bạch mã – 1

Mô hình 3D Google Earth của khu vực Hải Vân – Bạch Mã: từ Đà Nẵng, đi theo lộ 1 – đường đỏ nét liền – đến quá Lăng Cô thì bắt đầu đi bộ lên đỉnh – đường đỏ nét đứt. Click vào ảnh để xem chi tiết.

Đầm Cầu Hai và cửa biển Tư Hiền xa xa, nhìn từ lưng chừng Bạch Mã


Lâu lắm rồi, năm 199x (không nhớ rõ), một nhóm bạn cũ ít gặp, những kỷ niệm lúc nhỏ trở về, một nhu cầu “reconnect & retreat” chợt xuất hiện… thế là một chuyến đi chơi không hẹn lại nên. Ngày 23 tháng chạp âm lịch, nhóm 5 người chúng tôi tổ chức một chuyến dã ngoại lên đỉnh Bạch Mã. Đây gần như là khu bảo tồn thật sự nguyên sinh duy nhất còn lại trên cả VN, và cái quyết định thất thường đi Bạch Mã vào một ngày giáp Tết đã cho phép chiêm ngưỡng nơi này vào mùa đẹp nhất trong năm. Tuy vậy đẹp nhất cũng đồng nghĩa là khó chịu nhất, cái lạnh và ẩm ướt gần như làm kiệt sức mọi thành viên.

Nếu xét riêng từng mặt thì đây không phải là một vùng quá ư đặc biệt, nhưng tính tổng hòa hệ sinh thái: núi, rừng, biển, đầm nước lợ ven biển, và sự đa dạng sinh học kỳ lạ thì nơi đây thật là một cảnh quang diễm lệ có một không hai. Tuy có đường nhựa cho xe chạy nhưng cả nhóm quyết định cuốc bộ, đi theo đường chính, thỉnh thoảng cắt rừng để thăm thú đó đây. Ngày đầu tiên nắng chang chang, lên cao thời tiết mát được thêm chút ít, và thảm thực vật cũng dần thay đổi theo. Đêm đầu tiên cả nhóm hạ trại trên đỉnh thác Đổ Quyên, một ngọn thác hùng vĩ cao hơn 400m, nước tuôn đổ xuống xuyên qua sương mù.

Từ một sườn núi nhìn về thác, có chiếc cầu nhỏ nối hai bờ, uốn hình vòng cung ôm ngọn thác vào giữa. Nhìn dòng nước này không thể không nghĩ đến Lý Bạch: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên… Gọi là thác Đổ Quyên vì có loài hoa đổ quyên mọc đỏ đầy ven bờ, một loài hoa mang nét đẹp quý phái. Rồi những ngọn tùng xuất hiện, hàng trăm năm qua, chỉ có thời gian khắc tạc nên nhiều hình thù cổ quái, nhiều cây mọc bên bờ vực, vươn mình như muốn lao vào khoảng không mù mịt. Cảnh tượng thiên nhiên hoang sơ quả thật quyến rũ lòng người.

Phần lớn những bức ảnh chụp trong chuyến đi bị mất khi lội qua suối Đổ Quyên: chiếc máy ảnh buộc không chặt trôi theo dòng nước, máy thì vẫn lấy lại được, nhưng những khung hình đẹp nhất đã không còn nữa. Những hình ảnh chung chung như thế này không đủ để lột tả vẻ đẹp của rừng nguyên sinh Bạch Mã… những ngọn tùng, những khu rừng trúc mù mịt trong màn sương khói phủ. Về sau xem những trường đoạn trong phim Ngọa hổ tàng long, tôi tự nhủ những hình ảnh trong phim cũng không khác Bạch Mã là mấy, ấy vậy mà chưa có ai bỏ công khai thác kỳ quan Bạch Mã lên phim ảnh.

Càng lên cao, hệ động thực vật càng thay đổi. Từ 1500m trở lên, chúng tôi bắt gặp một cảnh quan ôn đới, những rừng cây khoác một màu áo đỏ hay vàng sáng rực cả không gian. Những cây dương xỉ thân gỗ cao như cây cau, những con giun đất (dài hơn 1m) bò qua lại trên nền rừng ẩm mục. Nhiều thế hệ học trò của kỹ sư lâm nghiệp Nguyễn Hữu Đính (thuộc lứa kỹ sư lâm nghiệp đầu tiên của VN do Pháp đào tạo – một người bạn của gia đình tôi) đã dày công bảo vệ vun xới nơi này, biến nó thành một công viên quốc gia thật sự, nơi nhiều loài thảo mộc, động vật quý hiếm có được không gian sống, được giới thiệu cho chúng ta biết đến. Những năm gần đây nghe nói loài hổ Đông Dương tưởng chừng đã tuyệt chủng đã bắt đầu xuất hiện trở lại ở vùng rừng Bạch Mã.

Đến cuối ngày thứ 2, tình hình thời tiết và sức khỏe đã không cho phép phần lớn thành viên của nhóm có thể xem đây là một chuyến du ngoạn được nữa. Chỉ có tôi là vẫn vừa đi vừa xuýt xoa trước cảnh tượng dọc đường. Trời chuyển bão cấp 9, nhiệt độ tụt xuống 8°C, sương mù dày đặc đến nỗi khó có thể thấy gì trước mặt quá 2, 3m. Mãi cho đến khi “đám tàn quân” đâm sầm vào một khối đen kịt lù lù bất chợt hiện ra trong sương mù thì mới phát hiện ra đó là tòa biệt thự cũ gần đỉnh núi (ảnh bên dưới). Chúng tôi nghĩ lại đêm thứ hai ở đây, đến mờ sáng hôm sau chỉ có tôi và một người nữa leo nốt 300m còn lại để đứng được trên nóc nhà Bạch Mã.

Cái câu nói không có hạnh phúc cuối con đường, chính con đường là hạnh phúc chưa bao giờ trở nên đúng đắn như thế. Đứng trên Wuthering Height mù mịt trong sương, nghe gió gào thét và nghĩ đến những cảnh tượng kỳ vĩ hoành tráng trên đường đã đi qua. Riêng trong đám bạn tôi, có lẽ một vài người tìm được “hạnh phúc cuối con đường” trong một căn phòng (bây giờ là khách sạn), chiếc chăn bông dày cả tấc và bữa cơm nóng cứu đói được các nhân viên gác rừng ở đây hào phóng “ban phát”. Những kỷ niệm về chuyến đi ấy mãi còn lưu lại trong chúng tôi, những trò chuyện tranh luận quanh suốt hành trình, những người “nhất định phải đến”, những kẻ “nhất định phải về”, những người “về cũng tốt nhưng đi tốt hơn”, lại có người “đi cũng tốt nhưng về tốt hơn”.

raketa – 24

Time, much obsession for time and timing lately! Just purchased this Soviet Raketa wrist watch from eBay (quite cheap the price)! First about Raketa: the brand name is famous among Soviet-built timepieces for its accuracy! Yes you know Russian clocks and watches, fews are pretty good, the rest are… phhhh! Raketa is said to achieve the accuracy of [-10, +30] secs per day.

