vô môn quan

無門關

Ngôn ngữ, đó là cái vỏ của tư duy, ngày trước nghe nói như thế, nhưng vẫn chưa hiểu lắm! Thật ra, người ta dùng từ rất chính xác, “cái vỏ”, giống như cái vỏ của các loài giáp xác (tôm, cua…) vậy, vừa là hệ thống bảo vệ cơ thể khỏi tác động của môi trường xung quanh, vừa là cái khung cấu trúc để cho cơ thể bên trong được phát triển! Người có suy nghĩ chính chắn, vững vàng không dễ gì bị tác động của môi trường xung quanh, kẻ không có tư duy gì đáng kể thì… ai nói gì cũng nghe, ai xúi gì cũng làm! Tuy tác dụng là vậy, nhưng phát triển đến một mức độ nào đó, cái vỏ này lại trở thành vật cản trở, vì cơ thể có nhu cầu phải trở nên lớn hơn, mà cái vỏ không lớn hơn được, do đó phải trãi qua… rất nhiều chu kỳ lột xác!

Nhiều người học đâu đó vài ngôn từ lảm nhảm, cũng tự tạo nên cái vỏ như thế, họ hài lòng với cái vỏ be bé ấy, rồi đóng khung cứng luôn trong đó! Họ không hiểu “cái vỏ ngôn từ” có hai mặt, phải thay đổi, nếu không sẽ trở thành tù nhân của cái vỏ do chính mình tạo ra! Dĩ nhiên, thay đổi có tính cấu trúc và kế thừa, còn những loại “ốc mượn hồn” thì không cần kể đến! Cứ như thế phát triển từng bước, đến cảnh giới dùng “Vô Ngôn Thông” (thông hiểu không cần… ngôn từ) để bước qua “Vô Môn Quan” (cửa không có… cổng) thì chắc lúc đó về với chư Phật rồi! Hoà thượng Thuỵ Nham Sư Ngạn mỗi ngày tự gọi: “Ông chủ!”, rồi tự trả lời: “Dạ”, lại tiếp: “Tỉnh táo nhé!” – “Dạ” – “Mai kia mốt nọ chớ để người gạt nhé!” – “Dạ, dạ!”

giãn cách, 16

Thơ thì kiểu “cháu lên 3”, nhạc thì kiểu “cháu đi mẫu giáo”, còn hài thì kiểu “cô khen cháu vì cháu không khóc nhè”! Em dùng từ “ngô nghê, trì độn” là vẫn còn rất nhẹ! Thế nhưng lại vô cùng mặt dày và liều lĩnh, vì đã có những “bầu sô” chỉ bài cho diễn, cứ như thế khoác lên cái mẽ học thức, nghệ sĩ, cũng “thi ca nhạc hoạ” như ai… “cũng bởi thằng dân ngu quá lợn”…

some marine arts

Đây là bức hoạ hiện đại, có thể được vẽ gần đây, tái hiện lại lịch sử ngày xưa. Cái góc nhìn của nó rất mới, giống như được quay từ drone vậy, hội hoạ cổ điển có nằm mơ cũng khó có được những góc phối cảnh – perspective thế này. Ở phương Tây, có những nhánh hội hoạ chỉ chuyên đề tài hàng hải, phải bỏ ra hàng chục năm đọc mọi thứ, từ lịch sử, địa lý, kỹ thuật đóng tàu, kỹ thuật buồm, 1001 thứ để có thể vẽ được một bức tranh đúng, chưa nói chuyện đẹp!

hms resolute

Con tàu Resolute tham gia tìm kiếm đoàn thám hiểm không bao giờ trở về của John Franklin trong 2 năm 1848 ~ 1850, sau đó về Anh, rồi quay lại tiếp tục tìm kiếm trong 2 năm nữa, 1852 ~ 1854. Suốt những mùa đông bị vây hãm trong băng giá, thuỷ thủ đoàn toả ra các hướng, đi bằng xe chó kéo để tìm vết tích của Franklin, nhưng không tìm được gì, họ chỉ tìm và cứu được đoàn đi trên chiếc HMS Investigator. Về sau, cũng phải bỏ tiếp chiếc Resolute bị kẹt trong băng giá, đoàn người trở về Anh năm 1854 trên các con tàu khác của đoàn thám hiểm!

