vi tích phân, p3

…Thứ hai là phải có bản đồ về ngập lụt. Qua bao nhiêu sự cố vừa qua, chính quyền địa phương phải xây dựng bản đồ, sơ đồ về các vị trí ngập ứng với tần suất mưa lũ. Mưa lũ bao nhiêu thì sẽ ngập khu nào, mưa 100 mm thì ngập ở đâu, 200 mm thì ngập ở đâu; khi mưa đến 400 mm, 500 mm thì ngập như thế nào… ==> Đây chính là vi tích phân dạng chưa phải là phức tạp lắm, một học sinh cấp 3 loại giỏi cũng có thể làm được! Cho lượng mưa như vậy, trên diện tích như vậy, tính tổng lượng nước, lên net tải bản đồ địa hình 3D độ phân giải cao miễn phí, từ đó…

Có thể tính vi tích phân 2 chiều dùng phần mềm MathLab, Mathematica (tính tổng lượng nước ngập trên địa hình), hay nếu biết lập trình, có thể tính toán và hiển thị trực quan bản đồ các vùng ngập lụt với các thư viện Python (công cụ làm hệ thống thông tin địa lý hiện tại rất đa dạng)! Phát loa thông báo thế nào, các vị trí tạm trú an toàn ở đâu, bố trí các đội cứu nạn, các nhóm hỗ trợ dân sinh chỗ nào, đây đều là những suy tính đơn giản có thể lên kế hoạch hành động từ trước! Chỉ là có muốn động não, động tay chân hay không mà thôi!

Nếu nhìn lại lịch sử của Toán học, đó không phải là lịch sử của những con người thích “trò chơi trừu tượng” với ký hiệu và biểu tượng, và đương nhiên càng không phải những dạng “ngáo ngáo, dở dở” trên trời dưới đất kiểu các “triết gia tân thời VN”, đó đều là những người thực làm việc thực. Như Leonhard Euler, trong loạt bài đăng rất dài trên tạp chí Scientia Navalis – Khoa học hàng hải, đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu hình dạng con tàu, độ nổi, độ ổn định và cách thức các dạng hình học khác nhau vận hành trên mặt nước.

Cũng Leonhard Euler trong một bài báo đăng trên tạp chí Mechanica – Cơ học, đã trình bày nghiên cứu về áp suất nổ của thuốc súng và gia tốc của viên đạn bên trong nòng súng. Đây là một trong những công trình đầu tiên đưa ra hằng số e = 2.71828… cơ số của logarit tự nhiên. Cho hàm số f(x) = e^x, hàm này đặc biệt ở chỗ: đạo hàm của nó là… chính nó, và nguyên hàm của nó cũng là… chính nó! Để hiểu được vì sao lại kỳ diệu như vậy, để hiểu ma thuật của các con số, cần nhiều năm kinh nghiệm, nhiều năm quan sát các hiện tượng trong thế giới tự nhiên.

Có thể nói Euler là nhà toán học, nhà phát minh có ảnh hưởng hết sức to lớn, đến mức đời sau ai cũng đều phải đọc Euler! Quốc tịch Thụy Sĩ nhưng hầu hết thời gian ông ta sống ở Nga và Đức, những công trình Toán học của ông hầu hết đều là kết quả của những công việc thực tế trong hai lĩnh vực công nghệ nóng nhất thời bấy giờ: đóng TÀU và chế tạo SÚNG đại bác! Và hầu hết những nhà khoa học, phát minh giai đoạn đó đều như vậy: họ lảng tránh các câu hỏi siêu hình – metaphysic, mà bắt tay vào làm những công việc cụ thể, ví dụ như…

Christiaan Huygens đã nghiên cứu về phương diện hình học của dao động điều hòa của con lắc. Ông đã chế tạo ra đồng hồ quả lắc đầu tiên, dẫn tới sản xuất và trang bị hàng loạt đồng hồ quả lắc cho các hộ gia đình. Đồng hồ quả lắc là một phát minh vô cùng quan trọng, nó xây dựng ý thức đúng giờ và nề nếp lao động, chuẩn bị nền tảng cho con người để bước vào kỷ nguyên công nghiệp. Nên, nếu còn hình dung về Toán như một sự “phức tạp, trừu tượng, khó hiểu và vô dụng” thì… đành phải xem lại não trạng của người dạy/học Toán thôi!

be bờ đắp đập

Khi còn nhỏ, tôi có xem một chương trình thế giới động vật rất hay về loài Hải ly. Đây là loại động vật có vú thuộc bộ Gặm nhấm, vừa có tính lưỡng cư, thường hay sống ở các lưu vực sông! Bản năng của loài hải ly là… xây đập, chúng dùng hàm răng chắc khỏe của mình để đốn hạ những cây khá to, tìm cách cài, đan lại với nhau thành những con đập gỗ chắn ngang dòng nước. Đừng khinh thường loài động vật nhỏ bé này, chúng đã từng xây những con đập rộng đến 600 ~ 800m, cao đến khoảng 4 ~ 7 m. Những con đập này vừa được dùng để làm nơi trú ẩn, vừa có tác dụng nhốt cá lại trong một cái hồ lớn để làm thức ăn dự trữ trong mùa đông!

Thật thú vị khi xem những thước phim về loại động vật có tính kiên trì vô hạn, từ ngày này sang ngày khác gắng sức đốn cây, xây đập! Nhưng hệ quả của hệ thống đập to lớn và rộng khắp này là tình trạng ngập lụt trên diện rộng ở các hạ lưu sông, đến độ ở Bắc Mỹ, người ta đã phải tiến hành tiêu diệt bớt loài Hải ly này, chỉ cho chúng sống trong những nhánh sông nhỏ, không cản trở lưu thông và gây ngập lụt trên những nhánh sông lớn. Cái chữ “đập” và cái chữ “ngập” là đi cùng một vần, tự nhiên là như vậy! Con người khác với Hải ly ở chỗ chúng ta có suy nghĩ và trách nhiệm chứ không phải chỉ biết xây đập để kiếm ăn theo kiểu bản năng!