That’s quite good if you know high-class Swiss timepieces have it at [-10, +10], only some best Swiss-made full-fill the requirements of a chronometer at [-4, +6] secs per day. Yet we’re mentioning mechanical watches, since modern quartz ones easily ensure the range [-2, +2]. Raketa’s movement (the internal clock mechanism) are widely acclaimed as well, though no Raketa pieces is known to be well-water-proof.

But the thing I love about this watch is neither its Soviet origin nor its accuracy reputation. Click to see an enlarged image, you would notice it’s a 24-hour system. One round of the minute hand equals 60 minutes, but one round of the hour hand equals 24 hours, so noon is at the 12nd position, and midnight at the opposite! Yet it takes some times to adjust your habit of time-watching. So why 24-hour? Is it so ambiguous with the AM/PM 12-hour system?

Well, for some who works underground (miners) or undersea (submariners), who works near the (north or south) poles (where days and nights are mostly the same), one works expanding over several timezones, they would prefer this watch. It’s surely suitable for programmers as well, since sometimes we could not differentiate days and nights!

elektronika

Russian Elektronika clone

Nintendo Game & Watch original.

A very sweet souvenir, a sudden reminiscence that happen to recall, my first computer game. Some day in the mid-80s, I’d got a gift, a Soviet built, hand-held device. I still remember the sound, the addictive feelings came with it! The game featured a wolf, a rabbit, likely to be seen in the Nu, pogodi! cartoon series (pronounced by us – little child as nupacachi). The game’s goal is trying to catch falling eggs, if an egg missed, it breaks and a chick is born. If 4 chicks are born, you lose! I played hundreds of games on this pad, then batteries ran out but can’t find anywhere replacement back then.

Several years later, in the late-80s, these types of games became obsolete, then seen the Nintendo’s Famicom console widespread. Now I know it was a clone of Egg (a variant of Mickey Mouse), played on console manufactured by Nintendo. Although capable of building super computers, the Soviet Union was, at the time, in shortage of consumer goods, they choose to reverse engineer various Western products.

It’s very interesting to learn about separate branches of electronics and computer science in the USSR. They had distinctive type of computers, architectures, operating systems, programming languages… Some are even found nowadays quite bizarre like the trinary computers (as apposed to binary systems we’re extensively using). It should be noticed that the Russian had very successful specific-purpose models that offer superior power in narrow fields (such as ballistic computing). Areas in their separated genealogical branches of science and technology remain mysterious until today, some are covered in the book Computing in Russia, a highly-recommended reading!

Update, May, 13rd, 2009

It was kind of a very first and famous game, yet only ones at the time know about it, in the early and mid 80s. After searching a while, I found various simulators for playing the Game & Watch series, on Linux, on Windows and even on Mac. On the left is Flash version of the game, the Soviet variant named Nu, pogodi!, you can guess from Cyrillic letters above the screen. Enjoy!

văn cao – hải quân việt nam


Nếu nhạc sĩ nói chung là những con người mơ mộng thì Văn Cao là con người mơ mộng siêu việt. Ông toàn mơ về những thứ mà mãi 60, 70 năm sau chúng ta mới bắt đầu có! Có 5 bài hát được viết trong những năm 1944, 1945, trước Cách mạng tháng 8. Ngoài Tiến quân ca đã được chọn là quốc ca thì Bắc sơn là bài ca viết cho các đội du kích, Chiến sĩ Việt Nam là ca khúc cho các chiến sĩ bộ binh, Hải quân Việt NamKhông quân Việt Nam là hai bài hát cho hải quân và không quân.

Hải quân Việt Nam 
Không quân Việt Nam 

Quốc ca được viết khi tác giả Văn Cao chỉ mới nghe phong phanh về mặt trận Việt Minh, còn những bài ca cho hải, lục, không quân thì được viết khi bộ binh còn là những guerrilla bands, còn hải quân và không quân hoàn toàn chưa có một chiếc canô hay tàu lượn nào, chưa nói đến những máy bay hay tàu chiến hiện đại. Mãi gần 70 năm sau khi hai bài ca được viết, VN mới bắt đầu có cái có thể gọi là Hải quân.

Việc Nga bán cho VN 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, cộng với những tàu chiến đã và đang được đóng tại xưởng Ba Son (theo hợp đồng chuyển giao công nghệ từ Nga) đã chính thức hoá những tin tức đồn thổi lâu nay về việc thành lập Hạm đội biển Đông bao gồm khoảng 30 chiến hạm tương đối hiện đại, 6 tàu ngầm (Kilo-class submarine là lớp tàu tiên tiến) và vài chục máy bay đời mới. Thảo nào dạo gần đây, đài báo nói về biên giới, Trường Sa, Hoàng Sa có vẻ rõ ràng mạnh bạo hẳn lên, có đâu cứ “giấm giúi” như trước mãi!

chhom nimol

    Integration 
   Connect four 
   Seeing hands 
     Nights 

Got to know about music of our neighbor, Cambodia. Sure it used to be a country with brilliant art traditions, from dancing, music to architecture… Quite a strange combination: Cambodian singer Chhom Nimol and the Los Angeles world-music rock-band Dengue Fever.

Together, they brought back popular music of the 60s in Cambodia, which was Khmer music with Western influences, now retrofitted in a new psychedelic style. You’re listening to some songs in Venus On Earth album, selected as one of the best world music records of 2008 by iTunes Store. Beautiful!

the sorrow of war… film?

“Better to die than surrender, my brothers! Better to die!” – the battalion commander yelled insanely; waving his pistol, and in front of Kien, he blew his own brains out through his ear. (The Sorrow of War)

An un-put-down-able novel. It should win the Pulitzer prize, but it won’t. It’s too gripping for that. (The Guardian)

Dramatic… Will force American readers to acknowledge how little they still understand of the long war that left such a legacy of grief and guilt in their own country. (The Washington Post)

The Sorrow of War has won worldwide acclaim and become an international best-seller. (Amazon.com)

A good news: 8th, May, 2008, The Sorrow of War novel will be turned into movie by an American director: Nicolas Simon. After 10 years of discussion and negotiation, Bảo Ninh, the novel’s author finally permitted making of the film based on his famous book. The producer, Dominic Scriven, a very passionate admirer and friend of the author, who now holds the book copyright and want to transfer it onto the silver screen. An even better news: 9th, Aug, 2008, author of The Sorrow of War novel stated that he wouldn’t have any further connection with the The Sorrow of War movie project.

The reason given is: film’s script is not aligned with the author’s ideas. In fact, many people is doubtful that an unnamed director would be capable of working on such a great novel, although the producer (Dominic Scriven) ‘s goodwill is widely recognized! The movie project is now paused, in searching for another director! That’s a very good thing in my opinion, in the fear that we would have another history distortion (or even worse)! A picture is worth a thousand words? That’s not always true, think twice (or read the book)! In this case, words are worth thousands of pictures (or a movie)!

The novel is, more or less, an semi – autobiography. Bảo Ninh himself (or the protagonist Kiên in the novel) was a soldier in the 24th battalion, a special formation commissioned to the B3 front (central highland) in 1969. Of the unit’s 500 man, he is among the only 10 survivors. The story is an nonlinear scatter of memories, mixed the past with the moments of post-war time: childhood, a high school’s love story, the battles, and importantly lives after war.

