down to earth

Trở lại không gian một thành phố hãy còn là tỉnh lẻ, hơn 1/4 thế kỷ trở về trước, một Đà Nẵng nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu. Hàng sáng cứ khoảng 4h là nhiều người dân lại đạp xe 10, 15 km đi tắm biển, bơi lội chán chê đến hơn 6, 7h mới về, chậm rãi ăn sáng rồi thong thả đi làm. Thành phố thời bao cấp, cũng chẳng có mấy công việc, tội gì phải vội!? Thế nên dân chúng giữ được thói quen tập thể dục đúng giờ rất lành mạnh! Một vài người đi bơi, mùa hè cũng như mùa đông, biển êm cũng như khi dông bão, dù trời lạnh cóng, họ vẫn bơi đều đặn hàng chục km mỗi sáng!

Một lối sống cực kỳ “xa xỉ” so với cuộc sống ở Sài Gòn thời bây giờ: mở mắt ra là kẹt đường đầy xe, khói, bụi, chen lấn, dẫm đạp, chửi bới nhau, thời gian ăn sáng chưa chắc có, nói gì đến việc đi bơi 1, 2 tiếng mỗi sáng? Đúng là thói quen “xa xỉ”, đúng là đồ “dở hơi biết bơi”, chỉ có dân “thượng lưu” mới có điều kiện như thế! Tôi vẫn thường luôn nhớ về những tháng ngày xa xưa ấy, những gì rất cơ bản, rất sơ đẳng, tạm gọi là “down – to – earth”, sống gần mặt đất! Những thói quen có ích cho sức khoẻ thể chất và tinh thần, nó tạo ra những con người rất tough – rất cứng!

alma mater mea

Bắc hành 2017 p4

Sitting in the sandpit, life is a short trip… It’s so hard to get old without a cause. Youth’s like diamonds in the sun, and diamonds are forever…

Sơn Trà, chỉ là bán đảo nho nhỏ, đường vòng quanh chưa đầy 60 km. Những năm cấp 2, bọn tôi thường rong chơi ở đây: leo núi, băng rừng, cắm trại, tắm biển… Khi đó chưa có đường nhựa như giờ, chỉ là đường mòn rộng chừng 0.5m làm năm 1979 để đưa pháo cối ra đặt ngoài đó (đề phòng Trung Quốc đổ bộ đường biển). Đến giờ, tôi lờ mờ hiểu ra rằng, đã có những người dành cả đời để bảo vệ một đám xanh nhỏ nhoi như thế, và cũng sẽ có những kẻ tìm cách phá hoại bằng mọi giá.

Tạm dịch: (từ lúc còn) ngồi trong “hố cát”, (đến giờ) cuộc đời chỉ như một chuyến rong chơi ngắn. Thật khó để già đi mà không cho ta một lý do nào. Tuổi trẻ long lanh như kim cương trong ánh nắng, mà kim cương là mãi mãi… Hố cát (sandpit) là cái ô chứa cát ở vườn trẻ, làm để cho trẻ nghịch phá, đào bới, chơi đùa. Dễ có mấy chục năm, hôm nay mới trở lại cái “hố cát” tuổi thơ tôi, nguyên một vùng bán đảo Sơn Trà tuyệt đẹp, cái “hố cát” của một thời nghịch phá, vẫy vùng, mơ mộng.

somewhere out there

Hồi trẻ, có trò hay chơi là trồng chuối hít đất (chống đẩy). Trò này tôi rất “tự hào” vì trồng chuối nhiều người làm được, nhưng trồng chuối hít đất: hạ xuống từ từ cho đỉnh đầu chạm đất, rồi lại nâng thẳng tay lên, cứ thế 15, 20 lần, rất ít người làm được vì siêu khó, cần phải có cơ tay và vai rất khoẻ, không tin cứ thử làm xem, ngã gãy cổ đừng trách!

Bây giờ, sau 20 năm, không tài nào làm được như thế nữa (các bạn hẳn đã rất chán tôi luôn kể chuyện… ngày xưa, bao giờ cho đến ngày xưa!?) Chỉ một bức hình thoáng qua là bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu trò đùa vui, xông xênh của tuổi trẻ hiện về! Ở một nơi nào đấy ngoài kia, “somewhere out there”, vẫn có một chiếc thuyền neo đợi ta bên bờ biển!

