river sailboats

Sail boats in the 60s, cut from a Vietnamese documentary. Bamboo mast, sail of a simplistic design, diagonally mounted rectangular – shape canvas, possibly river – only transportation, sail and oar boats.

very long boat

Một ví dụ thuyền đóng xong không xài được, hai chiếc thuyền thật dài màu xanh nhạt bỏ phế dưới chân cầu Phú Xuân từ nhiều năm nay (phải đến tận nơi xem mới thấy rõ thân thuyền bị vặn cong như con rắn). Thuyền đóng kiểu truyền thống Việt Nam không có sống đáy (ki – keel), lại quá dài nên khi xuống nước, thân thuyền bị uốn cong bởi chính trọng lượng của nó, cong nhiều ván thuyền sẽ xoắn, xoắn nhiều sẽ hở và vô nước.

Nếu chỉ dùng gỗ, không có các vật liệu hỗ trợ (sắt, thép…) thì thân thuyền dài tối đa chỉ khoảng 70m. Hải quân Hoàng gia Anh đã từng thử đủ mọi cách, nhưng vẫn không thể đóng được những con tàu gỗ dài hơn 70m có thể đi biển an toàn. Lại nói về hải hành của Trịnh Hoà, dĩ nhiên đó là những hành trình, khám phá lớn trong lịch sử TQ, nhưng mô tả những con tàu gỗ dài đến hơn 120m thì rõ là phóng đại quá mức.

sailing

Facebook nhắc ngày này năm trươcs, lần đầu gặp “em ấy”, ấn tượng vô cùng, 1 tay nắm dây lèo, tay kia cầm bánh lái, nhẹ nhàng và khéo léo điều khiển cánh buồm thoăn thoắt ngang dọc mặt sông, tốc độ so với thuyền chèo đúng là “kinh hoàng”, “tack” qua rồi “jibe” về, cắt đầu, vuốt đuôi nhiều thuyền lớn!

Từ đó biết thêm rằng có một thế giới “hào hoa” khác “chạy bằng gió”, nhưng cũng từ đó hiểu ra rằng “tôi và em” vốn dĩ thuộc về hai thế giới khác nhau, thế giới của tôi thật sự không có nhiều “lãng mạn” đến như thế, thế giới của tôi “chạy bằng cơm”, chậm rãi và khắc nghiệt hơn nhiều! :)

gold plated

Some where on the Cầu Hai lagoon, near Tư Hiền river mouth, Thừa Thiên Huế province, central of Việt Nam. Silhouette of a small bamboo – woven boat paddled by two man in a very scenic, gold – plated sunset.

xa – thư

讀萬卷書
行萬里路

Hoàng thành Huế, điện Thái Hoà, ngay bên dưới chiếc biển đề ba chữ “Thái Hoà điện” có khắc một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Tạm dịch: Đất nước ngàn năm văn hiến, Cơ đồ “xe và sách” vạn dặm, Từ sau họ Hồng Bàng dựng nước, Trời Nam lại thịnh trị như thời Đường, Ngu. Khái niệm “xa & thư” được sử dụng rất phổ biến trong văn thư chính trị cổ. Nhưng như thế nào là “xa & thư” – “xe và sách”!?

Xe (xa): dĩ nhiên ngày xưa là chiếc xe ngựa, dùng để chờ người, đồ vật, đồng thời cũng là chiếc chiến xa (chariot). Xem phim về thời cổ đại ở cả Đông lẫn Tây, cả ở La Mã lẫn Trung Quốc đều thấy một điểm chung là chiến xa phổ biến hơn chiến mã. Tại sao lại đi dùng một thứ phức tạp là xe ngựa, mà không đơn giản trực tiếp cỡi ngựa!? Có người lý luận một cách hoàn toàn sai lầm rằng văn minh nhân loại đã đi thụt lùi, từ việc sử dụng chiến xa thời cổ đại, sang dùng chiến mã thời trung đại.

Trong việc cỡi ngựa, phát minh quan trọng nhất là cái bàn đạp, đây được xem là một phát minh tuy đơn giản, nhưng làm thay đổi lịch sử nhân loại! Bộ yên cương, có thêm cái bàn đạp mới khiến kỵ sĩ có thể ngồi vững vàng trên lưng ngựa, điều khiển được ngựa một cách khéo léo, và quan trọng nhất là nhờ có cái bàn đạp mới có điểm tựa để sử dụng vũ khí: gươm, đao, thương… và nhất là có thể bắn cung một cách chính xác. Từ khi phát minh ra cái bàn đạp, nhân loại mới bỏ chiến xa mà dùng chiến mã.