Một năm sau đó, Resolute được tìm thấy trôi dạt trên biển bởi một tàu đánh cá voi Mỹ, cách 1900 km so với nơi ban đầu. Quốc hội Mỹ mua lại con tàu và gởi nó về Anh như món quà tặng cho nữ hoàng Victoria! Đến lúc này, Bộ Hải quân đã hết hy vọng việc tìm đoàn Franklin nên dừng các cuộc tìm kiếm. Chỉ riêng có Lady Jane, vợ của Franklin quá cố, vẫn tiếp tục tìm kiếm… 20 năm nữa, tài trợ tất cả 7 đoàn thám hiểm chỉ để tiếp tục tìm! Lady Jane đi vào văn hoá đại chúng Anh với bài hát “Lady Jane’s Lament” – nỗi đau khổ của quý bà Jane!

hms investigator

Năm 1848, Investigator và Enterprise, 2 con tàu do James Clark Ross chỉ huy, khởi hành đi tìm vết tích của John Franklin. Ross lúc này đã 72 tuổi, đành đứng ra nhận nhiệm vụ vì không còn ai có đủ uy tín cũng như kinh nghiệm! Ross từng thề với vợ là sẽ không bao giờ đi thám hiểm nữa, sau vụ này 2 vợ chồng giận nhau cho đến cuối đời. Sau 5 năm tìm kiếm vô vọng, con tàu Investigator bị đông cứng trong băng suốt 3 năm.

Cho đến khi họ được phát hiện và giải cứu bởi HMS Resolute, một trong 3 nhánh tìm kiếm gọng kìm được tổ chức bởi Bộ Hải quân. Resolute sau đó cũng không thoát ra được khỏi vùng băng giá, lại phải bỏ tàu, sau đó lại được cứu bởi một tàu khác! Nhiều hành trình theo vết đoàn thám hiểm của Franklin, lúc này đã trở thành một cuộc “Thập tự chinh” thần thánh đúng nghĩa, liên tục nhiều năm, với vô số kỳ tích!

hms terror

Sau chuyến thám hiểm Nam cực của James Clark Ross, 2 con tàu Terror và Erebus lần nữa được trang bị lại, chuẩn bị cho chuyến thám hiểm của John Franklin, lại là mục tiêu muôn thủa: Con đường Tây Bắc (the North West Passage), tìm ra một thuỷ lộ ngắn nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương mà không phải đi vòng xuống Mũi Sừng xa xôi! Cho đến ngày nay người ta vẫn biết rất ít về số phận bi thảm của cuộc thám hiểm này, toàn bộ 129 người không ai trở về! Bộ Hải quân tổ chức một vài đoàn tìm kiếm. Jane Franklin, vợ của John Franklin, nhà thám hiểm quá cố, con gái một nhà đại tư sản là tiếp tục vận động, tài trợ, bỏ tiền tổ chức thêm nhiều cuộc tìm kiếm nữa suốt 25 năm sau đó! Họ đem về được 2, 3 mảnh giấy, chôn dưới những cột đá xếp đánh dấu, để lại một số ít ỏi thông tin!

Đến ngày nay, người ta chỉ biết đại khái là cả 2 con tàu bị chôn vùi trong băng giá suốt một năm rưỡi, nhiều người lần lượt chết trước khi số còn lại bỏ tàu, tìm cách trở về bằng đường bộ nhưng không một ai về tới đích! Rất nhiều giả thiết được đưa ra, kể cả giả thiết ngộ độc botulinum trên loại đồ hộp thế hệ đầu tiên mà đoàn sử dụng! Hai cuộc thám hiểm thất bại, một của Franklin, một của Robert Scott khiến người ta phải nghĩ lại về cách tiếp cận, rõ ràng việc sử dụng những đoàn thám hiểm lớn cả trăm người là không phù hợp! Roald Amundsen người Na Uy, hơn 50 năm sau, là người đầu tiên hoàn thành cả 3 mục tiêu: đến Nam cực, đến Bắc cực, và đi hết con đường Tây Bắc, dĩ nhiên là với những trang thiết bị hiện đại hơn, và chỉ dùng những nhóm nhỏ 5 ~ 15 bao gồm những cá nhân đặc biệt xuất sắc!

