thì khác nào tự để lộ thân phận lính triều đình!? Thời Tống, xã hội dân sự có trình độ phát triển cao, có rất nhiều quy định kiểm soát vũ khí rõ ràng và chặt chẽ! Ví dụ quy định dân thường được xài đao dài tới bao nhiêu, quy cách thế nào!? Ấy thế mà thời hiện đại, chờ mãi cũng chưa thấy quy cách nào!

gopro13

Con GoPro13 được bỏ trong hộp chống nước, nhưng giữa biển mà thay pin là rất khó, sơ sảy một chút dính tí nước biển vào là có chuyện ngay! Nên đã cải tiến để chạy GoPro trực tiếp từ nguồn 12V có sẵn trên xuồng. Đầu tiên là cần có một cục “biến áp” từ 12V xuống 5V-3A nhỏ bằng ngón chân cái. Sau đó là cập nhật lên firmware “GoPro Lab” (có nhiều tính năng phức tạp mà firmware chính hãng không hỗ trợ). Cứ bật nguồn là con cam tự khởi động, tự quay, tắt nguồn dĩ nhiên là dừng quay (dừng đột ngột nên có thể mất vài khung hình cuối). Cáp nguồn được nối bằng connector chống thấm nước, chỉ 2 dây âm – dương cấp nguồn qua cổng USB-C!

Nhưng con GoPro13 rất là kén, nếu nguồn không đủ 2.5A là nó không chịu khởi động, mà cổng USB 2 dây âm – dương chỉ cấp nguồn cơ bản, tối đa 1A. Lò mò tìm hiểu một chút, hàn thêm 2 con điện trở 5.1K – 1% vào 2 chân CC1 và CC2 nối với dây âm (GND), đây là tín hiệu để cho cổng USB-C biết có thể lấy thêm dòng! Nếu có 2 con điện trở này sẽ cấp dòng lên đủ 3A để con cam hoạt động được mà không cần gắn pin! Như thế, thay vì phải đem theo lỉnh kỉnh rất nhiều pin và thay pin giữa chừng, thì với cục nguồn 12V – 20 Amph đã có sẵn, có thể quay hàng vài chục tiếng, chỉ cần bật công tắc (từ) là quay, tắt là dừng, rất tiện lợi và nhanh chóng! :)

thi ca

Đường thi là một đỉnh cao, cao vời vợi của thi ca cổ điển TQ, sẽ không bao giờ có lại một thời đại mà nhà nhà làm thơ, tạo ra không biết bao nhiêu cách diễn đạt, ý tưởng mới lạ, làm giàu thêm đời sống văn hóa. Sang đến thời Tống, dù văn nhân vẫn tiếp tục làm thơ theo thể Đường luật, họ tiếp tục sáng tạo ra thể loại Tống từ mới, cách diễn đạt uyển chuyển, gần với âm nhạc hơn. Sang đến thời Nguyên, với sự cai trị của đế chế Nguyên Mông, ngôn ngữ có sự thay đổi lớn, dần dần trở thành có 4 âm thay vì 6 âm như trước. Nên rất nhiều thơ làm theo lối Đường luật trở nên… sai âm luật. Dù vẫn tiếp tục làm theo thể Đường thi, Tống từ, nhưng thời Nguyên phát triển mạnh về Nguyên khúc, hình thức hý kịch mang tính âm nhạc sinh động. Sang đến thời Minh, dù vẫn thấy Đường thi, Tống từ, nhưng đời sống tinh thần sang một trang mới, văn xuôi dạng tiểu thuyết phát triển mạnh!