The Sorrow of War is without doubt timeless. Perhaps it is one of the world’s greatest war novels ever written. Imagine the film Apocalypse Now and increase its effect, say by a factor of a thousand – this is the power of Bảo Ninh’s writing. I remember shivers in my spine when first reading the book, some 15 years ago! Just surf around some online bookstores, to see what readers have said about the book:

  • If this book doesn’t make you cry, you have no soul.

  • It’s definitely not a book for everyone, and I nearly put it down during the first 50-60 pages. But, I soon became wrapped up in the story and the language.

  • Books usually lay with me on my bed and after their formal end we sleep together for a few days but after the last sentence I promptly put this right back on my shelf and am having trouble thinking about it again. I had horrible nightmares during the read.

  • This book is amazing. The story progresses thematically rather than chronologically, and leaves you piecing together historical non-fictional events… He succeeds in taking the reader on a difficult journey of emotional and spiritual crisis, right to the core of the human condition and captures a sorrowful despair like no other literature I’ve ever read.

  • Like pouring acid on your moral center…

  • Just an excellent novel. To everybody who considers The Things They Carried the penultimate work of fiction about the Vietnam War: pick up The Sorrow of War and be prepared to be blown away by the stories of a Vietnamese.

  • In fact, my view of just about everything I thought I knew about North Vietnam from the mid-60’s to the mid-70’s was altered by this book.

  • This book is unbelievably emotional. The style of writing is unique: it is not linear or chronological in any way. It is chaotic, a reflection on the subject of the book. The writing style, though chaotic, seems to be a perfected style. The book was written with total disregard to order; there is no doubt that all was deliberate.

the battle of iadrang

To make war all you need is intelligence.
But to win you need talent and material.

For whom the bell tolls – E. Hemingway

Col.Gen. Harold Moore and Col.Gen. Nguyễn Hữu An returned to the old battlefield, Oct, 1993, exchanging their diaries, maps, operational notes, memories and friendship.

The IaDrang Campaign was to the Vietnam War what the terrible Spanish Civil War of the 1930’s was to World War II – a dress rehearsal. The place where new tactics, techniques and weapons were tested, perfected and validated. In the IaDrang, both sides claimed victory and both sides drew lessons, some of them dangerously deceptive, which echoed and resonated throughout the decade of bloody fighting and bitter sacrifice that was to come.

While those who have never known war may fail to see the logic, this story also stands as tribute to the hundreds of young men of the 320th, 33rd and 66th regiments of the Peoples Army of Vietnam who died by our hand in that place. They, too, fought and died bravely. They were a worthy enemy.

Wild flowers now grow in those places of violent death. The IaDrang from PleiMe west is uninhabited except for a few montagnards who are/have been driven out to the east near PleiKu. The Ia Drang/Chu Pong area is now known as The forest of Screaming Souls and remains mysterious and beautiful.

Hoa dại giờ mọc đầy trên mảnh đất từng đầy rẫy chết chóc. Vùng IaDrang đến giờ vẫn không có ai cư trú, ngoại trừ một vài sắc dân miền núi đang được di dân về hướng đông gần PleiKu. IaDrang, ChưPrông nay được biết đến với cái tên Truông Gọi Hồn, vẫn nguyên vẹn huyền bí và đẹp đẽ như tự ngàn xưa.

Mar, 1965, the first U.S troops arrived in Vietnam (Danang). 8 months later, their first major engagement with the VPA in a large battle (of regimental, divisional size) took place at the Valley of IaDrang, which is since then known as the Valley of Death. Feb, 1994, President Bill Clinton announced the normalization in relationship with Vietnam. In an action to bootstrap of the process, in 1993, a film was made featuring the old bloodshed battle of IaDrang. Thus, battle of IaDrang marks the begin and end of a long-time painful and bitter relationship between the two nations. Up to the present days, lots of people from both sides still can not get it right about what had really happened then and there. The story below tries to recall the truth.

But first, about the film: We were soldiers is based on We were soldiers once… and young, a book written by Harold Moore himself, as one of the direct commanders in the battle (on the American side). It’s a Randall Wallace‘s film, the famous director of Brave Heart, Pearl Harbor, and now We were soldiers, with Mel Gibson as Lt.Col. Hal Moore, and Đơn Dương as Lt.Col. Nguyễn Hữu An. To my disappointment, the film is no better than any other Hollywood’s films such as Black Hawk Down, solely made to demonstrate American heroism. Exactly as written in Harold Moore’s book: Hollywood got it wrong every damned time, whetting twisted political knives on the bones of our dead brothers.

The film is no exception, it takes many of the small facts of the book onto it, but only to falsely portray the historical events. In fact, the film is a distortion of facts that happened, of peoples involved in the battle, especially the figure of Lt.Col. Nguyễn Hữu An. In a sense, the film has undermined the author Hal Moore’s (and many other American veterans) sincerity and goodwill. Hal Moore is also a man of literature talent, the following line is written upon his revisiting the old battlefield, 1993, accompanied by general An, about the battle and his old enemy (column on the left).

Strictly speaking, Lt.Col. Harold Moore was not the corresponding counterpart of Lt.Col. Nguyễn Hữu An, he was one of the three direct commanders in the battle, a battalion under Thomas W. Brown. Nguyễn Hữu An was then the division commander of the 325th. But history has brought the two man into one battle and a rendezvous aftermath. Battle of IaDrang was actually two main battles in an operation which lasted for one month (between American 1st division and VPA’s 320th, 33rd and 66th regiments). The main confrontations were at the X-Ray and Albany landing zones, between the 1st, 2nd, and 3rd battalions of the 7th cavalry regiment of the U.S army with the 7th, 8th, 9th battalions of the 66th regiment (and one company of the 33th regiment) of the VPA. Hence, in formations’ numbers, the two sides have equal forces.

Contrary to many many sources, Lt.Col. Nguyễn Hữu An did not have any advantages in power comparison, even in number of man. All his infantry battalions are light-armed units, with just some mortars. On the adversary side are air assault and air mobility cavalry units, with superior fire power support. From the air, an average number of 300 sorties per day was made, with all available air units in south Vietnam, and on land, field artillery came in heavy use. So the ratio here is at least 3:1 with the weaker is the Vietnamese side. Some sources give intentionally wrong information like: the landing troop of 400 man was surrounded by 4,000 soldiers, in fact, 4,000 was number in the whole area (not each individual landing zone), in the same way, we can say: two VPA regiments confronted with forces of the 1st division (a typical American division has at least 20,000 personnel).

The battle witnessed extreme uses of fire power: for the first time in history, strategic bombers B52 are used for tactical roles, air mobility by helicopters reached the highest level ever since the start of WWII. The VPA learned that they could neutralize the effectiveness of that fire power by quickly engaging American forces at close range, thus turned the battle into a close-quarter struggles with mainly knife, bayonet and other small arms. A series of well-planed ambushes turned the American situation to desperate. Finally, they know that they can not deny or hide an obvious defeat, then dropped napalm bombs to clear all vestiges, sacrificing all, including man of their own. This is known as one of the most savage battle and can be considered as microcosm of the whole war.