hms discovery

Discovery, 1789 là con tàu được đặt theo tên của chiếc Discovery trước đó, 1774, một tàu trong đoàn thám hiểm của James Cook. Hải quân Hoàng gia liên tiếp có rất nhiều thế hệ tàu Discovery khác nhau! Discovery, 1789 do George Vancouver làm thuyền trưởng. Vancouver cũng tham gia đoàn thám hiểm của Cook với vị trí midshipman. Cũng giống như Nelson vậy, từ đội ngũ của Nelson nảy sinh nhiều sĩ quan tài năng, thì từ đội ngũ của Cook, cũng nảy sinh nhiều nhà thám hiểm tài năng.

Discovery làm nhiều chuyến đo đạc, vẽ bản đồ ở Thái Bình Dương suốt 5 năm, nhất là vùng Tây Bắc lục địa châu Mỹ! Để đi vào các vùng nước nông, thuỷ thủ đoàn thường rời tàu mẹ, chèo xuồng con xa cả trăm km, sâu vào bên trong các vịnh biển, sông suối thì mới vẽ bản đồ chính xác được! Hòn đảo Vancouver, Canada chính là đặt theo tên nhà thám hiểm này! Những bản đồ của Vancouver chính xác đến nỗi, chúng được dùng đến gần 200 năm sau, đến khi có phương pháp đo đạc bằng GPS mới!

hms eagle

Sự kiện tai nạn hàng hải năm 1707 ở quần đảo Scilly, đoàn tàu chiến Anh trở về sau cuộc chiến với Pháp. Suốt nhiều ngày liền, thời tiết rất xấu, không thấy mặt trời để đo kinh-vĩ, nhiều tính toán toạ độ sai lầm dẫn đến việc đoàn tàu chiến hơn 20 chiếc đâm vào đảo! 4 tàu chìm hoàn toàn, ước tính gần 2000 người đã chết! Sau vụ này, nữ hoàng Anne ban hành Đạo luật Kinh tuyến – 1714, quy định sẽ thưởng 20.000 bảng cho ai tìm ra được cách xác định kinh độ chính xác. Người thắng cuộc là John Harrison, nhưng đó là một câu chuyện rất dài và phức tạp! John Harrison, thợ làm đồng hồ, người đã bỏ cả cuộc đời mình để làm ra chiếc đồng hồ chính xác – chronometer đầu tiên trên thế giới.

Ở đây nói một từ tiếng Anh là watch, watch nguyên nghĩa là “phiên gác”, gác tàu hay các cơ sở quân sự, định kỳ phải đổi gác nên cần có một cái đồng hồ đo thời gian! Cùng là đo thời gian, nhưng watch khác với clock, clock cố định tại một vị trí, trong khi watch là portable! Câu chuyện những chiếc đồng hồ này là một đề tài kỹ thuật hấp dẫn, có thể viết nhiều ngàn trang giấy. John Harrison bỏ ra 50 năm ròng rã để hoàn thành công trình, nhưng Uỷ ban Kinh độ từ chối trao giải thưởng. Ở tuổi 80, ông ấy kiện lên vua George III nhờ can thiệp đòi danh dự, vì thực ra giá trị của giải thưởng không còn quan trọng! Đến khi vua George doạ “đến tận nơi xử lý” thì vụ việc mới được giải quyết!

hms dominica

Bermudan-rig là kiểu buồm phổ biến ở Bermuda, vùng biển Đông Nam nước Mỹ cho đến Caribe, kiểu buồm thường thấy trên các con tàu giải trí ngày nay! Bermudan-rig phù hợp với các con tàu nhỏ, dễ điều khiển, cần ít người vận hành, và thường đi sát gió tốt hơn square-rig. Thế nên nhiều người có cái cảm giác là nó “ưu việt” hơn square-rig! Nên nhớ square-rig được dùng trên những con tàu siêu lớn hàng ngàn tấn, phải chở nhiều hàng hoá nặng nề, và đi trong những vùng biển ôn đới, vốn thường sóng gió dữ dội hơn là các vùng biển nhiệt đới!