sơn tinh, thủy tinh

Cái câu trong truyện cổ tích Sơn Tinh và Thủy Tinh: “nước dâng cao bao nhiêu thì đồi núi cũng dâng lên cao bấy nhiêu” là hoàn toàn sai, thậm chí chính là nói ngược, vô hình chung đã đảo lộn quan hệ nhân – quả. Trong thời hiện đại ngày nay, cần phải hiểu cho đúng là: “nhà cửa, bê-tông xây đến đâu thì nước cũng sẽ dâng theo đến đó”! Cần phải phá vỡ quan niệm sai lầm cho rằng chỉ cần “be bờ đắp đập” là đủ chống lại lũ lụt, quan trọng là phải tạo ra đủ các khoảng “âm” để chứa nước! Bên cạnh nhiều yếu tố như địa hình, thời tiết cực đoan, etc… một yếu tố cũng đóng góp phần rất lớn, đó chính là người con của Thủy Tinh tên là… Thủy Điện!

Nhiều người trách Thủy điện xả nước không thông báo trước, điều này là chính xác, báo trước tuy không giảm được lũ nhưng ít nhất người dân có thời gian để chuẩn bị! Còn về tính năng trữ nước để điều độ dòng chảy thì phần lớn các thủy điện xây theo kiểu “ăn xổi ở thì” sau này hoàn toàn không có dung lượng dự trữ để cắt lũ, nhất là khi thời tiết ngày càng cực đoan, phải truy cứu trách nhiệm nhà đầu tư thế nào?! Ngay cả thủy điện Đa Nhim do người Nhật hoàn thành năm 1964 cũng đã… thúc thủ trước thời tiết, có phải vì đã cải tạo nâng công suất từ 160 MW lên 240 MW năm 2015!? Bỏ cái công suất tăng thêm này có cắt được lũ không?

Cấp đủ điện thì không cắt được lũ, giảm công suất phát điện rồi lũ sẽ giảm bao nhiêu, đã có gì đó rất sai trong cái lưỡng đề này! Trừ đi các yếu tố do thời tiết cực đoan thì trách nhiệm nhà đầu tư là đến đâu trong việc cắt lũ, vì tích nước giảm lũ là một tính năng cơ bản đã được tính trước khi xây nhà máy thủy điện! Chỉ khi nào truy cứu được trách nhiệm thì mới loại trừ được tình trạng “ai cũng đúng” nhưng rút cuộc “không có cái gì đúng”! Để tính toán những điều đó: tính lượng mưa, lượng nước, tính phần dự trữ, phân chia phần trách nhiệm… phải ra được con số cụ thể để truy thu, truy cứu… là tự nhiên sẽ dùng đến nhiều Toán vi tích phân thôi!

Nhưng… vì không biết cách làm Toán nên đùn đẩy hết trách nhiệm cho “Chủ tịch tỉnh” trong việc cắt lũ. Tích nước, phát điện, giảm lũ, đây đều là công việc chuyên môn của nhà máy phát điện, đúng ra là đã phải được tính trước từ lúc thiết kế nhà máy, tại sao lại phải do Chủ tịch tỉnh quyết? Đùn đẩy trách nhiệm lên trên vì bên dưới không làm được việc, mà đây đều là những việc cơ bản hoàn toàn nằm trong chức trách đã được hoạch định từ trước. Nhưng trách nhiệm đẩy lên trên, rồi trên cũng mù mờ tương tự, không có số liệu, không có thông tin, không biết đường nào mà quyết. Cứ như thế, đẩy qua đẩy về, chẳng ai chịu làm việc cả!

the second waltz

Chương trình âm nhạc cuối tuần, trở về với những giai điệu Nga, Dimitri Shostakovich, điệu valse số 2, nhạc phim Thê đội số 1… “Vấn đề” với Điệu valse số 2, Shostakovich là trong nguyên tác, dùng saxophone làm âm chủ đạo, cái âm trầm của nó không được sinh động cho lắm…

facebook.com / reel / 1363747395386762

Nên tôi không hình dung được hết sự hoành tráng, lớn lao của giai điệu những lần nghe đầu tiên. Chỉ trong một tông cao thì cái thuộc tính Nga mới nghe ra rõ ràng, và như lẽ thường, âm nhạc tức là dùng sự rung động ở thế giới này để hình dung về một thế giới khác…

Hạ Vũ

Vài năm trước, trên Wikipedia tiếng Việt có một “cuộc chiến sửa đổi” dữ dội, các bên tranh nhau sửa nội dung theo ý mình: mục Hạ Vũ, vị “hoàng đế” đầu tiên của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Giai đoạn này, dân tộc Hoa Hạ có dân số ước tính khoảng 2.5 ~ 4 triệu người, sống quanh đồng bằng sông Vị, sông Hoài, Hoàng hà! Chưa hình thành chế độ phong kiến tập trung mà mới chỉ là nhiều thị tộc tìm cách liên minh lại với nhau để hợp sức… trị thủy! Vì dân cư sống định cư với hình thức canh tác nông nghiệp, mà lũ lụt hàng năm tàn phá mùa màng! Lúc này tên nhân vật lịch sử chỉ đơn giản gồm 1 hoặc 2 chữ: Vũ, Cổn .v.v… vì xã hội còn chưa có họ.

Cổn theo lệnh của Nghiêu làm công tác trị thủy suốt 9 năm, be bờ đắp đập, xây dựng các tuyến đê lớn, nhưng cuối cùng vẫn thất bại, vẫn không khống chế được dòng nước lũ. Vì lý do đó, Nghiêu giết Cổn, và sai con của Cổn là Vũ tiếp tục sự nghiệp trị thủy. Vũ làm việc liên tục suốt 13 năm, đào nhiều kênh giúp phân tán, giảm bớt sức mạnh của dòng nước lũ, nhờ đó mà trị thủy thành công. Ở một thời đại còn chưa có chữ viết, nhưng người TQ đã tổ chức làm những công trình vĩ đại, với tinh thần trách nhiệm lớn lao, làm không được việc là sẽ có vài án tử hình rơi xuống, phải có ai đó chịu trách nhiệm, không có chuyện “trách nhiệm suông” được!