The American casualties is about 700, the Vietnamese is about 1100, a victory to Lt.Col. Nguyễn Hữu An in consideration to forces participated in the confrontation. The battle set up, for the first time, an example in which a modern Calvary division can be defeated (Calvary division was then a new concept of air assault and air mobility units, formed firstly in the Vietnam war). In fact, the battle is blueprint of tactics successfully anticipated by Lt.Col. Nguyễn Hữu An, many interesting details can be found in his memoir (all details, facts, formations, numbers, estimations… in this post can be confirmed by both 2 memoirs from the 2 sides). He is named: the General of Battles for his exceptional talent in tactical problems. The man is among only a few number of generals in Vietnam who truly gained respect from the people, not only for his success in military career but also for his righteous attitude toward history and moral principles he’s practiced in life.

⓵⏎ Hemingway’s words were true in the Spanish civil war, but it’s not true anymore in the Vietnam war. Even with talent and material, you still can not win it.

⓶⏎ The phrase: The forest of Screaming Souls may have been first introduced in the famous Vietnamese novel The sorrow of war by Bảo Ninh. The author (also the main character Kiên in the novel) was also a soldier in this B3 (Central Highland) front.

hiểu quá hương giang

十載掄交求古劍
一生低首拜梅花

 

高伯適 – 曉過香江

萬嶂如奔繞綠田
長江如劍立青天
數行漁艇連聲棹
兩個沙禽屈足眠
塵路悠悠雙倦眼
遠情浩浩一歸鞭
橋頭車馬非吾事
頗愛南風角枕便

Lâu không trở lại chủ đề thơ chữ Hán của Cao Chu Thần. Con người ông tính khí ngang tàng, tư tưởng xã hội chính trị không có gì mới lạ, nhưng văn tài thì đúng là lạ lùng. Một trường hợp nổi bật hiếm hoi trong cổ văn Việt Nam. Đôi câu thơ giáo đầu ở trên: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Mười năm giao du tìm bạn tri âm, khó như tìm cổ kiếm, Cả một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) vẫn thường được truyền tụng như chính cốt cách con người Mẫn Hiên – Cúc Đường vậy!

Hiểu quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên.
Kiều đầu xa mã phi ngô sự,
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Xin đọc thêm về thơ Cao Bá Quát trong những post trước của tôi: Trà giang thu nguyệt ca, Sa hành đoản ca, Trệ vũ chung dạ cảm tác.

the rain on the leaves

Some interesting recently – collected video documents: Phạm Duy with Steve Addiss on his song: Giọt mưa trên lá (the rain on the leaves) and Phạm Duy with the legendary Pete Seeger and the American folk song Clementine. Center image: the original poster of the song, and the original Vietnamese rendition (by the singer Thái Thanh) on the left.

Giọt mưa trên lá - Thái Thanh 
The rain on the leaves 
Steve Addiss & Phạm Duy

It’s not an abnormal thing to see church – music – influential songs like this to be the first to catch notices from Westerners (the Vietnamese – native pentatonic is harder to digest however). Indeed the song has been thought by some as a translation of a certain American folk song, which is absolutely not. The same is applied to several other Vietnamese songs, such as this Scents of Yesteryears, which easily touch the hearts of listeners outside VN.

ô ăn quan

Có 50 quân dân, và 2 quân quan, mỗi quan tương đương 10 dân. Người chơi có quyền chọn di chuyển theo hướng bất kỳ, những game Mancala khác chỉ được di chuyển theo một chiều nhất định.

Ăn quân ở ô kế tiếp trong lượt đi chứ không phải ở ô đối diện của đối phương. Khi đến lượt mình mà không còn quân để đi thì phải bỏ 5 quân đã ăn được vào 5 ô của mình để tiếp tục chơi. Trường hợp không có đủ 5 quân thì phải vay của đối phương và trả lại khi trò chơi kết thúc.

Trò chơi dân gian Việt Nam Ô ăn quan thuộc họ Mancala, có nguồn gốc châu Phi và có hàng chục biến thể khác nhau trên thế giới. Khi nhỏ, tôi có chơi trò này vài lần, gọi theo tên địa phương là Ô làng chứ không phải Ô ăn quan. Hôm nay thử nhìn cái game này dưới góc độ tin học xem sao! Ô ăn quan có một số luật khác với những game Mancala khác.

Những luật bên, nhất là luật thêm & mượn quân làm Ô ăn quan phức tạp hơn nhiều so với những biến thể Mancala khác. Viết một chương trình cho máy tính chơi Ô ăn quan không phải là quá dễ dàng, dùng những heuristic đơn giản (hill-climbing, min-max, hay brute-force đến một độ sâu nhất định…) không đủ bảo đảm máy tính sẽ thắng trong nhiều trường hợp.

Trên internet, tôi không tìm được game Ô ăn quan nào theo đúng luật Việt Nam. Một số là những biến thể gần giống Ô ăn quan, một số tác giả claim là đã viết Ô ăn quan nhưng không cung cấp được link download. Có vẻ như game này không dể như khi vừa mới nghĩ đến! Bạn nào có ý kiến về chiến thuật chơi game này xin được trao đổi để cùng phát triển một trò chơi hoàn chỉnh.

Bên đây là screenshot của một Java applet tôi vừa viết trong vài tiếng đồng hồ, cho phép 2 người chơi với nhau (máy tính chỉ kiểm luật, chưa phải là một chương trình cho máy tính chơi thực sự). Những hiệu ứng đồ họa: di chuyển quân, ăn quân nhìn rất giống thật, graphics được vẽ bằng Photoshop: những viên sỏi và bàn chơi được vẽ bằng phấn trên mặt sân xi-măng… gợi lại những kỷ niệm thủa nhỏ.

old house

自嘆年來刺骨貧
吾廬今已屬西鄰
殷勤說向園中柳
他日相逢是路人

Ngôi nhà này, tôi chỉ ở thường trực trong thời gian khoảng 3, 4 năm, nhưng trở lại thường xuyên mười mấy năm sau đó. Sơn trắng, ốp gạch đỏ, nền xanh, ngôi nhà thân thương này nay đã thuộc về người khác, giờ thì: tha nhật tương phùng thị lộ nhân – ngày sau gặp lại xem như người qua đường rồi! Những bức hình này (hơi mờ do scan từ ảnh giấy) đều được thực hiện bởi “phó nháy” danh tiếng Hồ Xuân Bổn (chủ tịch hội nhiếp ảnh tp. Đà Nẵng).

for whom the bell tolls

Men of five still alive through the raging glow.
Gone insane from the pain that they surely know.

(Metallica)

Excerpts from the 1943 film following Hemingway’s novel. In some aspects, this is a great film, highly symbolic and dramatical, beautiful staging and casting, but still nowhere closed to the book. So read the book here (zipped text file)! It’s said that Hemingway handpicked the actors and actresses himself for the roles, but he greatly disliked the film due to it’s political content removal.