âm nhạc đêm khuya

Thích nhất đơn giản là đệm piano đơn độc, rải rải… Một cụm 3 bài: Còn gì nữa đâu, Đường em đi, Đừng xa nhau, như kiểu 3 bài tập nối tiếp nhau, sáng tác sau khi nhạc sĩ Phạm Duy đi học nhạc lý hơn một năm ở Pháp, học chung lớp với GS. Trần Văn Khê. 3 khúc nhạc thể hiện rõ cái “phương pháp lý luận” ông được học: sử dụng variations, điệp khúc và biến thể.

Sau khi tiếp thu một mớ nhạc lý và làm một mớ bài tập thì, nhạc sĩ Phạm Duy… bỏ học, quay về VN (như lời ông nói: để sống kịp theo diễn biến của thời đại, theo kịp hơi thở của cuộc sống), để làm nhạc theo bản năng và trở thành người nhạc sĩ sáng tác vĩ đại! Còn cái anh học trò chăm chỉ Trần Văn Khê kia thì trở thành… giáo sư nghiên cứu âm nhạc! :D

thương nhớ mười hai

Nhớ hồi 4 năm ĐH, chiếc xe đạp cà tàng đụng vào đâu kêu đó: yên xe cọt kẹt, xích líp nhộn nhạo, đùi đĩa lắc cắc, cả cái xe đụng đâu kêu đó… duy có một cái đụng vào không kêu tiếng nào… là cái chuông!

binary chemical weapon

Haizzza, đây chẳng phải chính là loại độc dược 2 thành phần (binary chemical weapon) mà năm đó, tại Lục Liễu sơn trang, Triệu Mẫn quận chúa đã dùng để ám toán (không thành công) Trương giáo chủ Vô Kỵ ca ca và các huynh đệ Minh giáo đó sao!? Thủ pháp thật là vi diệu, 2 thành phần để riêng lẻ thì không có độc tính, không thể dò tìm ra được, lúc phối hợp lại với nhau mới phát tác. Muốn biết sự tình sao lại có thể xảo diệu đến như thế, xin hãy đọc Ỷ Thiên Đồ Long ký, chương 41 & 42 sẽ rõ!!!

thương nhớ đồng quê

Chăn trâu đốt lửa trên đồng, rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều. Mải mê đuổi một con diều, củ khoai nướng để cả chiều thành tro – lại nhớ 3 cái Tết ở Đồng Văn – Đi ra rồi lại đi vào, quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ!

bến my lăng

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.

Từng có một “xứ Nẫu” “như thị ngã văn” – như là tôi biết, hoàn toàn khác biệt, cũng chẳng phải “hoa vàng trên cỏ xanh”, so với trí nhớ thời trai trẻ của chính mình cũng đã khá là xa cách tịch liêu, mà trong mắt giới trẻ bây giờ chỉ e rằng là một viễn tượng như cổ tích…

Russian Victory Day Parade 2018

Như thông lệ, ngày này hàng năm, gấu Nga lại khoe cơ bắp! Năm nay đặc biệt khoe người ít, khoe vũ khí nhiều. Quảng trường Đỏ với 2 nhà thờ Kazan và Basil nằm ở 2 đầu dường như đã trở nên quá chật hẹp để khoe những dàn vũ khí, khí tài “khủng”, một số là những loại “sử dụng các nguyên tắc vật lý mới”, “độc nhất vô nhị trên toàn cầu”. Stalin từng ra lệnh phá dỡ cả 2 nhà thờ Kazan & Basil, lấy chỗ rộng rãi để duyệt binh. Các kiến trúc sư thời đó đã cố gắng hết sức nhưng chỉ cứu được 1 trong 2, bằng cách biến Basil thành viện bảo tàng…

Cách duy nhất có thể cứu một công trình tôn giáo khỏi bị phá huỹ trong cái thời khắc nghiệt đó. Kazan mới được xây dựng lại như cũ sau này. Phần lễ, nhạc đã được rút ngắn đáng kể so với thời Sô-viết. Nhưng cũng là cái giọng đọc “basso profondo” (giọng nam siêu trầm) đó, giống y như của Yuri Levitan, phát thanh viên radio nổi tiếng thời WW2, chất giọng đầy uy lực, dể dàng khiến người ta lạnh gáy: “Vnimanie, vnimanie, govorit Moskva…” – “Chú ý, chú ý, Mát-cơ-va đang nói…”

chiều về trên sông – 1

Chiều buông trên dòng sông cuốn mau, thương đời thương lẫn nhau trong chiều. Về đây bọt bèo muôn khắp nơi, vui buồn cho có đôi không nhiều…