Theo Sử ký, Thuấn đã “thiện nhượng” – truyền ngôi cho người trị thủy thành công là Vũ. Nhưng ngày nay, qua những nguồn tư liệu khác, chúng ta biết Vũ đã ép Thuấn phải nhượng vị, đơn giản là người chỉ huy đại công trình trị thủy tức là nắm trong tay quyền huy động nhân lực / vật chất lớn nhất quốc gia. Bài học rút ra là: đắp đê tuy vẫn cần thiết ở một vài khu vực xung yếu, nhưng căn bản không giải quyết được vấn đề. Để trị thủy thành công, cần tạo ra nhiều chỗ trống để chứa nước, cần có các kênh rạch giúp dòng nước mau chóng phân tán, thoát ra biển. Đó là cách đây khoảng 4300 năm, người ta đã làm được những việc như vậy!

4300 năm sau, ở cái xứ Vịt kia, rất nhiều người vẫn chưa thể hiểu / nói cho cho đúng đắn! Chuyện rất đơn giản trên nguyên lý: cái chén dùng được là nhớ có chỗ trống bên trong để chứa nước, cái cửa dùng được là nhờ có chỗ trống bên trong cho người đi qua, cái thuyền dùng được là vì bên trong nó trống rỗng nên mới nổi trên mặt nước. Muôn vật dùng được là nhờ đến… “tính không”! Một xã hội toàn những “cái tôi” quá lớn, vừa to lớn vật vã, vừa méo mó đến mức biến dạng, ai cũng cố lấn ra một chút, ai cũng cố dành thêm một chút về phần mình, rút cuộc chiếm dụng hết sự “không”, thế rồi tự mình hại mình, tự biến thành nơi không ai sống được!

hồ bán nguyệt

Hồ Bán nguyệt và cầu Ánh sao, Q.7, thường ra đây đi dạo công viên và cũng đã chèo xuồng kayak đến đây chơi nhiều lần. Thoạt trông thì có vẻ như chỉ là một cái hồ nhân tạo để tạo ra cảnh quan tươi mát, bắt mắt, nhưng chức năng thực sự chính là một cái hồ điều tiết nước. Hồ Bán nguyệt rộng khoảng 3.4 hecta, theo ước tính của tôi trữ được khoảng dưới 100 ngàn khối nước. Rạch Thầy Tiêu và rạch Đĩa bên cạnh là những con rạch không lớn, lưu lượng dòng chảy cỡ dưới 300 khối / giây.

Nhẩm tính là sẽ thấy hồ Bán nguyệt có thể chứa khoảng 4 ~ 5 giờ nước, đủ cân bằng dòng thủy triều lên xuống! Đương nhiên đây chỉ là những con kênh nhỏ, lượng nước không lớn như sông Sài Gòn (có thể lớn hơn đến vài chục lần). Cũng tính nhẩm một chút thì sẽ hình dung ra được, để điều hòa thủy triều và dòng chảy sông Sài Gòn thì cần một không gian lớn gấp trăm lần hồ Bán nguyệt! Mấy trăm hecta này có muốn làm không, hay vẫn cứ san nền, phân lô, bán kiếm tiền trước mắt!?

Chuyện ai cũng hiểu, thiệt hại do ngập nước, chi phí nâng đường, kê nền lớp gấp hàng trăm lần cái diện tích để chứa nước này! Nhưng không sao khác được, ai cũng cố kê cho mình cao hơn, ai cũng “be bờ đắp đập”, ai cũng cố lấn ra thêm một chút, không ai chấp nhận tạo ra khoảng trống vì lợi ích chung của cộng đồng, cái dân tộc tính kiểu… tự hũy diệt, không làm được gì cho ra hồn! Vì có quá nhiều “cái tôi” quá lớn, lớn đến mức tạo thành những cục “máu đông” làm trì trệ phát triển!

vi tích phân, p2

SGK VN có một cái bệnh là chỉ toàn công thức, gần như không có một lời giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ tự nhiên” nào. Đưa ra một mớ công thức, định lý, hệ quả theo kiểu … kiến thức chết mà không đưa ra được ví dụ để làm rõ chúng rút cuộc có ý nghĩa gì? Thế rồi, thảy ra một đống bài tập, đẩy học sinh vào trò chơi “ký hiệu, biểu tượng” hoàn toàn chỉ mang tính chất đánh đố, vô hồn, vô nghĩa. Có lần tôi đọc một cuốn Giải tích tiếng Anh rất hay, hơn 500 trang khổ lớn (lớn hơn khổ A4). Mỗi khi đưa ra một công thức, định nghĩa, họ đều đưa ra vô số ví dụ minh họa!

Họ tìm cách giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ phổ thông của cuộc sống hàng ngày”: ví dụ, dẫn chứng từ thế giới thực, các câu chuyện lịch sử, thông tin “bên lề”, hình ảnh, biểu đồ, nhiều đến mức HS không thể đọc hết. Nếu chỉ để hiểu những điểm cốt yếu, hay để đi thi, thì chỉ cần đọc một số trang nhất định! Phần thông tin thêm, lớn hơn nhiều lần, là dành cho những cho những ai thực sự muốn hiểu sâu! Phần này, e là đến chính người viết SGK VN, chứ chưa nói giáo viên, còn chưa hiểu tường tận! Hệ quả là: đi thi thì được, làm thật… không được!

Cách trình bày thuần túy Toán học, toàn công thức… chỉ dùng được với những người đã có kinh nghiệm làm Toán lâu năm, không phù hợp với HS cấp phổ thông (thậm chí là cả cấp ĐH). Một công thức Toán có thể rất ngắn gọn, nhưng ý nghĩa và tính áp dụng thực tế của nó thì… thiên hình vạn trạng. Cách dạy Toán theo kiểu thuần túy công thức là chỉ phù hợp để… đi thi mà thôi! Muốn kiến thức đó trở nên hữu ích trong cuộc sống, đi vào thực tiễn nghiên cứu, sản xuất… thì đầu tiên phải nhìn cuộc sống thực theo cách đa chiều, muôn màu muôn vẻ đã!