Nhưng quay trở lại thời cổ đại, thì chiến xa vẫn phổ biến hơn là chiến mã, đơn giản là vì không có bàn đạp, kỵ sĩ chưa thể ngồi vững trên lưng ngựa. Thời cổ đại ở Trung Quốc, vua một nước nhỏ có thể có một ngàn cỗ xe, vua một nước lớn có thể có đến vạn cỗ xe. Chiến xa là thứ thể hiện sức mạnh và quyền lực của một vương triều. Người ta đánh giá sức mạnh của một vương quốc thông qua số chiến xa mà nước đó sở hữu, cũng giống như bây giờ chúng ta dùng các đại lượng GDP, GNP, etc… vậy.

Lại nó thêm về xe ở Trung Quốc, thời cổ đại, có hàng trăm vương quốc lớn, nhỏ, mỗi nước dùng một loại xe riêng, đóng theo những quy cách riêng: kích thước bánh xe, độ rộng trục bánh xe. Ở các cổng thành, người ta xây các trụ đá nhỏ làm vật cản, khiến cho xe của một nước có thể đi lọt qua cổng thành nước đó, mà qua nước khác lại không thể đi lọt. Việc mỗi quốc gia sử dụng “quy chuẩn” xe khác nhau thực ra là một cách phòng thủ, không cho xe đối phương đi vào nước mình quá dễ dàng.

Sách (thư): nếu như xe có hàng trăm quy chuẩn khác nhau, thì sách vở, chữ viết cũng vậy. Tuy đều là chữ tượng hình, nhưng mỗi nước lại có cách viết khác nhau, ví dụ cùng một chữ “kiếm” nhưng có đến hàng chục cách viết, tuỳ theo quốc gia, vùng miền. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc mới thống nhất tất cả các quy chuẩn: xe đóng theo cùng một kích cỡ, chữ viết theo cùng một lề thói, tất cả các đơn vị đo lường, các hình thức nghi lễ, áo mũ, âm nhạc cũng được thống nhất.

Nên có thể xem: Thư là kiến thức, Xa là kinh nghiệm, Thư là lý thuyết, Xa là thực hành, Thư là trừu tượng, Xa là hiện thực, Thư là tâm hồn, Xa là thể xác, Thư là tinh thần, Xa là vật chất, Thư là sức mạnh mềm, Xa là sức mạnh cứng… “Xa dữ thư – xe và sách” là hai mặt của một đồng xu, hai yếu tố chính yếu nhất để đại diện cho một nền văn minh. Chẳng phải xưa có câu: Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – 讀萬卷書行萬里路 – Sách: đọc ngàn chương, Đường: đi vạn dặm đó sao!?

cổ kính – tàn y

Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi!

M ột bài thơ cổ, tương truyền là của Ôn Như hầu – Nguyễn Gia Thiều, theo thể Thất ngôn Đường luật, tác giả thương khóc người vợ đã mất, trong đó có hai câu luận rất “đắt”: Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi. Tác giả muốn đập vỡ kính (gương) ra, để tìm bóng người yêu từng soi trong đó, rồi đành xếp manh áo lại, để giữ chút hương xưa còn sót của người đã khuất. Cổ thi mà ngôn từ, ý tứ như thế quả thật là quá mới lạ, táo bạo và cũng rất lãng mạn. Dù lời văn nghe có vẻ xưa cũ, “thơ tình” như thế này, ngay cả thời hiện đại dễ gì sánh được!?

Tình hoài hương - Thái Thanh 
Tình ca - Thái Thanh 
Cành hoa trắng - Quỳnh Giao 
Quê nghèo - Quỳnh Giao 
Nhớ người thương binh - Mai Hương 
Nương chiều - Mai Hương 
Thu chiến trường - Kim Tước 
Dạ lai hương - Kim Tước 
Chinh phụ ca - Hà Thanh 

Nhạc của Phạm Duy, với tôi cũng giống như là “cổ kính” và “tàn y”! “Dân ca VN”, xem như là một thứ đã mất, một người đã khuất, không mấy ai còn biết bóng dáng thế nào! Âm nhạc của Phạm Duy cũng giống như “cổ kính” – chiếc gương còn lưu giữ lại bóng dáng của người đẹp, cũng giống như “tàn y” – manh áo cũ còn lưu lại chút hương thơm của giai nhân, âm nhạc Phạm Duy còn lưu lại phảng phất hình bóng dân ca Việt. Về sau, muốn tìm lại bản sắc, e rằng cũng phải làm những việc “đập kính – xếp áo”, tìm lại sự phản chiếu trong âm nhạc của Phạm Duy vậy!