Cách đã vài tháng, có dịp thử cái “máng heo” – thuyền buồm nhỏ Optimist này trên một đoạn sông Sài Gòn gần An Phú Đông, quận 9. Một chiều gió rất nhẹ, vừa đủ để chiếc xuồng nhẹ nhàng chậm rãi lướt đi…

Chiều về trên sông - Thái Thanh 
Chiều về trên sông - Quỳnh Giao 

chuyện cái mo cau

Đã vài thập niên về trước, những làng quê miền Trung nghèo khó, cái mo cau có một công dụng ít người biết và còn nhớ đến… đó là thay giấy. Những ghi chép, khế ước trong thôn xã, hợp đồng, cam kết giữa hai đối tượng dân sự, cứ lấy mo cau mà viết và ký tên lên đó. Nhiều khi kiện cáo ra uỷ ban, cầm cái mo cau đi làm chứng cứ. Chuyện vẫn chưa xa, giờ nghe bàn cách mạng công nghiệp 4.0 cứ như… vịt nghe sấm!

đồng đen, 1

Nhân có người “bạn” nhắc về “đồng đen”… Haizza, đã là thế kỷ 21 rồi mà dân tình vẫn như thời Trung cổ, cứ mơ mơ hồ hồ, để cho bao nhiêu trò bịp bợm sơ đẳng lộng hành. “Đồng đen” là gì thì chưa bao giờ có định nghĩa rõ ràng. Nhưng trong những gì người ta biết về các loại hợp kim đồng (copper alloys) thì có 2 thứ sau có thể xem là “đồng đen”:

  • Shibuichi là hợp kim 3/4 đồng với 1/4 bạc, có màu đen tuyền tự nhiên rất đẹp (hình dưới, bên trái).

  • Shakudō là hợp kim đồng với khoảng 4~10% vàng, tự nhiên có màu vàng đồng. Đáng lưu ý là Shakudō thường được xử lý bề mặt bằng các loại hoá chất để tạo nên nhiều màu sắc khác nhau, từ vàng đồng đến màu đen tuyền (hình dưới, bên phải).

Ngày xưa, ở khắp các nước Á Đông: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, etc… Shakudō thường được dùng để đúc chuông, vì nó cho màu đẹp và tiếng hay. Cả 2 loại hợp kim trên đều quý vì chứa hàm lượng bạc, vàng kha khá. Nhưng chỉ như thế thôi, ngoài ra chẳng có thuộc tính “siêu nhiên” gì khác như những trò “ảo thuật” của bọn bịp bợm!


nồi đồng

Ký ức tuổi thơ – ai đã từng ăn cơm nấu trong những chiếc nồi đồng như thế này!? Loại nồi này chỉ được sản xuất trước năm 45, nên nếu có thì tối thiểu là từ đời ông bà để lại. Nồi được đúc bằng đồng, khá dày và nặng, dáng bầu tròn, rất khó múc cơm và cọ rửa, nhưng cũng do cấu trúc bầu tròn mà nhiệt lan toả đều cả bên trên và dưới nên rất ngon cơm.

Những cái “garde-manger” – chạn, tủ đựng đồ ăn bằng gỗ, 4 chân kê trên 4 chiếc bát nước nhỏ nhằm ngăn kiến và riện leo lên. Quá khứ và ký ức phải trôi qua, cuộc sống là phải đi lên phía trước. Nhưng đôi khi vẫn có cảm giác rằng, trong “tâm hồn” và “văn minh” Việt, chúng ta vẫn đang sống tối tăm, lạc hậu như trong một “thời đại đồ đồng” (bronze age) xa xưa…

vạc đồng

Hình chụp cách đây hơn 20 năm, sau lưng điện Thái Hoà, Huế (chụp bằng máy cơ, thời chưa có máy ảnh kỹ thuật số). Ngày trước, hai bên mỗi cung điện lớn trong Đại Nội đều có bày một vài đôi vạc đồng thế này, loại lớn nhất đường kính đến 2.2m, nặng đến hơn 1.5 tấn, có thể chứa được 3, 4 khối nước. Xưa giờ vẫn nghĩ đây chỉ là đồ vật mang tính lễ nghi, trang trí.