Square-rig mạnh hơn, bền hơn, và có thể tuỳ-biến tốt hơn bermudan-rig, nhưng nó cũng cần nhiều kỹ năng, kinh nghiệm hơn! Trong tranh là HMS Dominica, con tàu quốc tịch Pháp đóng ở Mỹ, cũng là con tàu “đổi chủ” 4 lần, hết bị Anh đến Pháp chiếm qua chiếm về! Tranh thể hiện sự kiện Dominica bị con tàu privateer Mỹ – Decatur bắt năm 1813. Trên cột buồm sau của con tàu Decatur, có lá buồm skyscraper, loại buồm tam giác gắn trên cùng (skysail), về sau chữ skyscraper mang nghĩa phái sinh – toà nhà chọc trời như chúng ta biết ngày nay!

hms java

Trong tranh là USS Constitution, một trong 6 chiếc tàu hộ vệ – frigate đầu tiên của Hải quân Mỹ non trẻ, đối đầu với HMS Java, nguyên gốc là một tàu chiến Pháp bị Anh bắt được. HMS Java nhỏ và nhanh nhẹn hơn, USS Constitution lớn và có hoả lực mạnh hơn. Kết quả là HMS Java bị bắt, và sau đó bị đốt cháy, 18212. Tranh minh hoạ chiến thuật Hải quân crossing-the-T, cắt mặt hình chữ T.

Con tàu nằm ở nét ngang của chữ T có lợi thế là có thể đưa toàn bộ súng một bên mạn tàu tập trung vào một điểm, gây thiệt hại rất lớn cho đối phương. Ngày nay USS Constitution là con tàu già nhất trên thế giới, 209 tuổi, vẫn còn có thể chạy buồm tốt! Để ý chi tiết trong tranh, cả hai con tàu đều cuốn tầng buồm dưới cùng lên cho gọn, kiểu như xăn tay áo để chuẩn bị đánh nhau vậy!

hms st lawrence

Trong hàng hải, bị gọi là “thuỷ thủ nước ngọt” được xem như một lời chế nhạo, thậm chí là sỉ nhục! Nhưng điều đó không hẳn đã đúng với HMS St. Lawrence, con tàu được đóng trên hồ Ontario, biên giới giữa Canada và Mỹ! Ontario là hồ nước ngọt, diện tích 19.000 km2, thông với Đại Tây Dương qua một con sông nhỏ, chảy xiết và nhiều chướng ngại, chỉ những con tàu nhỏ xíu mới đi lại được! Nên khi đóng chiếc St. Lawrence, là người ta đã tính nó chỉ loanh quanh trong hồ này mà thôi, đây là con tàu siêu lớn, lớn nhất của Hải quân Hoàng gia cho tới lúc đó!

Và vì chỉ đi loanh quanh trên hồ nước ngọt nên tàu không cần mang theo quá nhiều lương thực, thực phẩm, nước uống… nên có không gian để trang bị đến 112 súng! Lúc này thì Mỹ đã dành được độc lập, nhưng hai bên Anh & Mỹ vẫn còn tiếp tục xung đột với nhau ở vùng biên giới Mỹ & Canada. Từ khi hoàn thành, St. Lawrence chưa bao giờ tham gia một hoạt động chiến trận nào, vì chả ai dám dây dưa với cái kích thước của nó, vùng biên giới vì thế được yên bình! Thế nên cái câu thành ngữ La-tinh: Si vis pacem para bellum đúng là có cái lý của nó!