50 ca khúc hà thanh

T rong một số ca khúc (ví dụ như Nhạc sầu tương tư, Chinh phụ ca, Nụ cười sơn cước… toàn là những điệu dân ca phía Bắc) Hà Thanh hát dân ca một cách tự nhiên gần như là vô thức, không biết có phải một phần vì chất giọng Huế của bà hay vì điều gì khác!? Cái cảm âm, cái xử lý âm nhạc khéo léo của bà dường như là “vốn có”, không cần phải trãi qua quá trình học tập! Một giọng ca được đánh giá là gần gũi với đại chúng, không nặng về kỹ thuật, nhưng tự nhiên, dể nghe, dể thấm vào lòng người.



50 ca khúc kim tước

T ôi không nghe Kim Tước nhiều, không đủ để có một nhận xét “xác tín” nào ngoại trừ vài lời chung chung về một chất giọng cổ điển, chuẩn mực. Thế nhưng ở một số bài mà ngay cả Thái Thanh, Quỳnh Giao… đều không cảm, không diễn đạt được thì Kim Tước lại thành công như Thu chiến trường, Hướng về Hà Nội, etc… (nhất là những bài mang âm hưởng “dân ca cổ”). Với tôi như vậy là đạt, cảm dân ca thì có đánh bằng piano, violon cũng thấy được, mà không cảm thì dẫu có chơi bằng bầu, nhị vẫn biết ngay!



100 ca khúc mai hương

M ột chất giọng tự nhiên, nhẹ nhàng, trong sáng, không quá điêu luyện như Thái Thanh, cũng không quá sang trọng như Quỳnh Giao, nhưng cũng khó có thể kém hơn vị trí thứ 3 xếp sau 2 người vừa kể trên. Xem ra, gia đình họ Phạm Đình ấy sinh ra được 3 giọng ca nữ: Thái Thanh, Thái Hằng, Mai Hương (chưa kể những tài năng âm nhạc khác như Phạm Đình Chương, Phạm Đình Viêm, etc…) thực sự cũng đã là tập trung, hun đúc quá nhiều tinh khí tốt đẹp của đất trời vào cùng một nơi vậy!



lồng tiếng

Từ nhỏ đã “lập thệ”: cả đời không coi phim Hong Kong, Đài Loan, không coi “phim chưởng”. Nhưng cái “Anh hùng xạ điêu – 2003” này là do CCTV Bắc Kinh làm, không phải Hong Kong. Lời thoại kỹ càng, sâu sắc, tính cách nhân vật xây dựng công phu, đặc sắc, nhất là các vai Hoàng Dung và Hồng Thất Công, không có bừa bãi, hời hợt như kiểu phim Hong Kong.

Không nên xem phim lồng tiếng, nên xem phụ đề, vốn dĩ đám người Việt gốc Hoa thường lồng tiếng cho “phim chưởng” đó thực ra chẳng hiểu mấy về văn hoá Trung Quốc, “cổ văn” đọc ko thông, dịch 10 sai đến 8, 9 phần, lao nhao như 1 đám “chợ búa”, mất cả hứng thú, chẳng ích lợi gì! Xét về ngôn ngữ, văn hoá, phương Bắc vẫn luôn cao hơn phương Nam 1 bậc vậy!