Giờ thì biết nó có một công dụng khác rất thực tế, hiển nhiên… là chứa nước cứu hoả! Cung điện xưa xây phần nhiều bằng gỗ, thường dể bị cháy, cần có nước ngay bên cạnh để “phản ứng nhanh”, nếu vận chuyển nước từ các giếng, hồ, ao gần đó thì không kịp. Cái này biết là do xem film cổ trang Trung Quốc… Ngày xưa, kiểm tra thấy vạc không có nước là thái giám bị phạt!

điện ảnh

Căn bản, cách làm phim của Trung Hoa đại lục và Hồng Kông, Đài Loan rất khác nhau. Với Đài Loan, HK, diễn viên thường được chọn từ các cuộc thi sắc đẹp, dĩ nhiên là có ngoại hình. Còn ở Đại lục, đa số diễn viên, nhất là các thế hệ đầu, và đến tận bây giờ, thường chọn ở các đoàn ca kịch: Kinh kịch, Bình kịch, Xuyên kịch, Tương kịch… Các thể loại Kịch đại lục có bề dày lịch sử lâu đời, công phu đáng nể, diễn viên không chỉ học diễn xuất, mà còn học vũ đạo, võ thuật, nhiều trò tạp kỹ, và nhất là văn thơ cổ. Nên về ấn tượng ngoại hình, trang phục thì HK, Đài Loan có thể có chút ưu thế, nhưng về chiều sâu văn hoá, tâm lý, thì không thể qua mặt Đại lục.

Thế nên mới có chuyện “diễn vai nào là chết vai đó”, nhiều diễn viên cả đời chỉ đóng một vai: Hoàng hậu (độc ác), Hoàng thượng (lăng nhăng), Phi tần (hiền từ), Hoàng thái hậu (ba phải), Công chúa (nghịch ngợm), etc… Đó là mô thức truyền thống của Kịch nghệ, vốn đã chuyên sâu như thế, có giỏi đến đâu cũng khó lòng vượt qua. Làm phim hiện đại căn bản là nhiều chiêu trò nhảm nhí để lôi kéo khán giả. Nhưng đại lục làm phim, luôn luôn lồng ghép trong đó nhiều văn hoá cổ, phải là người dụng tâm tinh tế mới nhận ra và thưởng thức được, đôi khi là những chi tiết rất nhỏ, ví dụ như nghệ thuật cắt giấy trang trí cổ truyền TQ trong hình dưới đây.

ban chỉ

班指

Xem phim kiếm hiệp, cổ trang thường thấy một loại nhẫn khá lớn, đeo ở ngón tay cái, thoạt tiên nghĩ đó là một loại trang sức, nhưng thấy có điểm không ổn, vì ngón tay cái làm rất nhiều việc, đeo chiếc nhẫn lớn như thế rất vướng víu. Suy nghĩ và “google” một lúc thì biết đó không phải là chiếc nhẫn, tiếng Trung gọi là: ban chỉ – 扳指. Nguyên thuỷ là dụng cụ để kéo cung, bảo vệ ngón tay khi phải giương những chiếc cung to và nặng, nhất là khi phải bắn nhiều phát liên tục.

Dần dà, với những nhà quyền quý, công cụ này trở thành vật mang tính chất trang sức, biểu tượng, không còn tính thực dụng ban đầu, và được làm bằng những vật liệu quý như vàng, ngọc. Trích đoạn phim: Kỷ Hiểu Lam kiến nghị mắt đã khỏi bệnh, có thể phục chức làm quan, Càn Long chưa muốn KHL trở lại, làm bộ kiểm tra mắt, đưa bàn tay ra hỏi có bao nhiêu ngón (指-chỉ-ngón tay). Dĩ nhiên là câu đố mẹo này lừa được KHL vì CL đếm có 6 ngón (chỉ), kể cả cái “ban chỉ”!

thò lò

Công cụ hiện đại khiến cho ai cũng có thể trở thành “nhà ngôn ngữ học”, đôi khi cũng muốn tập làm một “cụ An Chi”, người phụ trách chuyên mục “Chuyện đông chuyện tây” trên bán nguyệt san “Kiến thức ngày nay” một thời đã khá xa xưa. “Thò lò” – 陀螺, âm Hán Việt đọc là “đà loa”, “đà” tức là quán tính, “loa” là con ốc.