Cũng như học võ vậy, cơ bản gồm 2 phần: “Hình – – kata – các bài quyền” và “Phân giải – 分解 – Bunkai – ứng dụng thực tế”. Hình là một tập hợp các động tác có tính trừu tượng cao, có quá trình phát triển lâu đời nên uyên áo, khó hiểu, còn Phân giải là muôn ngàn cách biến hóa triển khai, ứng dụng Hình vào thực tế chiến đấu! Mà Võ học (cũng như Toán) không phải chỉ bao gồm: Hình & Phân giải! Trừ khi bạn đi theo ngành Toán lý thuyết thuần túy, còn đa số chúng ta nếu chỉ học các bài quyền thì vẫn mới chỉ là làm màu, chưa phải là học võ thực sự

Nên không phải là Toán cao cấp không có ích, không cần thiết trong cuộc sống, nghiên cứu, sản xuất, etc… Vấn đề là bản thân người làm SGK, người và học Toán vẫn còn đang ở một trình độ… chưa thể hiểu hết ý nghĩa, khả năng biến hóa và tính ứng dụng thực tiễn của nó, và do đó, còn xem nó là vô dụng, là kiến thức chết! Thêm nữa là yêu cầu của cuộc sống, của nền kinh tế, sản xuất chỉ mới đang ở mức cộng trừ nhân chia, sơ khai đơn giản, chỉ một cái bảng tính Excel là đã đáp ứng đủ tất cả yêu cầu, còn chưa cần dùng đến Toán cao cấp!

Để sửa cách dạy và học Toán này không phải bắt đầu từ Toán, mà phải bắt đầu từ… Văn và Sử! Đa số người Việt, ngoài miệng thì hoa ngôn xảo ngữ, nhưng kỳ thực là che giấu bệnh “sợ chữ”, không đọc nổi một đoạn văn 10 dòng, hay cũng có đọc nhưng lười, không suy nghĩ sâu xa! Đầu tiên phải có chút công phu đọc hiểu, tìm tòi đã, không tìm tòi thì làm sao hiểu được: Toán chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những nỗ lực giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống! Đào bới lại lịch sử, nhìn lại những gì nhân loại đã làm… là tự khắc sẽ hiểu rõ thôi!

hoàng đế cởi truồng

Cuối cùng cũng đã có một người can đảm nói lên sự thật: hoàng đế cởi truồng !!! A.I. dạng LLM là hoàn toàn không có khả năng thông minh như con người! Nó chỉ xào xáo ngôn từ như một con vẹt, bên trong không hề có tí cấu trúc logic, không hề có một chút suy luận nào! Như trước đây tôi đã từng đưa ví dụ, dùng Google A.I. để tìm thông tin của một thiết bị điện tử, nó trả về các thông số: thiết bị tiêu thụ dòng điện 6 Amp, và có cầu chì 5 Amp (!!!) Cầu chì 5 Amp mà cấp dòng điện 6 Amp thì có phải là sẽ cháy ngay lập tức không, nhưng… A.I. không tự biết điều đó!

LLM – Large language model, về bản chất đó là một ANN – Artificial neural network – mạng nơ-ron siêu lớn, một mô hình máy học mang tính thống kê cố đi tìm mối liên hệ giữa các cụm từ. Đừng để bị đánh lừa bởi từ ngữ, nói là mạng nơ-ron nhưng chẳng có cái nơ-ron thần kinh thực nào đâu! Về World Model, mô hình “thế hệ mới” được cho là có khả năng “mô phỏng thế giới vật lý”, đây cũng chỉ là… thêm một cái ANN nữa mà thôi. Còn về “thế giới thực”: cảm nhận, kinh nghiệm, tri giác, nhận thức… đó là những gì thì đến nay, con người vẫn còn chưa biết rõ nữa là A.I.

vi tích phân, p1

Có một vài nguyên nhân khiến cho việc học Vi tích phân trở nên “khó nhằn”. Đầu tiên là từ nguyên: “nguyên hàm – hàm nguyên gốc” và “đạo hàm – hàm dẫn hướng – 导函“! Chữ “đạo – ” ở đây nghĩa là chỉ đường, dẫn hướng (tiếng Trung hiện đại dùng chữ “đạo hàng – 导航” để chỉ khái niệm định hướng, tìm đường – navigation). Giải thích cho HS tại sao vận tốc lại là hàm “chỉ hướng” của quãng đường, gia tốc là “chỉ hướng” của vận tốc, có thể dùng ví dụ trực quan là “vector tiếp tuyến”. Hay là dùng luôn chữ “hướng lượng – 向量” để chỉ khái niệm “vector” cho nó đồng bộ!?

Đồng thời cũng giải thích cho HS hiểu vì sao quá trình từ “nguyên hàm” tính ra “đạo hàm” lại gọi là “vi phân”. Chữ “phân” ở đây có thể hiểu là phân tích, cũng có thể tạm hiểu là phân chia, là cách nói gọn của “Giải tích – phân tích – analysis”! Vì sao quá trình ngược lại, từ “đạo hàm” ra “nguyên hàm” gọi là “tích phân – tính tổng”. Tôi dám cá nhiều HS còn chưa hiểu tại sao tích chính là tổng, phép cộng nhiều lần chính là phép nhân! Nên chăng phải có một chương “dẫn nhập”, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ, các lĩnh vực của ngành Giải tích…

Và giới thiệu sơ lược lịch sử của Giải tích: Newton, Fourier đã tìm cách giải bài toán Dự đoán thủy triều thế nào? Máy tính cơ học dùng để tính tích phân đã được chế tạo ra sao? Tại sao lịch sử vi tích phân lại quy về 2 người là Newton và Leibniz!? Tôi nghĩ, cách tốt nhất để học Toán phổ thông chính là học “Lịch sử Toán”, học để biết cả một quá trình phát triển! Cũng tương tự, cách tốt nhất để học Văn chính là học… Văn học sử: học Nguyễn Du thì ít nhất cũng nên biết sơ qua ông ta thân thế làm sao, sống trong bối cảnh thế nào!?