Excerpt 1: The old guerilla man of El Sordo and his last four men make their last stand on a dead-end hilltop. They’re waiting for their fate to come, and the young Joaquin does the praying when the Russian machine gun barrel turns hot on his shoulder as the planes approach: Holy Mary, Mother of God, pray for us sinners now and at the hour of our death, Amen!.

…Dying was nothing and he had no picture of it nor fear of it in his mind. But living was a field of grain blowing in the wind on the side of a hill. Living was a hawk in the sky. Living was an earthen jar of water in the dust of the threshing with the grain flailed out and the chaff blowing. Living was a horse between your legs and a carbine under one leg and a hill and a valley and a stream with trees along it and the far side of the valley and the hills beyond…

Excerpt 2: Robert Jordan, severely wounded on the way retreat after the mission, says farewell to his lover María. He stays behind to cover the enemy for others to safely escape. The scene removes the detail of Agustín asks if Jordan need a shot or he can manage himself once left behind. Counting the last minutes of his life, in such moment, one can hear the bell tolling for his soul!

Lieutenant Berrendo, watching the trail, came riding up, his thin face serious and grave. His submachine gun lay across his saddle in the crook of his left arm. Robert Jordan lay behind the tree, holding onto himself very carefully and delicately to keep his hands steady. He was waiting until the officer reached the sunlit place where the first trees of the pine forest joined the green slope of the meadow. He could feel his heart beating against the pine needle floor of the forest.

Robert Jordan, as illustrated on this Vietnamese translate book cover, using a Lewis gun, or just called a mácquina as in the book.

songs for free men

…The reasoning behind his persecution centered not only on his beliefs in socialism and friendship with the peoples of the Soviet Union but also his tireless work towards the liberation of the colonial peoples of Africa, the Caribbean and Asia, his support of the International Brigades…

Listening to Paul Robeson’s album: Songs for free men… a very lovely basso profondo concert singer (he was one of the few true basses in American music), performing spirituals. Despite being a very famous and successful singer & performer, the man was kept under strict surveillance by US and UK governments for his international activities in Labor and Anti – Colonialist movements. It’s believed that he was unsuccessfully murdered by the CIA while in Moscow. He is now deserved a position in mainstream history by various posthumous recognitions.

The USSR anthem - Paul Robeson 

In the background video above (1945 victory parade in Moscow), Robeson presents the Soviet Union’s national anthem with a translated English lyric (let read the verses). I think, though it’s a very subjective idea, the song is the best anthem in the world, much more impressive than French’s La Marseillaise. The music’s still used as national anthem in Russia now, with a new lyric.

Don’t know why, but the music reminds me of spaces in the mesmerized text of Ernest Hemingway’s For whom the bell tolls (yet another American activist). As a child, I adored Hemingway’s writing style, and remembered many excerpts from his novel by heart, the spirits of International Brigades! The paragraph quoted on the left had been given a wonderful Vietnamese translation, it describes El Sordo’s final fighting on a hill, his thoughts on life and death, yet another picturesque Song for free men!

minesweeper

Two more hours of work and I’ve added this hexagonal tiles to my MineSweeper! Anyone interested in the game can found the tiny binary and source code (450 LOC) here. Mine sweeping with hexagons is quite a different experience! More about MineSweeper, a simple game?

On the left: Minesweeper with hexagonal tiles

virtualization

MineSweeper running in DOSBox

Click the demo page below (jpcapplet.jar – 1.8 MB in size), it would take some times to load, embedded in it is a DOS image (floppy.img) of a floppy’s size (1.4 MB). In Linux, using dd to create a blank image file, launch JPC app, mount the empty image, fdisk to give it a partition structure, format to give it a bootable FAT12 file system, copy the files over, edit autoexec.bat to have the game run at startup, and voila – there you are, the classic DOS game of MineSweeper on the web!

Beside is screen-shot of my very first programming, the classic MineSweeper, an exercise I did first year at university. After getting started with Borland C++ 3.1, I began to write numerous toys like this; small games, graphics, animation, 3D… are among the things I was very fond of. We still had not had Internet in Vietnam then, lacking of information, we’d reinvented many wheels, including a package for displaying 3D objects (in form of polygon mess), a complete GUI for DOS with window, menu, toolbar, all kinds of controls: combo, list, button… But as they say: don’t reinvent the wheel, unless you plan on learning more about wheels, the reason we did all that fun stuff.

Back to my MineSweeper, it’s tiny, about 350 LOC (Line Of Code), using BGI (Borland Graphics Interface), C/C++ and some ASM. Yesterday, just want to check the old source, but didn’t have a Windows machine at hand, I needed to run the Borland C++ 3.1 compiler on my Linux box. Wine is good for many Windows applications, but it simply won’t work with pure DOS programs. Then I found DOSBox, you start it up in form of a console, mount a directory in local file system, have BC 3.1 installed and compiles flawlessly, and MineSweeper runs well on this virtual DOS on top of Linux!

That’s some layers of virtualization, say I want more, I want to show MineSweeper on the web, but don’t want to make change to the code, or even to the compiled binary. Could it be possible? The answer is: YES! You would need JPC, a pure Java IBM-PC emulator, it runs where there is Java: x86, RISC, mobile phone… On top of it, you can run a bundle of different OS: DOS, Linux, Windows… Then comes the delicate distinction between virtualization and emulation, hardwares, softwares, all can be virtualized to some great extent. Imagine you would run some games & utilities on a virtual DOS (or Linux) running inside JPC, hosted in Firefox browser, which in turn runs on Windows (or Linux)!

JPC can only bring about 20% power of the native machine, and even a tiny game like this is overkill to it, and mouse functioning is really crappy too. But that’s suffice to demonstrate the idea, JPC could be improved I believe. More games would be added to this Web DOS console later on! Anyone still remember Tetris, Croix-Zero, Snake, Mario…? So, what’s the points for JPC? Demonstrating the fractal principles in hardware, software evolution? Too much “nostalgia” for the “good old days” – DOS games? Anything else or just reinventing the wheel? The answer may be so, but I love this idea of cultivating the past, and pop out new things for the future!

otp (one-time-pad)

OTP takes a security problem and changes it into a
distribution problem. Modern cryptography takes a
distribution problem and changes it into a security problem.

Chuỗi khoá được in trên một cuốn sổ bé xíu, để dễ cất dấu hay tiêu huỷ khi cần thiết. Mỗi lần mã hoá dùng một (hay nhiều) tờ trong cuốn sổ, những tờ đó sẽ bị huỷ sau khi dùng, do vậy mà có cái tên one-time-pad

Hình bên: một cuốn sổ OTP của KGB, được in trên giấy phim để dể cháy khi đốt

đĩa Vigenere

Tôi đến với Computer Science khá trể, nhớ lại hồi năm nhất đại học, khi lần đầu tiên học về toán tử XOR (bit-wise operator XOR), tôi đã nghĩ ngay đến phương pháp mã hoá đơn giản và hiệu quả: thông điệp cần gửi được XOR với một chuỗi ký tự ngẫu nhiên (chuỗi khoá), ở đầu nhận, người ta XOR chuỗi đã được mã hoá với chuỗi khoá lần nữa để giải mã thông điệp. Đây chính là biểu diễn máy tính của phương pháp mã hoá cổ xưa OTP (one-time-pad) được dùng từ thời đệ nhất thế chiến.