Nên cụ Nguyễn Du mới chuyển thể Kim Vân Kiều truyện thành thể lục bát vốn quen thuộc với người Việt, chứ văn xuôi nhiều chữ như thế, đa số không đọc nổi. Sang đến thời hiện đại, các văn nhân thi thoảng vẫn làm Đường thi, Tống từ, nhưng đó chỉ là sự “hoài cổ” bất chợt, không ai muốn tiếp tục một cái thể loại đã không còn đúng, hay về âm điệu, không có sự mới mẻ trong ý tưởng. Ngay tại TQ, thi ca hiện đại đã như một dòng sông ngừng chảy, chưa biết đi về đâu. So với Hoa ngữ, tiếng Việt vẫn giữ được một lợi thế rõ rệt là còn bảo lưu đủ 5, 6 âm! Nhưng bù lại, sự tìm tòi sáng tạo trong ý tưởng, trong cách diễn đạt thực sự không thể so bì được. Mà nói cho cùng thì, thời thế góp một phần vô cùng quan trọng trong việc việc định hình nên ngôn ngữ thi ca, chỉ có số phận bi thảm như Văn Thiên Tường mới viết lên nổi một bản “Chính khí ca” hùng tráng đến vậy!

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh, những dòng thơ mà người người, đời đời truyền tụng và ngưỡng vọng, đấy là loại thơ ca được viết ra bằng mồ hôi và máu, so với những kiểu được viết bằng… nước bọt hẳn không cùng một loại! Phải có thời thế đổi thay, lịch sử biến động, phải có cuộc sống phong phú, con người vận động thì mới có cảm hứng và chất liệu cho những loại thơ ca đích thực được. Tại Việt Nam, thơ Mới cũng giống như một buổi hoàng hôn rực rỡ, chính là báo hiệu màn đêm sắp buông xuống! Với những tia nắng cuối ngày: Anh đi đấy, anh về đâu? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm! (Nguyễn Bính) Về đâu thì chưa biết, nhưng chắc chắn là phải có cách diễn đạt mới lạ cũng như ý tưởng khác biệt. Không thể cứ lặp lại mãi vài câu chữ nghèo nàn trong cái thể lục bát cũ rích rồi vỗ ngực “ta đây nhà thơ” được!

Mà để tạo ra sự khác biệt, cũng có người đã vò đầu, bứt tai, dày vò bản thân để tạo ra câu chữ hiểm hóc, kiểu như Giả Đảo, Lý Hạ, Mạnh Giao thời Đường, tạo ra cả một “trường phái khổ thi”, suốt ngày chỉ vặn vẹo câu chữ! Tuy cũng có người khen ngợi, nhưng toàn là loại thi ca thiếu sức sống, thực chất chính là phản ánh sự đau khổ, ốm yếu, bệnh tật của các tác giả làm ra nó! Ngay ở thời Đường, đã có nhiều dòng thơ và vô số tác giả khác đáng đọc hơn nhiều: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần… không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch! Giả, Mạnh so với Lý-trích-tiên như đom đóm với trăng rằm mà thôi. Mà để được như họ Lý, đầu tiên là phải cỡi ngựa, đánh kiếm, chèo thuyền… sống một cuộc đời cho nó đủ đầy ý nghĩa đã! Nôm na, ngắn gọn là cứ tập thể dục đi rồi hẵng nói chuyện thi ca, nhé! :D

từ nguyên: ấn loát

In ấn, đã in sao lại còn ấn? Thực chất “in” là âm hiện đại của “ – âm Hán Việt: ấn”, cả hai chỉ là một chữ mà thôi. Kỹ thuật in đầu tiên chính là khắc gỗ, về hình thức, không khác gì với ấn – triện, như thế có thể xác định là khi kỹ thuật in truyền vào VN thì âm của nó đã là “in” chứ không còn là “ấn” nữa. Tiếng Việt có rất nhiều trường hợp như thế, chỉ một chữ viết nhưng âm có nhiều hơn một, do du nhập vào VN tại nhiều thời điểm khác nhau!