100 ca khúc quỳnh giao

C hất giọng đẹp xếp ngay sau Thái Thanh, có lẽ là Quỳnh Giao, trong một số bản thu âm, thậm chí có phần còn ấn tượng hơn, có lẽ là nhờ kỹ thuật thu âm hiện đại. Và mặc dù đây đó, một số chỗ không hẳn là đã thực sự đạt đến mức tuyệt mỹ để có thể khiến cho ai ai cũng phải hài lòng, nhưng phải thừa nhận rằng Quỳnh Giao có một chất giọng sang trọng, tinh tế không sao tả xiết, phải chăng cũng là một chút dư âm, “vang bóng” cuối cùng mà dòng dõi Hoàng tộc Việt Nam còn lưu lại đến ngày nay!?


serene – 3, part 28

I took the kayak out for several more paddling around my area, 12 ~ 24 km, and also took a few video shots, mostly from second – person positions. I want to observe the whole boat under action, its motions and its wakes, etc… I also want to see how the rudder works, to check if the hull need some trimming, as well as to observe my own paddling movements. Actually, I’m very lazy for video capturing (and editing), they’re time consuming jobs, I’d better concentrate just on paddling.

I made a new seat from plywood, of a very simple design, composed of 3 pieces of ply bended into curved forms around a frame made from MDF. This batch of plywood is really good, no cracks, no breakages even though tortured to extreme shapes. The seat is bolted onto two “hip braces”, connecting the cockpit coaming and the floor, providing a comfortable seat, and together with the rudder pedals, offer a very tight fit for my lower body, required to control the boat in turbulences.

The overall evaluation for Serene – 3 is very satisfying, the boat behaves very well, and very predictable under different conditions. Its stabilities enable me to lean the boat to extreme angles without falling, and I really enjoy its agility, which reacts instantly to my different paddle strokes. The hatches are completely waterproof, the rudder has (more than) enough steering power, and the electric – bilge pump system works just fine. More trialling ahead on this Lunar new year holiday.

đoạn trường tân thanh

Haizzaa… ngày xưa, cụ Nguyễn Du chỉ vì say mê cuốn tiểu thuyết “ngôn tình” Đoạn trường tân thanh, loại “dâm thư” có tiếng của Tàu, mà viết nên Truyện Kiều, hậu bối ngày nay xem là áng văn chương tuyệt tác. Khá khen cho biết bao nhiêu thế hệ tài tử, văn nhân, cũng vì trí lực, ngôn năng có hạn mà đành phải vin vào loại thi ca nhàm chán đó. Chữ nghĩa tuy có đôi phần tài hoa, bay bướm, nhưng ý tưởng, thần thái, tựu trung than thân trách phận, yếm thế não tình, quả thật bỏ thì thương, vương thì tội!

serene – 3, part 27

Between the trials, I managed to complete a couple of things. First is to mount the compass, the tried – and – true type of compass used in all boats of the Serene series, this without an internal lighting. Then, I built another paddle, a simple one with rattan shaft, and plywood blades, a little bit bigger, weights at 1.1 kg, slightly heavier than the Greenland companion – my “storm paddle”, 0.9 kg. Still considered an Euro – type paddle, but with a smaller blade to resemble Greenland style.

As I sometimes need larger power faces to propel the boat under unfavorable conditions. The rudder control lines are modified to be more easily adjustable, see the second image below. The pedals are attached to small segment of chains, to adjust the tension, you simple move the shackle to another chains’ eye, this could be quickly done while you’re in the field. I also replaced the bungee cords holding the pedals back by 2 large steel springs, providing better “suspension”.

Just release one pedal and the springs would pull the rudder blade back to its neutral position. I added 4 tiny 3.7V LED bulbs (series wiring) to the electric box, in an attempt to indicate the batteries’ remaining capacity (as there’s no easy way to do so). This is a trick I learnt from experiences, when 1 or 2 of the LED bulbs won’t turn on, or their brightness is drastically reduced, you’d need to plug in the solar panel then! Not all works has been completed, but it’s time to clean up the workshop a bit!

serene – 3, part 26

Launch the boat today, first day of the year 2018! Took the kayak out to water on a sunny, breezy afternoon for a 12 km paddling, the temperature was around 25 ~ 27 Celsius, considered “cool” with this hot – all – around – the – year tropical climate. The short paddling is just to get some first impressions, to check if everything works, and how it feels, the new hull shape, something radically different from my previous boats. Yet all confirms things I’d known from the design phase.

The kayak is nimble and very predictable, probably not too agile compared to Serene – 1 and Serene – 2, it’s also a bit more stable across all its axis. It’s easier to get in and out of the cockpit with these stabilities. The rudder works nicely, changing course instantly with just some slight pedal kicks, though I’ve come up with some new ideas to improve the “fine – tuning mechanism” for the rudder control lines’ tension (the cleats used are fine, but not too convenient for adjusting the tension).