Khối lượng kiến thức “bên lề” này là… bao la, rộng hơn rất nhiều so với phần được trình bày trong SGK, nhiều điều ngay cả giáo viên giảng dạy còn chưa biết đến! Ngày xưa đi học, tôi sợ nhất là bản thân nổi hứng trích dẫn vài câu thơ “lạ lạ”, khả năng cao là sẽ bị phê: “Lạc đề”, cho 2, 3 điểm! Nói không phải chứ tôi biết rất rõ, ngoại trừ một vài trường hợp, phần lớn giáo viên Văn cũng chẳng biết được bao nhiêu văn, họ chỉ dò câu chữ xem học sinh có làm đúng “đáp án” hay không, chứ không có khả năng hiểu, bình phẩm và tán thưởng những ý tưởng mới lạ!

Hệ thống kiến thức là phát triển tuần tự theo dòng thời gian, và có lịch sử phát triển đôi khi còn phức tạp hơn cả bản thân kiến thức đó! Không thể chấp nhận kiến thức theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”! Học theo kiểu “từ trên trời rơi xuống” rồi sẽ sinh ra những loại người… “từ trên trời rơi xuống” mà thôi! Vấn đề kế là đừng sa đà vào công thức và bài tập khô khan! Ngay từ các khái niệm gốc, sử dụng nhiều ví dụ minh họa để HS hiểu rõ chúng có ý nghĩa gì trong thực tế, dùng để giải quyết những vấn đề thiết thực nào trong cuộc sống.

Vội vàng đi sâu vào các bài toán quá trừu tượng và phức tạp mà không giải thích rõ ràng những khái niệm cơ bản ngay từ gốc, không hiểu các kiến thức đó dùng để làm gì thì cũng giống như tự cưa cành cây mình đang ngồi trên đó vậy, cũng giống như học đủ các chiêu thức võ công, cái gì cũng biết mà… đứng tấn không vững vậy! Sau đó, nếu còn không hiểu nữa thì chỉ có thể đổ lỗi cho… cái bản tính nó “đoản – đoảng – ngắn” vậy thôi, ưa vung vít những chuyện tào lao trên trời dưới đất, nhưng không chịu hiểu những điều sơ đẳng, thiết thực!

thôi kỷ cập nhân

Ngữ nghĩa trong phim Trung Quốc đôi khi rất thú vị… Hai người bạn cấp 3, một nam một nữ ngồi uống với nhau vài lon bia, những lon bia “hợp pháp” đầu tiên sau tốt nghiệp! Bên trong từ lâu đã có tình ý, nhưng ngoài mặt vẫn đóng vai “anh em, huynh đệ”: Cậu xem, sau này thành công rồi nhớ chiếu cố đến tớ nhé! Người kia đáp: Yên tâm, sau này, chỉ cần tớ có bát cơm để ăn thì cậu sẽ có bát để… rửa! Nghe là biết tỏng kịch bản phim rồi, đây chính là câu để nói với… ông chồng tương lai ngày ngày rửa bát cho vợ!

以己度人 – 推己及人 – hai thành ngữ này hơi khó dịch ra tiếng Việt, “Dĩ kỷ độ nhân – 以己度人” có thể dịch là “suy bụng ta ra bụng người”, cũng hiểu là: “dùng tiêu chuẩn của bản thân bắt người khác phải thấp như mình”, nhưng “Thôi kỷ cập nhân – 推己及人” thì phải hiểu là: “thúc đẩy bản thân cho cao bằng (tiêu chuẩn của) người khác”, đây là 2 cách diễn đạt, 2 ý tứ hoàn toàn khác biệt! Trong nguyên bản thì mỗi thành ngữ đều 4 chữ, nhưng dịch trọn vẹn ý nghĩa ra tiếng Việt thì lại rất dài dòng!

điện khí hóa

Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ trong rất nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực có liên quan đến điện: tàu điện cao tốc, điện mặt trời, điện gió, truyền tải điện một chiều trên khoảng cách xa, các loại động cơ điện tiên tiến, máy phóng điện từ trên tàu sân bay, các loại pin tích năng, etc… Về các loại xe động cơ đốt trong, dù Trung Quốc hoàn toàn có thể chế tạo ra những chiếc xe hơi tốt, nhưng chắc chắn không thể thương mại hóa nó thành công! Vì lĩnh vực động cơ nổ trên xe bị… kiểm soát hoàn toàn bởi phương Tây thông qua hàng trăm ngàn patent (bằng phát minh sáng chế). Dù có sản xuất được xe tốt thì cũng chỉ bán qua được những nước kém phát triển, nơi không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, mà những dạng thị trường này thì lại chẳng đáng bao nhiêu.

Nên họ phải tìm ra một nhánh thị trường mới để vươn lên, đó là xe điện (và các phương tiện dùng điện khác), thực sự vươn lên chiếm lĩnh bằng cách đăng ký hàng trăm ngàn patent, tìm cách đi trước phương Tây! Nên mới nói, khoa học, kỹ thuật chẳng qua cũng chỉ là cách để đào tạo, thay đổi con người & xã hội, cơ bản từ gốc là do người có muốn thay đổi hay không mà thôi, không có công nghệ này, ta có thể tìm công nghệ khác! Kể từ lúc Tesla tranh luận với Edison về điện một chiều và xoay chiều đến nay đã hơn 120 năm, nhưng tiến bộ nhân loại đạt được nhờ điện vẫn xem như… chỉ mới bắt đầu! Câu nói của Lê-nin: “Chủ nghĩa Cộng sản = Chính quyền Xô-viết + Điện khí hóa” vẫn còn ý nghĩa, hơn nữa từ công thức đó ta có thể suy ra: Chính quyền Xô-viết = CNCS – Điện khí hóa!!! :D :D

triều Minh dưới kính hiển vi

Hiển vi kính hạ đích Đại Minh – triều Minh dưới kính hiển vi, là một bộ phim lấy chủ đề… Toán học! Triều Minh, thoạt nhìn thì là một triều đại “ổn định, thịnh trị”, nhưng bên trong lại có vô số vấn đề “nho nhỏ” về mâu thuẫn lợi ích và thủ đoạn chính trị! Soái Gia Mặc, ngay từ nhỏ đã là một thiên tài toán học, tính tình có chút cá biệt, suốt đời bị ám ảnh bởi các con số. Anh đã dùng kỹ năng Toán của mình để kiểm tra, hiệu đính các vấn đề đo đạc ruộng đất, tính toán thuế khóa, tham gia giải quyết nhiều vụ án chấn động đương thời. Phim quy tụ nhiều diễn viên thực lực, diễn xuất ấn tượng! Đó là triều Minh, hơn 600 năm về trước, bây giờ ta hãy quay lại VN của ngày nay…