Còn ấn loát – 印刷, loát là cái bàn chải, động từ nghĩa là lau, xoa… Dùng chữ “ấn loát” vì ngày xưa khi in mộc bản, thạch bản, họ dùng cái bàn chải/cọ lớn để xoa, vỗ lên mặt giấy cho mực ăn đều! Vậy tại sao là “ấn loát” mà không phải là “in loát”!? Hình: lấy từ cuốn “Giới tử viên họa phổ”, công trình đồ sộ nhiều tập, xuất bản 1679, in mộc bản 5 màu, được xem là cẩm nang lý luận và thực hành mà tất cả họa gia (cổ điển) TQ phải học!

giải trí đến chết

Facebook nhắc lại ngày này năm trước, đọc lại những dòng chính mình viết, bỗng thấy nó giống hệt như những gì được viết trong cuốn Giải trí đến chết – Amusing Ourselves to Death – Neil Postman, dù chưa thực sự đọc cuốn sách này một cách đầy đủ bao giờ. Nói theo kiểu phương Tây thì như vậy, nói theo kiểu phương Đông thậm chí còn trực quan dễ hiểu hơn: phải tìm cách đánh vào “cái tôi”, phải làm cho nó được thỏa mãn, hài lòng.

Bằng cách cung cấp những nội dung “sốt dẻo, kích thích, thỏa mãn”, phải kích hoạt cái phản xạ “tôi hiểu biết, như tôi mới đúng, tôi hơn người”. Cách thức nô dịch con người chính là thế, phải làm cho họ hài lòng với những thứ vô thưởng vô phạt, để họ quên đi điều gì là quan trọng trong cuộc sống! Nhân tiện nói về cái clip, với việc Nga & Mỹ ngồi lại với nhau để chia miếng bánh, thì thời gian của vị trong clip chỉ còn tính bằng ngày mà thôi! :D

sở hữu yếu

Xem phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc thấy được vài điều… Điều gì khiến cho triều Thanh trở nên mạnh mẽ, chiếm được “thiên hạ” và hoàn toàn khác biệt so với các triều đại khác của TQ? Nếu chỉ xem lướt lướt các phim thì có vẻ như triều đại phong kiến nào cũng giống nhau! Nhưng thực ra, so với thể chế chính trị cực kỳ hủ bại và tàn ác của triều Minh trước đó, thì triều Thanh “ngoại tộc” thực sự có những yếu tố mới mẻ và lấy được lòng dân! Ít nhất là ở giai đoạn đầu, yếu tố cơ bản khiến Thanh triều khác biệt chính là cái mà tôi gọi là “quyền sở hữu yếu”.

Nhưng như thế nào là “quyền sở hữu yếu”!? Đầu tiên, vì gốc gác là dân tộc du mục, người Mãn không có khái niệm sở hữu đất đai, không phân phong cho ai quyền cai quản đất đai vĩnh viễn. Nên dùng chữ “phong kiến” ở đây chỉ đúng một nữa, vì tuy có “phong vị” nhưng lại không có “kiến địa”. Xã hội Mãn châu nguyên thủy được tổ chức thành các đơn vị cơ bản, một mô hình dân – quân hợp nhất gọi là “Tá lĩnh”, mỗi Tá lĩnh bao gồm khoảng 300 chiến binh cùng với gia đình, vợ con, cha mẹ của họ. Toàn Thanh triều lúc cực thịnh có tổng cộng khoảng 664 Tá lĩnh.

Một người có thể được giao cho quản lý một hoặc nhiều Tá lĩnh, tùy theo địa vị, công trạng, nhưng quyền quản lý này có thể bị thu hồi thông qua quyết định của một hội đồng, hay qua mệnh lệnh trực tiếp từ Khả Hãn. Việc thế tập (cha truyền con nối) là phổ biến, nhưng không phải là hiển nhiên, các thế hệ sau muốn duy trì quyền kiểm soát này thì phải cố gắng tạo dựng công trạng! Như xem trong các phim cổ trang thì các Kỳ nhân đều xưng hô với Kỳ chủ là “nô tài” này nọ, thực chất đó chỉ là khiêm xưng, bản thân Kỳ nhân hoàn toàn không phải là nô tài, nô tì.