Lincolnshire Poacher (MI6 ?) 
Magnetic Fields (Deuxième Bureau?) 

OTP được các điệp viên CIA, KGB, MI6… dùng phổ biến trong hai cuộc thế chiến. Lý do thứ nhất là vì nó đơn giản: mã & giải mã chỉ cần dùng đến tính nhẩm (có thể dùng thêm bút chì và giấy), lý do thứ hai là nó rất an toàn. Tuy đã được dùng rất lâu từ trước nhưng mãi đến khoảng năm 1940, phương pháp này mới được chứng mình bằng lý thuyết về tính an toàn tuyệt đối của nó. Chứng minh được đưa ra đồng thời và độc lập bởi Claude Shannon (nhà toán học Mỹ, cha đẻ lý thuyết thông tin) và Vladimir Kotelnikov (viện sĩ khoa học Liên bang Nga, kỹ sư chế tạo rađa).

Mã & giải mã với OTP rất đơn giản, tương đương phép XOR, ta định nghĩa phép biến đổi như sau. Mã hoá = (text T(19) + khoá X(23)) mod 26 = Q(16). Giải mã = (Q(16) – khoá X(23)) mod 26 = text T(19), với 26 là kích thước bản chữ cái (phép XOR thực chất là phép cộng và modulo cho 2, với 2 là kích thước bảng chữ cái nhị phân: 0 & 1). Những người không giỏi tính nhẩm có thể dùng “thiết bị” sau (gọi là đĩa Vigenere), đĩa gồm 2 vòng giấy đặt đồng trục. Mã hoá text T với khoá X: gióng (xoay) vị trí [X] của vòng trong với vị trí [A] của vòng ngoài, tìm [T] tại vòng ngoài, ví trí tương đương [Q] tại vòng trong chính là kết quả. Giải mã là quá trình ngược lại: gióng [Q] của vòng trong với [A] của vòng ngoài, tìm [X] tại vòng trong, vị trí tương đương [T] tại vòng ngoài là văn bản gốc.

Có một cách sử dụng OTP đặc biệt gọi là chia xẻ bí mật (secret splitting), sau khi mã hoá, văn bản gốc bị huỷ thay vì khoá, sau đó khoá và văn bản mã hoá được đưa cho hai người khác nhau cất giữ. Chỉ khi hai người này cũng đồng ý nối hai “khoá” lại với nhau thì mới giải mã ra được văn bản gốc. Tương tự, có thể chia xẻ bí mật cho 3, 4,… người bằng cách sử dụng 2, 3,… khoá. Đây là cách bảo vệ các tài nguyên đặc biệt quan trọng, trách nhiệm bảo vệ đó được chia xẻ cho nhiều người, tuy nhiên lưu ý rằng nếu chỉ một phần của bí mật bị mất đi, thì bí mật đó cũng sẽ mất đi vĩnh viễn.

OTP là phương pháp mã hoá tuyệt đối an toàn nếu được sử dụng đúng cách, và là phương pháp tuyệt đối an toàn duy nhất cho đến thời điểm hiện tại. Văn bản được mã hoá với OTP không cho biết bất kỳ thông tin gì về văn bản gốc, ngoại trừ độ dài. Với một văn bản đã mã hoá cho trước, chúng ta có thể nghĩ ra các chuỗi khoá để “giải mã” nó về bất kỳ văn bản nào chúng ta muốn! Các phương pháp mã hoá mới sau này như DES (Data Encryption Standard), AES (Advanced Encryption Standard), PGP (Pretty Good Privacy), PKI (Public Key Infastructure)… tuy tiện dụng và có nhiều ưu điểm khác, nhưng về mặt lý thuyết không phải là không phá được. Nhưng trong sử dụng thực tế, có những lý do sau khiến OTP trở nên không an toàn:

  • Chuỗi khóa OTP không thực sự ngẫu nhiên (các nhân viên thư ký của KGB tạo ra OTP bằng cách gõ ngẫu nhiên lên máy đánh chữ, nhưng xu hướng gõ phím của tay người vẫn có những pattern nhất định).

  • Việc cất giữ và tiêu huỷ OTP có quá nhiều yếu tố rủi ro (đã có tình huống CIA giải được mã nhờ một cuốn sổ OTP đã bị đốt nhưng chưa cháy hết).

  • Mỗi trang OTP chỉ được dùng một lần (đã có lúc trong tình hình khẩn cấp, nhân viên KGB bất cẩn dùng một trang OTP cho nhiều lần mã hoá, dẫn đến việc CIA giải được khoảng 1% trong số những thông điệp gửi bởi KGB trong những năm 1945 ~ 1950).

Điểm yếu nhất của OTP nằm trong quá trình trao đổi khoá (key exchange), đó là một trong những lý do hình thành phương pháp public key rất tiện dụng sau này. Đến bây giờ, khi những phương tiện mã hoá và truyền thông đã quá hiện đại, người ta vẫn còn tiếp tục dùng OTP cho những kênh thông tin thuộc loại top secret (như đường dây hotline Washington DC – Moscow, liên lạc với tàu ngầm…) vì tính tuyệt đối an toàn đã được chứng minh lý thuyết của nó. Có thể kiểm chứng dấu vết của việc sử dụng OTP trong thực tế:

Các Number Station nổi tiếng bí ẩn, là những đài phát thanh không rõ nguồn gốc, phát trên băng tần sóng ngắn (shortwave) những bản tin toàn chữ số, được xem như những hoạt động tình báo của nhiều nước. Trên internet, những Numbers Relay Pages như nrp.write2me.com là hình thức mới của Number Station, cho phép mọi người gửi đi những thông điệp bí mật. Tất cả đều dưới hình thức những bộ 5 chữ số của mã hoá OTP (e.g: 41888 42037 89537 55295 14846 82981 63440…).

xăm hường

Xăm hường

Tứ sắc

Trò chơi ni người mô gốc Huế hay Hội An xưa thì mới biết: xăm (xâm) hường. Bi chừ không mấy ai còn nhớ và chơi trò ni nữa! Khi nhỏ, ba ngày Tết không gì vui hơn là đổ xăm hường hay gầy sòng tứ sắc (ba mẹ tôi còn nói chưa biết chơi tứ sắc thì chưa phải là người Huế). Trong các trò bài bạc “truyền thống” VN, miền Trung và miền Nam thường chơi tứ sắc và bài tới, ở miền Bắc hay chơi tổ tôm (hơi giống bài tới) và tam cúc (hơi giống tứ sắc).

Riêng ở một số đô thị cũ như Huế hay Hội An, bài giấy thì có tứ sắc và bài tới, bài thẻ thì có thêm xăm hường và mạt chược. Như người ta hay nói: đi xoè tức là đi đánh tứ sắc, đi xoa tức là đi đánh mạt chược. Tiếc là khi nhỏ tôi không được dạy bài tới và mạt chược, chỉ còn biết hai món ăn chơi chụp ảnh dưới đây.