Giả sử bạn đi vay nóng 20 triệu, người cho vay sẽ “cắt phế” 2tr, chỉ đưa bạn 18tr! “Cắt phế” là dùng đúng từ của đám cho vay nặng lãi hiện nay, xem như đã lấy trước phần lãi 10%, một tháng sau phải trả đủ 20 triệu! Cái “cắt phế” này là hoàn toàn sai, vì thực ra bạn chỉ vay có 18 triệu mà thôi, nếu lãi suất 10% thì sau một tháng, bạn chỉ phải trả 19.8 triệu, nếu nhân lên nhiều tháng (lãi mẹ đẻ lãi con) sẽ là một khác biệt rất lớn! Đây là một tình tiết ngay tập đầu phim, tính toán sơ đẳng có thể thấy đám cho vay nặng lãi đã gian manh như thế nào! Ấy thế mà ở Việt Nam, hơn 600 năm sau, dân trí vẫn còn đang ở mức không thể nói cho đúng đắn được!

hữu sở vi, hữu sở bất vi

Dân trí, đó không phải là “trí”, mà là… “tâm”! Không phải làm được điều gì, mà là… không làm những gì! Quân tử hữu sở vi, hữu sở bất vi… 君子有所为有所不为 – người quân tử có chuyện cần phải làm, có chuyện không được làm. Nôm na tức là nếu không loại trừ được những thành phần lưu manh, phá hoại, đĩ điếm… thì có làm được bao nhiêu cũng “của thiên trả địa” mà thôi. Có những loại suốt đời chỉ âm mưu phá hoại, muốn ăn mà không muốn làm, những loại này nếu không kìm hãm, loại trừ thì cả xã hội sẽ khốn khổ vì chúng! Em xem phim cổ trang Trung Quốc đủ nhiều để biết rằng: dân trí của xã hội sẽ phát triển qua rất nhiều giai đoạn khác nhau!

Giai đoạn đầu tiên chính là đấu đá, đâm chém nhau để dành ăn, dành lợi, trắng trợn không kiêng dè! Giai đoạn thứ nhì là âm mưu: hạ độc, dàn cảnh, gài bẫy, đặt điều, vu vạ. Sau những giai đoạn “sơ khai” đó mới dần tiến đến có ý thức về hành động của mình, dần trở nên “biết người, biết ta”, biết kìm “cái tôi” lại, bớt dần những chuyện lưu manh vặt vãnh, rồi dần biết tôn trọng người khác, tìm cách hợp tác phát triển. Cái “biết người biết ta” này, nói đơn giản như vậy, nhưng không biết phải mấy trăm năm nữa mới làm được!? Rồi dần trở mới nên thông minh hơn, nhìn rõ được bản thân, thấy được thế giới xung quanh như thế nào mà tính chuyện lâu dài hơn!

Văn hóa VN như hiện tại, chỉ mới đang ở giai đoạn 2 đã nói ở trên! Có vô số thành phần lưu manh tìm cách hạ độc người khác, bỏ độc vào đồ ăn thức uống, tìm cách bỏ thuốc kích thích, hay các loại hóa chất, tìm cách làm ô nhiễm không gian bằng âm thanh và bằng đủ thứ rác rưởi khác! Nhưng điều này đều hoàn toàn hiểu theo nghĩa đen chứ chẳng phải nghĩa bóng, ám chỉ, phiếm chỉ gì! Tôi đoán rằng, trong nhiều năm tới, rất cần tăng cường quản lý an toàn thực phẩm, dược phẩm, tăng cường năng lực xét nghiệm hóa chất, kiểm định môi trường… Đây không phải là “miệt thị dân tộc” đâu, chính là dân trí chỉ mới ở giai đoạn mông muội như vậy mà thôi!

cấu trúc ngôn ngữ

Tại sao nói các cấu trúc logic nhỏ trong ngôn ngữ là tối quan trọng trong việc hình thành nên tư duy!? Những ngôn ngữ có tính cấu trúc cao buộc người đọc/nghe phải chờ hết câu, đảo tới đảo lui trật tự để tìm ra các quan hệ logic và suy xét ngữ nghĩa muốn diễn đạt. Nó tạo ra một thói quen cẩn thận cho người dùng ngôn ngữ! Các ngôn ngữ có cấu trúc yếu như tiếng Việt không khuyến khích áp đặt những cấu trúc tư duy này! Cá biệt, à không phải cá biệt, mà là rất phổ biến, rất nhiều ngươi Việt chưa chờ người ta nói hết câu, mới nghe được 3 chữ là đã… nhảy vào miệng người khác ngồi rồi!

Gặp những loại cứ chăm chăm nhảy vào miệng người khác là tôi lập tức… không nói chuyện, loại này nói vô ích! Lúc nào cũng ta biết, ta đúng, ta hơn người… dần dần tạo ra một môi trường văn hóa xã hội như ngày nay! Xem ngôn từ như kiểu một trò chơi, đuổi hình bắt chữ vô cùng thiểu năng, vừa không hiểu hết chiều sâu ngữ nghĩa, lại không không dám làm đến tận cùng sức nặng ngôn từ! Ai nói điều gì đều tìm cách léo lận, bẻ cong đi! Rút cuộc chỉ xem ngôn từ như một dạng lòe người, bịp nhau mà thôi! Khi đến một vài câu chữ nhỏ nhoi cũng không hiểu được tức là xã hội đại loạn!