hmc ceres

Ceres là con tàu nhỏ 450 tấn được đóng bởi Hải quân Hoàng gia, đến năm 1778, khi đang hộ tống đoàn thương thuyền ở Caribe, Ceres bị bắt và đưa vào biên chế Hải quân Pháp với tên Cérès. Đến năm 1872, Hải quân Anh bắt lại được con tàu này và đưa vào phục vụ với tên mới Raven. Sang năm sau, 1783, Raven lại bị Hải quân Pháp bắt, lại trở thành tàu Pháp với cái tên cũ Cérès! Chuyện như thế không hiếm thấy thời đó, một con tàu chiến bị bắt qua bắt về, đổi phe 3, 4 lần là chuyện khá thường thấy!

Nhân tiện nói về thành ngữ “loose cannon”, như bà Clinton gọi tt. Trump là một “loose cannon”… Trong thời đại thuyền buồm, các khẩu súng nặng 2, 3 tấn hoặc hơn, đặt trên 4 bánh xe và buộc lại bằng hệ thống dây, ròng rọc! Nếu vì lý do gì đó mà các dây này bị tuột (loose), nhất là trong giông bão, thì khẩu pháo đó lăn qua lăn về, khối lượng 2, 3 tấn đè chết người như đè một con ruồi, đâm thủng thuyền, phá nát nhiều thứ trên đường đi. Về sau “loose cannon” có nghĩa bóng ám chỉ một người nguy hiểm, không thể kiểm soát!

hms shannon

Đội tàu đầu tiên do Quốc hội Mỹ đặt hàng, 6 chiếc tàu hộ vệ – frigate đầu tiên của Hải quân Mỹ đều là những tàu tốt, lượng giãn nước lớn, trang bị khá. Đội tàu này tham gia nhiều cuộc chiến, xung đột khác nhau, nhất là thời kỳ đầu đã đánh nhau rất thành công với Hải quân Anh, bắt hàng loạt tàu buôn và tàu chiến Anh. Điều này gia tăng sĩ khí cho hạm đội non trẻ, tuy nhiên công bằng mà nói, những tàu Anh thất bại đều là những tàu nhỏ, hoả lực “dưới cơ” các tàu Mỹ. Điều này cũng gây ra những tức tối, bức xúc trong hàng ngũ sĩ quan Hải quân Hoàng gia.

Thuyền trưởng Philip Broke của HMS Shannon công khai thách đấu, gởi chiến thư tới USS Chesapeake, giọng văn kiểu: “mày ra đây, tao với mày chơi tay đôi”! Kiểu đấu “hiệp sĩ” này khá công bằng, hai tàu tương đối ngang nhau về tải trọng, về số súng. Đáng nói là Shannon tuy không lớn, nhưng là một trong những con tàu thiện chiến nhất Hải quân Anh, thuỷ thủ tập bắn bốn buổi một tuần đều đặn. Chuyện xảy ra sau đó thì khá rõ, Shannon giải quyết trận đấu trong chỉ hơn 10 phút, phía Mỹ thương vong rất lớn, thuyền trưởng Broke được phong Nam tước!

hms buffalo

Buffalo như cái tên của nó (con trâu), là con tàu vận tải 540 tấn của Hải quân Hoàng gia, đóng ở Ấn Độ bằng gỗ giá tỵ. Buffalo đi đi về về giữa Anh và Úc, chở phạm nhân, hàng hoá. Năm 1824, đại dịch tả toàn cầu lan ra khắp châu Á. Nhưng tới năm 1832, làn sóng dịch thứ 2 mới lan tới Anh. Trên phạm vi toàn cầu, cả chục triệu người đã chết!