Chụp lại ảnh bộ xăm hường của nhà post lên đây để bà con biết mặt mũi trò chơi thế nào (cùng với ảnh xáo bộ bài tứ sắc). Xăm hường gồm có: một thẻ trạng anh (trạng nguyên – 32 điểm), hai trạng em (bảng nhãn & thám hoa – mỗi thẻ 16 điểm), 4 thẻ hội nguyên (8 điểm), 8 thẻ tiến sĩ (4 điểm), và các thẻ con tương đương 1 điểm (tú tài), 2 điểm (cử nhân).

1 mặt tứ trên bộ xúc xắc ăn được quân một điểm, 2 mặt tứ ăn được quân hai điểm, 3 mặt tứ ăn được thẻ hội nguyên, 4 mặt tứ ăn thẻ trạng nguyên, 5 mặt tứ thì ăn cả 3 thẻ trạng, 6 mặt tứ (lục phú hường) thì ăn được tất cả các thẻ (kể cả thẻ đã thuộc về người khác). Đây được xem là tột đỉnh may mắn! Ngoài ra còn có các luật tứ tự (4 mặt giống nhau), ngũ tử (5 mặt giống nhau), lục phú (6 mặt giống nhau), phân song (2 nhóm, mỗi nhóm có 3 mặt giống nhau), và suốt (đủ 6 mặt 1, 2 , 3, 4, 5, 6) và nhiều luật lẻ khác…

Thức thâu đêm suốt sáng, tiếng của 6 hột xí ngầu leng keng leng keng trong lòng chiếc tô sứ, những song phân, nhất hường, suốt, giật trạng… những bất ngờ, hồi hộp như tiên đoán vận may trong năm mới…

thẩm oánh

Hãy nhìn lại một góc ngôi trường của chúng ta, cái sân lát gạch và những gốc vông đồng sau này đã được thay thế bằng sân xi-măng và những cây bàng.

Âm nhạc cải cách phải theo ý nhạc Việt Nam và phải có cảm tưởng thuần túy Á Đông. (Thẩm Oánh)

Ai cũng biết Thẩm Oánh là nhạc sĩ tiên phong của Tân nhạc, nhưng ít người biết dù là chút ít về ông. Wiki viết được đúng 1 dòng, thậm chí còn không giới thiệu được một sáng tác nào của nhạc sĩ. Trường cấp 2 của tôi, PTCS Trưng Vương, Đà Nẵng (trước 1975 là trường tiểu học Thánh Tâm), hàng năm đều kỷ niệm ngày truyền thống trường. Tôi còn nhớ lễ kỷ niệm 10 năm được tổ chức rất hoành tráng, có nhiều hoạt động văn nghệ, và Trưng nữ vương của nhạc sĩ Thẩm Oánh được dùng như ca khúc chính thức của trường.

Trưng nữ vương 
Nhà Việt Nam 

Bài hát này tôi còn nhớ mãi đến bây giờ, cùng với rất nhiều kỷ niệm khác dưới mái trường dấu yêu. Lũ học sinh chúng tôi được tập bài hát này nhiều lần, nhưng với nhạc cảm của tôi lúc ấy, tập mãi mà tôi cũng chỉ hát được một nữa bài. Ngay từ lúc ấy, tôi đã cảm nhận loại nhạc này khác hẳn với loại nhạc đỏ mà lũ học sinh dưới mái trường XHCN chúng tôi thường nghe và hát. Bài này so với: em mang trên vai màu khăn tươi thắm, bao niềm mơ ước tươi sáng ngày mai… hẳn không cùng một loại như nhau.

Là thành viên nhóm nhạc Myosotis cùng với Dương Thiệu Tước, nhạc sĩ Thẩm Oánh là thế hệ đầu tiên, là người có tuyên ngôn sáng tác rất rõ ràng về Tân nhạc. Ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thuộc các thể thoại hùng ca (như bài Nhà Việt Nam, một bài hát cho hướng đạo), tình ca, nhạc thiếu nhi và nhạc Phật giáo. Gia tài âm nhạc của ông có hơn 1000 bài, nhưng đến nay chỉ còn lưu truyền 5, 7 bài thi thoảng được vài người nhắc đến. Một phần vì tác giả hạn chế không phổ biến nhạc của mình (cái chữ nhạc tài tử thực chất là để “bao biện” cho quan niệm chung xem âm nhạc là “xướng ca vô loài”, phần lớn lứa nhạc sĩ tiên phong đều muốn gọi nó là thú vui tài tử hơn là nghề nghiệp thật sự). Phần khác vì nhạc của ông (ngoại trừ một vài bản hùng ca dễ hát dễ nghe) còn thì phần lớn không dành cho đại chúng, chỉ phù hợp với một lớp thính giả ít ỏi.

Âm nhạc của Thẩm Oánh có thể được mô tả bằng một chứ “hoà”: hoà điệu với thiên nhiên, hoà vào lòng người. So với Tân nhạc về sau, nhạc của ông có phần “đơn giản”. Tuy vậy, thứ nhạc “đơn giản” ấy mang tôi đi từ hết ngạc nhiên này đến thú vị khác… Điều tinh tuý trong âm nhạc Thẩm Oánh là sự hoà trộn của ngũ cung Việt Nam và ngũ cung Trung Hoa, cũng như cách chuyển hệ (métabole) giữa hai loại ngũ cung đó. Ông dùng ngũ cung Trung Hoa theo một cách gần như là vô thức, có lẽ thừa hưởng từ gốc gác người Hoa xa xưa (họ Thẩm) của mình. Hãy tìm nghe một số nhạc phẩm trữ tình của ông như: Toà miếu cổ, Khúc yêu đương, Xuân về… để cảm nhận dáng nhạc rất đặc biệt của Thẩm Oánh!

Một vài bìa nhạc Thẩm Oánh:

làn sóng xanh

Đạo đức, thịnh, suy, khôn, dại, hay dở đều hiện ra
nơi âm nhạc, không giấu được ai. Bởi vậy cứ lấy
âm nhạc mà nghiệm được một nước ra thế nào.

(Tuân Tử – Nhạc ký)

Cách đây chừng hơn 10 năm (1997) chương trình ca nhạc Làn sóng xanh (LSX) được khởi phát trên sóng radio Đài tiếng nói nhân dân tp. HCM (băng tần FM 99.9 MHz, 7h sáng mỗi Chúa nhật hàng tuần). Quãng thời gian ấy, đang còn là sinh viên, tôi thường chú ý lắng nghe chương trình này, và thêm một vài chương trình khác như Quà tặng âm nhạc hay Rock on the Radio. Bây giờ đã có nhiều phương tiện: băng đĩa, TV, internet, các show diễn, phòng trà… nhưng lúc ấy LSX là chương trình bình chọn âm nhạc danh tiếng đầu tiên, cùng với Đêm Trẻ là những sự kiện âm nhạc thu hút được nhiều khán thính giả.

Những Đêm Trẻ sôi động, tổ chức hàng tháng không cố định, lúc thì ở nhà Văn hoá Thanh niên, lúc ở sân khấu Mạc Đỉnh Chi, lúc lại ở công viên Lê Văn Tám. Cái tuổi sinh viên thời ấy của tôi rất hiếu kỳ, đêm nhạc Trẻ nào cũng chen chân đi xem cho bằng được (hình thức này gần giống như các Đại nhạc hội thường tổ chức trước 1975).