Họ là những lương nhân tự do, chỉ bị ràng buộc với Chủ từ qua các quan hệ lao động. Những Kỳ nhân này làm việc cho Chủ tử theo những chế độ lương, thưởng được quy định rõ ràng! Và các Kỳ nhân cũng được luật pháp bảo vệ, Chủ tử không thể giết hại họ tùy ý được! Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra, và nếu xảy ra thì Chủ tử sẽ bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc! Như thế, “sở hữu” một Tá lĩnh thực chất không phải là quyền sở hữu đất đai, cũng không phải là quyền sở hữu con người (nông nô, nô lệ), mà gần như chỉ là quyền “quản lý” tài sản và lao động!

Luật pháp Thanh triều quy định phân biệt rõ ràng giữa tài sản riêng và tài sản chung. Như xem trong các phim cung đấu thì khi một phi tần được sủng ái, họ sẽ được ban cho cung điện, châu báu, tài sản, người hầu hạ này nọ. Nhìn thì có vẻ xông xênh, ra ngoài được khiêng kiệu, che lọng, tiền hô hậu ủng, nhưng tất cả những “tài sản” đó đều chỉ là… cho mượn, khi bị giáng vị, thăng vị, huyền vị… thì toàn bộ đều phải trả lại! Thế nên mới có tình huống hoàng đế, vì sủng ái một vị thê tử nào đó, mới xuất tiền túi ra cho riêng, để vị nương nương này có chỗ dựa khi về già!

Quý tộc thế tập thời Thanh, dù vẫn là cha truyền con nối, nhưng đa số là “Thế tập đệ giáng”: qua một đời thì giáng xuống một cấp, như Trấn quốc công thì giáng thành Phụ quốc công, và cứ thế tiếp tục, điều này giúp làm giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Vì quyền thừa kế không phải là nguyên vẹn và vĩnh viễn, nên con cháu đời sau vẫn phải cố gắng nếu muốn duy trì gia tộc hưng thịnh! Những điều này dần thay đổi khi Mãn tộc chung sống và bị đồng hóa bởi người Hán, nhưng ít nhất ở giai đoạn đầu, “sở hữu yếu – không có gì là vĩnh viễn” là ưu điểm rất lớn của thể chế!

flintstones technologies

Khi trong tay bạn chỉ có cái búa (là dụng cụ duy nhất) thì mọi vấn đề nhìn đều giống… cây đinh – When your only tool is the hammer, every problem looks like nails. Cũng tương tự như vậy, khi tất cả những công cụ bạn dùng là cờ-lê và tua-vít, thì mọi vấn đề đều nhìn giống bu-lông và ốc vít! Đây là dạng mà tôi gọi là “Công nghệ Đá lửa – Flintstones technologies”, ai từng ưa thích loạt phim hoạt hình này sẽ hiểu ý thế nào… :D

góc phần tư

Chiều hôm trước đạp xe cuối ngày, dừng chờ đèn đỏ ở một cái ngã tư, quan sát thấy chỉ trong 1 góc phần tư chừng 20 m2 của cái ngã tư đó thì thấy có: 2 cột gắn biển tên đường, 2 cột đèn giao thông, 2 cột gắn biển báo giao thông, và 2 cột đèn chiếu sáng, tổng cộng 8 cột tại 1 góc phần tư của cái ngã tư, chưa kể một cây cột điện!

Còn nếu tính hết cả 4 góc phần tư thì có đến 30 cây cột. Nghĩ thầm 8 cây cột này, nếu làm khéo rút lại chỉ còn 1, cùng lắm 2 cây là đủ! Nhìn như một rừng chông luôn: Lớp lớp trùng trùng xanh thẳm giữa quê hương, Hãy vót đi em mũi nhọn kiên cường! Đi đâu cũng cắm biển, đến lúc lại hỏi vì sao mua dây buộc mình!? :D Càng cắm lại càng loạn!