Trong 2 năm, Buffalo trở thành con tàu cách ly. Haiza, giá như VN cũng có vài chục con tàu cách ly thế này thì tốt biết mấy, cứ đậu giữa sông, khỏi phải đau đầu chuyện trốn trại! Về sau, Buffalo bị đắm trong một cơn bão ở New Zealand, bức tranh bên dưới thể hiện đúng sự việc lúc đó, con tàu treo lá cờ ngược, báo hiệu tình trạng nguy cấp!

hms captain

Captain là con tàu mang số phận bi thảm, tàu lật và chìm ngay trong chuyến thử nghiệm đầu tiên, 500 sinh mạng bị lãng phí! Câu chuyện lần nữa cho thấy, ý kiến của đám đông ngu dốt chỉ mang lại thảm hoạ mà thôi! Chuyện bắt đầu với tháp pháo xoay, thiết kế của thuyền trưởng Cowper Phipps Coles năm 1855, về cơ bản là đi trước thời đại, thay vì dùng dãy nhiều súng, con tàu được thiết kế chỉ có vài tháp pháo xoay, có thể bắn được nhiều hướng mà không phải quay thuyền. Ít súng hơn, tức là súng phải to hơn, và công nghệ chế tạo đã cho phép có những khẩu súng cỡ nòng 200 ~ 300 mm, nặng cả vài chục tấn!

Bản thiết kế của thuyền trưởng Cowper Phipps Coles không được Bộ Hải quân chấp thuận! Coles thực hiện cả một chiến dịch truyền thông tấn công các quan chức Bộ Hải quân, vận động báo giới và Nghị viện. Bộ Hải quân, trước sức ép, phải chấp nhận cho Coles được đóng chiếc thuyền theo thiết kế của mình! Chuyện tiếp theo là lịch sử, trong buổi bắn thử nghiệm đầu tiên, trong thời tiết xấu, thuyền nghiêng 21 độ và lật úp (những con thuyền khác có thể nghiêng đến ít nhất 50 độ mà vẫn không sao), sau đó chìm, kéo theo gần 500 sinh mạng, nguyên do đơn giản là trọng tâm quá cao, mà phần mạn khô quá thấp!

hms warrior

Nửa cuối thế kỷ 19 bắt đầu kỷ nguyên bùng nổ về công nghệ: kỹ thuật đóng tàu, động cơ, súng và đạn, etc… tất cả liên tục thay đổi, khiến cho một con tàu đóng xong chưa tới 10 năm đã thành ra lạc hậu! HMS Warrior là con tàu như thế, hạ thuỷ năm 1861 để đối trọng lại với một con tàu Pháp – Gloire đi vào phục vụ một năm trước đó! Nhưng Warrior ở một đẳng cấp hoàn toàn khác, lúc hoàn thành, Warrior là tàu chiến lớn nhất, hiện đại nhất thế giới!

Nhanh hơn, được bảo vệ tốt hơn, hoả lực mạnh hơn bất kỳ con tàu nào khác! Nhưng vẫn có một chút không chắc trong thiết kế của Warrior, dù hơn 9000 tấn, vẫn chỉ được xem là frigate, tàu hộ vệ, chứ chưa phải là chiến hạm chủ lực! Đây là thế hệ tàu chiến cuối cùng còn mang đủ toàn bộ hệ thống buồm! Vẻ đẹp cổ điển của buồm đã hoàn toàn phải nhường chỗ cho máy móc, sắt thép, động cơ và sức công phá kinh hoàng của những thế hệ súng, đạn mới!

hms rattler

Ss Archimedes là con tàu hơi nước đầu tiên dùng chân vịt (propeller) thay vì guồng xoay (paddle-wheel). Bộ Hải quân nhận ra đây là cải tiến cần phải có trên tàu chiến, chân vịt nằm phía sau và sâu dưới nước, khả năng trúng đạn thấp hơn nhiều so với guồng xoay, đồng thời không chiếm không gian lớn giữa thân tàu làm cho khó bố trí súng. Họ bắt tay vào đóng con tàu Rattler, 1843 để thử nghiệm.