Tự tạo nghiệp thì đành chỉ có cách để cho nhân – quả quyết định mà thôi! Tôi nhớ một thời, khoảng những năm 80, phim TQ hoàn toàn mang đầy đủ tính “chính kịch”, xem từng đoạn, từng đoạn mà cứ tưởng như là đang đọc Shakespeare vậy! Nhưng càng ngày, phim ảnh TQ càng mang tính giải trí, đủ thể loại thượng vàng hạ cám khác nhau! Nhưng dù là cao hay thấp thì phim TQ đa phần đều có kịch bản tương đối ổn, ngôn từ, ngữ nghĩa đều có chiều sâu nhất định! Đừng vì không lãnh hội được ý nghĩa của người khác mà cho rằng ai cũng “thiểu năng, rỗng tuếch” giống như mình như vậy!

giày

Trước có xem một clip cách người TQ xưa làm giày… Chí ít là từ thời Minh, hơn 600 năm trước, giày của họ có đế làm từ tre: thanh tre được đập đến tơi nhuyễn, tước thành sợi, bện lại thành dây thừng dẹt! Những sợi thừng tre được quấn lại làm đế giày, cấu tạo rất thông minh, vô cùng bền chắc, phần thân giày may bằng vải dày, gần giống như giày bata thể thao ngày nay!

Và họ đã sản xuất ở quy mô lớn, có thể trang bị cho hàng chục vạn quân cùng một loại giày như thế. Xem rất nhiều những hình ảnh VN xưa cũ, mãi đến tận những năm 194x, phần lớn vẫn là đi chân đất. Chỉ một số ít quan lại cấp cao mới có giày đi, và số giày này cũng không tự sản xuất được, đều là mua từ TQ. Vì còn mãi ngồi đó bốc phét làm tàu hơi nước mà…

trung quốc mộng

Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa,
Thuỳ tiên trực phất ngũ vân xa.
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc,
Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

Giới phê bình phương văn học phương Tây thường chê cười rằng, hơn 50 năm qua, từ sau Lỗ Tấn, văn học Trung Quốc không xuất hiện tư tưởng gì mới. Phê bình đó, nói theo một cách nào đó, cũng tương đối đúng! Văn học TQ, ngay từ xa xưa, Tam Quốc diễn nghĩa, cho đến Hồng lâu mộng, cho đến mãi sau này, đều… không có tư tưởng mới lạ, đột xuất. Họ chỉ tập trung hoàn toàn, gần như là một dạng sa đà đến mức thái quá vào chi tiết, những điều ta xem là những tiểu tiết nhỏ nhoi, lặt vặt của cuộc sống!

Mức độ kỹ càng, chi tiết này thật sự là đáng kinh ngạc, khi các nhà văn TQ có xu hướng xem trãi nghiệm cuộc sống, sự từng trãi, lăn lộn qua đủ các góc cạnh nhân sinh còn… cao hơn giá trị tư tưởng. Đúng ra, thuộc tính của văn học TQ là như thế, điểm yếu của họ ở đó, mà điểm mạnh cũng là đó, chẳng cần phải “triết học”, “tư tưởng” cao siêu gì, cứ làm những điều bình thường cho kỹ lưỡng, làm đến mức sâu xa là được! Khởi nguyên, đó là do điểm yếu của ngôn ngữ, rồi dần dần trở thành một sự… lựa chọn!

Giấc mộng Trung Hoa, theo kiểu họ thường nghĩ tới, đó chính là… Hồng lâu mộng! Nhắc lại lịch sử đầu thời Minh, Từ Đạt, người đã thu hồi Đại Đô (Bắc Kinh) và đánh vào Thượng Đô (Karakorum), loại trừ hoàn toàn thế lực Nguyên – Mông ra khỏi TQ. Là đệ nhất công thần của Minh Thái tổ, may mắn thoát khỏi cuộc đại thanh trừng! Công lao vô cùng lớn nhưng không thể phong vương (tước vương chỉ dành riêng cho Hoàng tộc), nên đành phong Quốc Công, mà Quốc Công thì hơi nhỏ, không tương xứng…

Nên phải phong 2 tước Quốc công, một nhà được lập 2 tước Quốc công, chuyện chưa từng có trong lịch sử TQ. Hai tước Quốc công này là nguồn cảm hứng của Ninh quốc công và Vinh quốc công trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Giấc mộng Trung Hoa không gì khác hơn là đạt được: “Ninh & Vinh”, sức mạnh quyền thế và kinh tế! Đương nhiên thời đại đã khác, không nên hình dung cuộc sống chỉ đóng khung như thời phong kiến. Khoa học, kỹ thuật, tư tưởng sẽ mở ra vô số khả năng biến động mới…

flogging

Với cái “tư duy nhân đạo”, bỏ các hình phạt “xúc phạm thân thể” như đánh roi đối với học sinh! Và thế là trong nhiều trường hợp, luật pháp đứng trước một lưỡng đề nan giải: hoặc là không thể phạt, hoặc là phải phạt tù… mà không có các hình thức trung gian. Nói gì thì nói, “tác động vật lý” vẫn có một sức cải tạo không nhỏ, trong nhiều trường hợp, không có cái “vật lý” này, chỉ giáo dục bằng “ngôn từ” suông sẽ hoàn toàn vô tác dụng. Nhẹ nhàng thì có thể bắt đi lao động công ích như quét đường, dọn vệ sinh.

Nặng hơn một chút thì có thể phạt đánh roi (caning), đây là loại roi nhỏ làm bằng mây, tre, thường chỉ gây vết thương ngoài da, không chạm vào gân cốt. Nặng hơn nữa thì có thể phạt đánh roi da (flogging), nặng hơn nữa thì phạt trượng (gậy gỗ lớn), nhưng 2 hình thức sau có thể gây tổn hại sức khỏe nghiêm trọng, từ lâu đã được bãi bỏ trên toàn thế giới! Nên chăng chia thành 3 giai đoạn trưởng thành, với một đoạn trung gian từ 15 đến 18 tuổi, thay vì chỉ có “thành niên” và “vị thành niên” như hiện nay!