Để rõ hơn, mở trang translate . google . com, nhập 陀螺 và bấm nút phát âm, nghe hầu như là giống âm Việt “thò lò”. Vậy đã rõ “thò lò” trong thành ngữ “quay tít thò lò” nghĩa làm sao (con quay, con vụ). Và cũng có thể đoán thêm, từ này du nhập VN mới sau này, nên âm đọc của nó gần với âm Bắc Kinh hiện đại hơn là âm Hán Việt cổ!

phí & giá

Dĩ nhiên không nên đổi “học phí” thành “học giá”. Về mặt từ nguyên mà nói: giá (): giá cả, hầu như là quy thành tiền, phí (): khoản hao tổn, không nhất thiết có thể quy thành tiền. Ngày xưa, đi học chữ với thầy, ít khi phải trả bằng tiền, thầy thời xưa thường được đền đáp bằng tiền, gạo và nhiều dạng lễ vật khác, vì nhiều lý do khác nhau. Một mặt, người ta không muốn biến nó thành một giao dịch thương mại thẳng thừng.

Mặt khác, muốn biến nó thành một món nợ ân tình, mà tình nghĩa thì có cách hoàn trả khác biệt. Ngày nay, đi học chữ với thầy, không nhất thiết chỉ cần tiền. Còn phải nói ngon nói ngọt, dẫn thầy đi nhậu, vận động từ hành lang cho tới tận đâu, hao phí rất nhiều công sức! Nên nói “phí” nó nặng hơn “giá”, không thể quy thành tiền được. Dù là hiểu theo nghĩa nào, xưa hay nay, thì “phí” nó vẫn khác với “giá”, đâu cần phải đổi!?

quy khứ lai, 5

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Phải mất rất lâu Thư Triệt mới chấp nhận được điều này, dù anh ta đã luôn phản đối phương cách hành động và làm ăn của cha mình từ rất sớm. Và cũng phải mất rất lâu nữa Thư Triệt mới vượt qua được ranh giới giữa yêu thương và thù hận để trở lại với Tiêu Thanh, cô gái mà anh thực sự yêu. Về phía gia đình Mậu Doanh, vốn chỉ đơn thuần kinh doanh, không có xu hướng chính trị, họ chấp nhận điều này dễ dàng hơn, và vì thế, tình bạn giữa Mậu Doanh và Tiêu Thanh nhanh chóng được nối lại. Sâu bên trong, tất cả đều hiểu rõ những nguy cơ tiềm ẩn trong cung cách làm ăn của xã hội Trung Quốc, và tất cả đều hướng đến những phương pháp minh bạch, thượng tôn pháp luật mà họ đã học được ở Mỹ.

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Tình cảm giữa Ninh Minh và Mậu Doanh vốn dĩ là điều đến sau, không phải là cái mà người ta thường cho là “trời sinh hoàn hảo”. Mối quan hệ đó chứa đựng rất nhiều điểm khác biệt, rất nhiều điểm không thực sự “ăn ý”, căn bản xuất phát từ gốc gác, tầng lớp xã hội khác nhau của họ. Ninh Minh tôn thờ Mậu Doanh như một “công chúa”, nhưng anh ta không phải đã thực sự hiểu hết những điểm tế nhị trong tâm tư của cô gái này. Còn Mậu Doanh trời sinh đã là “quý tộc”, cô ấy có tầm nhìn và sự nhạy cảm của một người thuộc tầng lớp cao, cô ấy cảm động với sự kiên trì và tận hiến của Ninh Minh và do đó tiếp nhận tình cảm của anh ấy. Căn bản giữa hai người là tìm kiếm và chia xẻ với nhau những điều khác biệt.

Còn giữa Thư Triệt và Tiêu Thanh, mối quan hệ được phát triển theo một hướng khác, không phải tìm kiếm những điều khác biệt, mà ngược lại, chia xẻ những chí hướng, những giá trị chung. Căn bản Thư Triết quá cứng rắn với những nguyên tắc, giá trị sống của mình, khó lòng tìm được ai chấp nhận được sự cứng rắn quá độ đó. Chỉ có Tiêu Thanh cũng chia sẻ những giá trị đó, nên họ mới có thể cùng đi trên chặng đường đến với nhau. Những người xem phim sẽ nghĩ rằng cả hai câu chuyện tình yêu đó đều có một chút dáng dấp của câu chuyện Cô bé Lọ Lem – Cinderella, khi hai người thuộc hai tầng lớp xã hội rất xa nhau lại đến được với nhau, nhưng thực ra, kịch bản phim không hề nhấn mạnh về điều đó!