Các thử nghiệm cho thấy chân vịt đạt tốc độ tốt hơn guồng xoay. Chưa hài lòng, Bộ Hải quân cho 2 con tàu cùng kích cỡ, kiểu dáng, cùng công suất động cơ, một dùng chân vịt (Rattle), một dùng guồng xoay (Alecto), dùng dây buộc đuôi 2 tàu lại với nhau và cùng chơi kéo co! Rattle thắng một cách hiển nhiên và thuyết phục, từ đó chính thức bắt đầu quá trình tàu Hải quân chuyền dần sang hơi nước.

hsm gorgon

Mặc dù tàu hơi nước đã xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 18, đầu tiên là những con tàu chạy trên sông, sau đó là những con tàu đi biển, nhưng máy móc hơi nước vẫn tiếp tục phát triển rất chậm, ứng dụng của máy hơi nước vào Hải quân thậm chí còn chậm hơn! Những máy hơi nước đầu tiên to lớn, nặng nề, thiếu ổn định, cộng thêm với lượng than lớn mang theo chiếm hầu hết tải trọng hữu ích của tàu! Với tàu chiến, điều đó có nghĩa là không còn mấy không gian và tải trọng để lắp đặt thêm súng!

Thứ đến nữa là tàu chiến thường hoạt động rất xa, gần như là toàn cầu, mà thời đó, chưa có nhiều các trạm tiếp tế than cho tàu! Quan trọng nữa là cái guồng quay của tàu (paddle – wheel) là một điểm yếu chí tử với tàu chiến, chỉ cần một phát đạn là con tàu hết hoạt động! Chính vì vậy, máy hơi nước rất chậm ứng dụng trong Hải quân. HMS Gorgon chỉ được sử dụng như tàu chở lính! Năm 1858, Gorgon tham gia lắp đặt đường giây điện báo ngầm dưới đáy biển đầu tiên xuyên Đại tây dương nối Anh và Mỹ!

hms comet

Comet, 1822 là con tàu kéo (tugboat) 340 tấn, vỏ gỗ, đáy bọc đồng, con tàu động cơ hơi nước đầu tiên của Hải quân Hoàng gia! Comet được sử dụng như một tàu kéo, kéo các con tàu buồm ra và vào cảng khi gió yếu. Tàu được trang bị một động cơ hơi nước 80 HP – mã lực.

Comet là con tàu đầu tiên được gắn cục kẽm, lớp vỏ đồng hoạt động trong môi trường nước muối thường nhanh bị ăn mòn bởi hiện tượng điện phân. Giải pháp là gắn một cục kẽm lên vỏ đồng để biến nó thành một cathode – điện cực dương, điện cực “hy sinh” thay cho lớp đồng!

hms st george

Năm 1793, John Gell được bổ nhiệm chức vụ đề đốc, chỉ huy một biên đội tàu 7 chiếc! Tháng Tư năm đó, biên đội “cướp” được một món hời, thường được xem là chiến lợi phẩm lớn nhất trong lịch sử Hải quân Hoàng gia. Trước đó 11 ngày, tàu privateer của Pháp mang tên General Dumourier đã cướp được tàu Tây Ban Nha St. Jago vừa từ Peru trở về, sau đó biên đội tàu Anh lại cướp tàu Pháp này, như thế là cướp tổng cộng 2 cấp, 2 thuyền của 2 nước khác nhau! Cả 2 tàu được giải về Anh, ước tính giá trị ban đầu khoảng trên 500,000 bảng.

Sau khi đã nộp toàn bộ tài sản cho Bộ Hải quân thì họ tiếp tục phát hiện ra trên con tàu St. Jago có những thỏi thiếc giả, thật ra là những thỏi vàng được mạ thiếc, tổng trị giá tài sản lúc này lên đến gần 1tr bảng (tương đương với hơn 130tr ngày nay), khoảng 60 tấn cả vàng & bạc. Sau đó xảy ra một cuộc chiến pháp lý kéo dài, TBN thì cay đắng muốn đòi lại của cải. Cuối cùng bộ Hải quân phán quyết toàn bộ tài sản là của Anh, và chia tiền thưởng cho các thành viên, John Gell nhận 20tr, mỗi thuyền trưởng nhận 8tr (theo thời giá hiện tại).