The rudder pedals offer very good seating position, together with the plastic seat (used for testing), fixing my lower body well to the hull. I would decide later whether to just use this plastic seat, or build another lower one to facilitate reentry actions. The hatches are absolutely water tight, an important criterion! The overall feeling is very satisfactory, yet more trials are needed, in different conditions, especially on rougher water, to really understand the capabilities of this new boat.

serene – 3, part 25

Almost ready for the water, but the tide is unfavorable for the weekend (its heights are at night), and the Tembin cyclone is crossing the East sea, threatening the area. So I take the time to complete a couple more things. Attaching the electric box through cable gland is quite straight forward, everything works out right, in essence the bilge pump and reed switch. I added one master switch to the electric circuit, in order to turn everything off and not to drain the 18650 batteries to exhaustion.

One critically important issue with the 18650 batteries is that, never used them to exhaustion, when the voltage drops below 1 ~ 1.5 V or so, the battery just becomes dead, you simple could just throw them away, a costly lesson the last time I hadn’t paddled for some weeks, and let the batteries run until dead . Next, I “refurbish” one of my old paddles to match the new boat style, turning it to black, and make it a bit stronger (and slightly heavier) with an extra layer of fiberglass.

The paddle was specially built from rattan and balsa wood, and is light enough already at 0.8 kg. I would try to use this paddle first, before deciding if it’s necessary to make an extra new one, weight and durability are two major concerns. Third image: a “smoke test” to verify if the bilge pump and the solar panel all properly works. Now wait out for a few more days before going to water, just some 10 ~ 12 km of paddling, to see how the kayak behaves, how everything would feel out there.

serene – 3, part 24

Gaskets fabrication: the critical thing in a hatch’s waterproofness is its gasket, and I realized that the best material for gasket is silicone: flexible, durable and offer a very good fit. And for a custom size and shape hatch, somehow I’ll need to make the gaskets too. It turned out to be pretty much easy, using the 2 – parts silicone available here on local market. You mix up component A to component B (catalyst, around 1 ~ 4 % by weight) and pour it into a mold, wait for about 2 hours, and it’s done.

1st image: the mold (cut from plywood) is filled with silicone, I use the “Silicone” (red bottle) spray as a mold release, it’s “strange” that silicone is used as a release agent also for silicone. 2nd image: the product, the O – ring released from the mold. 3rd image: the gaskets inside the hatch lids. The gaskets are 15 mm wide, 5 mm thick, and are pressed down to the hatch rings with those belt locks. I hope I would end up with excellent waterproofness, but let wait until “sea trial” to know better.

I reuse the bilge pump from my previous boat, it still sees very little use, the installation is quite straight forward using some cable ties fastening the bilge pump into its mount. The flexible water pipe leads to a hose right on the right side behind the cockpit, the hose is protected by a screw – in cap, to prevent water from leaking back into the boat when waves wash over the low aft deck. The bilge pump really offers lots of convenience and confidence when you are out there, in the roughness.

serene – 3, part 23

First image: the aft deck hatch, secured by 3 belt locks. These locks are usually found on your backpacks, and while they are a bit cumbersome to install, they offer quite some holding power and downward pressure, which is essential for the silicone gaskets inside the hatches’ lids to properly work (would mention about those gaskets in the next post). Similar locking for the forward hatch (2nd image). There’re 3 locks per hatch, so if one failed, the other two could still full – fill their duty.

Next, I installed the rudder pedals and control lines. 3rd image: the rudder in retracted position, 4th image: the rudder in its working position. Thank to the lessons learnt with my previous boat, I redesigned, rearranged every details so that the rudder actions now is very light, smooth, and balanced: kick the pedals lightly and the rudder would follow, release a pedal and the rudder would come back to its neutral position. All control lines tension could easily be adjusted from within the cockpit.

I lubricated with silicone grease all the moving parts of the rudder system, the pivoting points, the lines and pedals, and everything became much smoother. I’m very happy with the overall working of the rudder, though this is still in – dock testing, let see how they would behave while on water. Can’t wait for water trial yet, as there’re still much things to be completed, the bilge pump, the electric box, the hatches’ gaskets, the seat, cart, and a new pair of paddles, etc… still many jobs ahead.