Cái tâm lý bất ổn thường trực thường thấy trong những xã hội Á Đông không phải là một yếu tố mang tính “tạm thời”, ngược lại, nó mang tính “di truyền”, con người ta phải chuẩn bị cho mình nhiều giá trị khác nhau, đề phòng những biến đổi khác nhau trong cuộc sống. Chính vì thế nên mới có chuyện trong một xã hội rất coi trọng hôn nhân “môn đăng hộ đối”, thì tình yêu thật sự chân thành lại phá vỡ, đi ngược lại hoàn toàn cái quy ước xã hội đó. Những con người từ các giai tầng xã hội rất khác nhau lại đến được với nhau, cơ bản cũng vì họ tìm thấy trong người kia những giá trị sống mà họ không có, điều đó được tính như một giải pháp dự phòng, khi những điều kiện chính trị, xã hội thay đổi hay đảo lộn!

Phim hay không phải chỉ vì nó phản ánh được khoảng cách lớn giữa các thế hệ già trẻ, sự khác biệt rất lớn giữa cung cách vận hành của các hệ thống xã hội, các hệ thống pháp lý, luân lý khác nhau. Phim còn rất hay ở chỗ miêu tả chi tiết những khó khăn của lớp người trẻ chật vật tìm lối đi riêng cho mình, những vấn đề rất hiện thực, sống động. Giới trẻ, đối diện tình yêu và vô vàn những mối quan hệ xã hội phức tạp khác, những trăn trở băn khoăn về giá trị của cá nhân và giá trị của cộng đồng, những suy tư, toan tính trong học hành và khởi nghiệp. Những so đo trong tình bạn, tình yêu, những mâu thuẫn, đấu tranh giữa nguyên tắc công bằng chung và lợi ích cá nhân riêng tư, tất cả đều được minh hoạ rất rõ.

Những bạn trẻ Trung Quốc, họ nhìn nhận thực tế và có rất nhiều suy nghĩ, băn khoăn với nó! Phim thừa nhận thẳng thắn rất nhiều vấn đề hiện hữu với hệ thống chính trị, pháp lý và kinh doanh của Trung Hoa lục địa. Và mặc dù văn hoá Mỹ bị “phê bình” khéo ở một số điểm, hệ thống luật pháp Mỹ được đề cao và thắng thế tuyệt đối! Phim đặt ra nhiều câu hỏi về giá trị của cá nhân trong cuộc sống, đâu là những “tố chất” mà chúng ta cần, đâu là những “phẩm hạnh” phải có để xây dựng tình yêu và lòng tin. Khác biệt nằm ở chỗ, các bạn trẻ Trung Quốc thẳng thắn đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời, chứ không chết chìm trong những vấn đề tủn mủn, lặt vặt, muôn thủa không thể tự giải quyết được như trong xã hội Việt!

quy khứ lai, 4

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Nhiều khán giả xem phim sẽ nhận định, nhân vật như Ninh Minh căn bản là rất khó có thể có thực. Yêu đơn phương một người suốt 4 năm đại học, âm thầm dõi theo người ấy suốt nhiều năm sau đó, không hề có một lời bày tỏ, không trông mong hồi đáp. Vì với anh ta, tình yêu là một hành động “self – completion”, yêu để tự hoàn thiện mình, yêu tự nó đã là hạnh phúc, không cần phải có một kết cục rõ ràng nào. Nhưng tôi biết Ninh Minh là hoàn toàn có thật, trong số những người bạn của tôi, cũng đã có những mối tình câm lặng suốt 4 năm đại học, rồi lại tiếp tục đau khổ, trăn trở cả chục năm tiếp theo. Mậu Doanh, Ninh Minh làm tôi sống lại những năm tháng tuổi trẻ của mình, vì chính tôi cũng đã từng như thế!

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Tiêu Thanh, người cùng học tại Đại học Stanford với các nhân vật nêu trên, có xuất thân gia đình cũng không mấy khá giả. Bố Tiêu Thanh là một công tố viên liêm chính, luôn nói không với những món tiền hối lộ, hoàn cảnh bắt buộc Tiêu Thanh phải làm rất nhiều việc để tự kiếm tiền trang trải cuộc sống. Đã có rất nhiều tai nạn cũng như hiểu lầm xảy ra, cũng như khoảng cách giàu nghèo làm cho tình bạn giữa Tiêu Thanh, Mậu Danh và Thư Triệt phát triển rất chậm chạp. Tuy vậy, qua nhiều ngã rẽ khó khăn của cuộc sống, họ dần nhận ra giá trị trong nhau và phát triển những tình bạn bền vững. Tiêu Thanh mơ mộng về một tình cảm với Thư Triệt những không dám thổ lộ, vì vẫn còn đó tình bạn với Mậu Doanh.