Tiếng trống paranưng (Trần Tiến) 
Vẫn hát lời tình yêu (Dương Thụ) 

Chương trình LSX lúc ấy mang lại nhiều điều mới mẻ cho công chúng yêu nhạc. Hầu như tuần nào cũng có một vài tác phẩm mới được giới thiệu, so với những Cô gái Sài-gòn đi tải đạn, Tiến về Sài-gòn, Mùa xuân trên tp. HCM… vẫn thường được phát trên các kênh thông tin chính thức thì đó quả là một điều mới mẻ. Cũng qua những dịp như thế này mà các “diva” Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam lên ngôi. Có thể nói đây là một bước ngoặt của âm nhạc Việt, một giai đoạn tạm gọi bằng cái tên “tình ca mới”, lấn lướt có hiệu quả ảnh hưởng của nhạc ngoại, nhạc Việt hải ngoại (không còn bao nhiêu sinh khí), nhạc tiền chiến (đẹp nhưng lỗi thời lỗi mode) và cả nhạc đỏ (quá văn công, văn nghệ).

Điểm qua một số tác giả, tác phẩm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thỉnh thoảng lại cho ra một bài mới, na ná nhau nhưng được bảo trợ bằng danh tiếng “cây đa, cây đề” của mình: Sóng về đâu, Tiến thoái lưỡng nan… Một số tác phẩm đặc sắc nhưng ít ỏi về số lượng: Dòng sông lơ đãng – Việt Anh (dáng nhạc Việt Anh đẹp, nhưng lời thì khá… lơ đãng), Gửi đôi mắt nai – Trần Minh Phi (bài này ý nhạc rất tốt). Lại có nhiều ca khúc mang cùng một air “lãng đãng xa vắng”: Có đôi khi – Lã văn Cường, Về lại phố xưa – Phú Quang và nhiều ca khúc về Hà Nội khác.

Nhạc sĩ Dương Thụ – cháu của NS Dương Thiệu Tước (Mặt trời êm dịu, Bài hát ru cho anh, Vẫn hát lời tình yêu, Cho em một ngày…), Thanh Tùng (Hát với chú ve con, Chuyện tình của biển, Hoa tím ngoài sân, Phố biển…) đóng góp khá nhiều ca khúc hay mang ảnh hưởng của đất Bắc. Hai anh em nhạc sĩ Bảo Phúc, Bảo Chấn với các ca khúc viết cho phim: Nỗi nhớ dịu êm, Nơi ấy bình yên, Bên em là biển rộng, Những nẻo đường phù sa… mang nhiều ảnh hưởng của phương Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Cường với những sáng tác mang âm hưởng Tây Nguyên, nhạc sĩ Phó Đức Phương với các thể nghiệm ca trù, ngoài ra cũng không thể không nhắc đến người đi tiên phong Trần Tiến, và nhiều nhạc sĩ khác…

Say mê với một đợt sóng âm nhạc mới, rất nhiều sáng tác hay được trình làng, nhưng tôi đã mơ hồ cảm thấy một số vấn đề. Đến khoảng năm 2001 (4 năm sau) thì đợt sóng đầu tiên qua đi, nhường chỗ cho dòng nhạc thị trường nhộn nhạo. Khi những Mr. Đàm Vĩnh Hưng, Mr. Đan Trường, Mr. Lam Trường… “lên ngôi” thì tôi bỏ không theo dõi LSX nữa. Quãng 4 năm sau nữa (2005), người ta hy vọng sự quay lại của đợt sóng “tình ca mới”, nhưng nó tương đối mờ nhạt không rõ nét (như khi Mỹ Linh cho ra đời Chat với Mozart thì cũng có nghĩa là nguồn sáng tác mới không còn dồi dào như trước nữa – cứ với “bước sóng” λ (lambda) = 4 năm một thế này thì chúng ta có quyền hy vọng năm 2009 này sẽ có một đợt sóng mới với nhiều hứa hẹn). Dần dần tôi hiểu ra LSX đợt đầu là tập trung thành quả sáng tác của khoảng 20 năm sau 1975, tất cả gia tài đã được giới thiệu, sau đó thì… hết vốn.

Tôi cảm nhận sự hụt hơi, hết vốn không phải từ số lượng bài hát mà từ chất lượng của chúng. Trong đợt sóng “tình ca mới” này, không nhiều bài hát mới mẻ về nhạc thuật, đa số chủ đề vẫn quay đi quay lại với cái “thời xa vắng”, các hướng khai thác mới (dân ca, ca trù, nhạc Tây Nguyên…) cho thấy sự tiêu hoá vội vàng những nền tảng này, phần nhiều vẫn là copy & paste dân ca dân nhạc, hướng nhạc ngũ cung hầu như không có bài mời nào. Tôi nhận ra những điều này rất sớm, cái bề sâu thật sự vẫn rất mỏng, (ảnh hưởng của chiến tranh, địch hoạ), dường như chúng ta chưa bao giờ sẵn sàng để có những khởi đầu mới.

Để kết ý: những sáng tác “tình ca mới” thật sự đã mang đến một bầu không khí khác cho sinh hoạt âm nhạc, sau bao nhiêu năm điêu tàn, nghèo đói, cũng đã đến lúc phải có những yếu tố mới mẻ. Nhưng cũng từ trong chính những yếu tố mới rất được chào đón ấy, tôi nhìn thấy sự thiếu chiều sâu không dể khắc phục một sớm một chiều.

mai hương


Sau Thái Thanh, Hà Thanh, ca sĩ pre75 tôi yêu thích nhất, không phải là Khánh Ly hay Lệ Thu mà là… Mai Hương. Điểm lại một chút tình hình âm nhạc trước 75, đây quả là thời kỳ “trăm hoa đua nở”: ngoài hoạt động ở các phòng trà, vũ trường, nhạc sĩ, ca sĩ thường được bảo trợ bởi các đài phát thanh, truyền hình. Ngoài ra băng đĩa cũng được phát hành với số lượng không nhỏ (tôi sẽ còn đề cập đến hoạt động thu âm trong một post sau).

Trương Chi (Văn Cao) 
Khúc hát sông Thao (Đỗ Nhuận) 

Mai Hương là con của hai nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ và Kiều Hạnh, là cháu gọi bằng cậu của Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) và Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), và cháu gọi bằng cô của Thái Hằng, Thái Thanh. (Ảnh trên: ban nhạc Tuổi Xanh, Mai Hương là cô con gái lớn đứng bên cạnh bố mẹ, click vào ảnh để xem phiên bản đầy đủ).

Cũng như Hà Thanh, Mai Hương là ca sĩ hát đài, chứ không hát phòng trà. Tuy không có những phẩm chất đặc trưng riêng như Thái Thanh hay Hà Thanh, Mai Hương có giọng hát thanh, tự nhiên như mây bay nước chảy (hãy thử nghe lại giọng ca Mai Hương qua tác phẩm Hoàng Hạc tịch dương).