Một cá tính có phần nguyên tắc thường thấy ở những người học luật, Tiêu Thanh không muốn phải sứt mẻ tình cảm dành cho cả hai người, mãi cho đến khi những biến động của cuộc sống tách Mậu Doanh và Thư Triệt rời xa nhau và đưa Mậu Doanh lại gần Ninh Minh và đưa Tiêu Thanh lại gần tình yêu của mình. Thư Triệt nhận Tiêu Thanh vào làm cố vấn pháp lý cho công ty của mình, công việc giúp họ có cơ hội hiểu nhau hơn, hiểu những toan tính ngấm ngầm của 2 ông bố Thư Vọng và Thành Vĩ. Ninh Minh sống một cuộc sống trôi nổi vô định, cho đến khi số phận trớ trêu xui khiến anh quen biết Thành Nhiên, em trai của Mậu Doanh. Phải mất rất lâu, Thành Nhiên mới biết được vì sao Ninh Minh lang thang ở Mỹ.

Nhưng những oái ăm của cuộc sống chưa dừng lại ở đó. Tiêu Thanh lại nhận một công việc trong một công ty luật phụ trách điều tra tham nhũng cho chính phủ Mỹ, và qua đó, biết rất rõ từng chi tiết điều tra nhắm vào hai gia đình Mậu Doanh và Thư Triệt. Lại thêm rất nhiều mâu thuẫn, dằn xé giữa tình bạn, tình yêu và lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, Tiêu Thanh không thể tiết lộ bất kỳ bí mật điều tra nào cho cả hai người, cô ấy cảm thấy mình phải sống một cuộc sống “hai mặt”. Qua nhiều chuyện sóng gió, cuối cùng Ninh Minh nhận được học bổng cho phép anh theo học cao học ở Mỹ, và do đó có thể tiếp tục ở bên cạnh tình yêu của đời mình là Mậu Doanh, người sau nhiều đau khổ, đã đón nhận anh!

Một cộng đồng bạn bè Trung Quốc sống chung một thành phố, luôn có rất nhiều mâu thuẫn chồng chéo trong tình bạn, tình yêu, nhưng bằng một cách nào đó, họ vẫn tìm cách ở bên nhau, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau những khi cần thiết. Cha của Tiêu Thanh là công tố viên điều tra tham nhũng, phụ trách vụ án của Thư Vọng và Thành Vĩ. Ông phát hiện ra một điều, Lưu Thái Kỳ là “bồ nhí” của Thư Vọng, do mang thai với vị thị trưởng này, nên được thu xếp để sinh sống ở Mỹ nhằm dấu nhẹm sự việc. Nếu tin tức một quan chức có con ngoài giá thú lộ ra ngoài thì sự nghiệp chính trị của ông ta xem như chấm dứt. Sự việc lại tiếp tục phát triển khi Lưu Thái Kỳ muốn tố cáo mối quan hệ bất chính của Thư Vọng.

Ông chủ Thành Vĩ như thường lệ, lại nhận chỉ thị từ Thư Vọng, lại giở các thủ đoạn hắc ám để giết người diệt khẩu. Lưu Thái Kỳ chết, nhưng kịp để lại những bằng chứng tố cáo liên minh ma quỷ Thư Vọng – Thành Vĩ. Đỉnh điểm của sự đau khổ đến khi Tiêu Thanh, dưới áp lực của cha mình, phải ra toà làm chứng trong hai vụ án: một là vụ Thư Vọng nhận hối lộ từ Thành Vĩ, và một nữa là vụ Thành Vĩ nhận lệnh giết người diệt khẩu từ Thư Vọng. Điều mà Thư Triệt lo sợ cuối cùng cũng đã tới, khi áp – phe chính trị – kinh doanh Thư Vọng và Thành Vĩ cuối cùng cũng phải đã đối diện pháp luật, và cả hai người đều phải nhận bản án chung thân, một cái kết rất đắng cay cho cả hai gia đình Thư Vọng và Thành Vĩ.