Người VN thường bị bệnh… sĩ, mới đưa đi lao động công ích quét đường đã tự xem là một sĩ nhục lớn, không biết trốn vào đâu! Nhưng với kiểu dân trí như VN ngày nay, không cứng rắn làm sao thay đổi!? Như với Hải quân Hoàng gia Anh ngày xưa, hình phạt roi da (flogging) là rất phổ biến, trên lý thuyết, thuyền trưởng chỉ được quyền đánh đến tối đa 12 roi, nhưng thực tế, thường đánh hơn số đó rất nhiều! Nạn nhân thường không phản kháng vì… nếu kiện cáo lên trên, ra tòa án binh thì chỉ có phạt nặng hơn mà thôi!

Tất cả các nước phát triển trên thế giới đều đã trãi qua những giai đoạn như vậy: “một tay nắm tóc, một tay quất roi vào mông”! Với những trình độ dân trí khác nhau cần phải có những dạng hình phạt khác nhau! Chỉ đến khi xã hội đã có một quá trình (có thể hàng trăm năm), đã phát triển thành nề nếp văn minh, mới có thể cân nhắc loại bỏ dần những hình thức xử phạt không “nhân đạo” lắm! Dân trí vẫn như thời “công xã nguyên thủy” mà kêu gào “nhân đạo”, “xử phạt văn minh”, thật vô cùng quái lạ!!!

như một tách trà

Một trong những phim thanh xuân TQ tôi xem thích vô cùng… Phim cân bằng tốt giữa tính thực và tính kịch, giữa hiện trạng, hiện thực và sáng tạo, vị lai! Cũng giống như Tề Bạch Thạch khi nói về tranh vẽ vậy: “vẽ tranh vi diệu ở chỗ vừa giống vừa không giống, nếu quá giống tức là chiều theo thế tục, mà không giống thì là nhạo báng nhân gian…” Phim ảnh mà chỉ chăm chăm đi phản ánh thực tế một cách trần trụi, sống sượng, thô bỉ… thì chả khác nào những kiểu: giả gái, giả pede, giả tiếng, bắt chước, etc… giống như hài HL, kiểu hài mà tôi phải lấy ngón tay tự thọc lét thì mới cười được!

Sự phản ánh thực tế một cách thô bỉ, sống sượng cho thấy cái mà người Việt rất lạm xưng, gọi là “nghệ sĩ” phần lớn chẳng có tư duy thẩm mỹ, sáng tạo gì, chỉ copy lại thực tại một cách thiểu năng, giống như đứa con nít 3 tuổi vậy! Sự sáng tạo, nếu hợp lý, vừa đủ, tinh tế sẽ cho thấy những chiều hướng phát triển của tâm lý, tâm hồn con người, qua đó phác họa nên đường hướng phát triển văn hóa xã hội, khi đó thể hiện được sự nhạy cảm, tài năng của người làm nghệ thuật! Đương nhiên cũng có loại “sáng tạo” quá đà, vẽ ra những thứ ngôn tình, hư ảo, không thực!

Phim có một trường đoạn rất hay: thằng con chơi thể thao gặp tai nạn, bị chấn thương, được các bạn cùng lớp đưa đến bệnh viện, trực tiếp phẫu thuật cấp cứu lại là… mẹ của thằng bé, làm bác sĩ tại bệnh viện đó! Bước ra từ phòng phẫu thuật, bà mẹ nói để trấn an những đứa trẻ đang lo lắng chờ đợi ở bên ngoài: “Lúc này, chúng ta nên tin tưởng vào khả năng hồi phục của bệnh nhân!” Và rồi, dường như chợt bừng tỉnh, thoát ra khỏi cái vai làm bác sĩ, trở về với cái vai làm mẹ, bà nói tiếp: “Ah, cô nói thế chỉ là do bệnh nghề nghiệp mà thôi!” Một trường đoạn thực sự rất hấp dẫn…

Phim thanh xuân hay ở chỗ, chính từ trong sự mơ hồ, không chắc chắn của lứa tuổi, cho phép người ta tạm đóng nhiều vai như một hình thức tự vấn, nhìn vấn đề từ nhiều hướng. Sự vận động nội tâm này làm nhân vật trở nên phong phú, trưởng thành! Nhiều người Việt cũng luân phiên “diễn” nhiều “vai” như vậy, nhưng thay vì suy nghĩ cho sâu xa để cho bản thân trở nên có chiều sâu, họ đã cố gắng tối đa mà chỉ đạt được một mớ ngôn từ hàm hồ, xàm xí, động cơ tối hậu chỉ là diễn để bịp người, TQ còn tế nhị gọi là “tiểu thông minh”, chứ nói thẳng ra chính là… lưu manh vặt, ngu xuẩn!

từ nguyên: cam sành

Cam – là một từ Hán Việt đã mượn từ rất xa xưa, thế còn “cam sành” thì sao?! Sành chính là âm đọc mới sau này của – âm Hán Việt xưa đọc là tranh – chanh! Từ này, ngay từ gốc là đã có sự nhập nhằng về nghĩa: vừa dùng để chỉ loại cam vỏ dày, vừa dùng để chỉ trái chanh! Để phân biệt thì người ta hay dùng 香橙 – hương tranh để chỉ trái chanh! Như thế cùng một mặt chữ là: , nhưng tiếng Việt mượn đến 2 lần, một lần đầu để chỉ quả chanh, và một lần sau để chỉ một giống cam vỏ dày gọi là (cam) sành!

Còn để chỉ loại chanh Tây quả to, màu vàng mới sau này, tiếng Trung hiện đại dùng chữ 柠檬, phiên âm trực tiếp từ tiếng Anh “lemon”, nhưng âm Hán Việt đọc là… “ninh mông”! Có thể thấy cái nhập nhằng ninh-linh, N và L đã có gốc gác xa xưa, không phải là chuyện đơn giản! Qua nhiều ví dụ khác có thể thấy rõ, những dạng phát âm tiếng Việt “không chuẩn”, như “N-L” ở miền Bắc, và “V-D” ở miền Nam, đều là do ảnh hưởng trực tiếp từ tiếng Trung (hoặc các phương ngữ TQ) tại nhiều thời điểm khác nhau!

ảo giác A.I. – A.I hallucination

Con người dùng ngôn ngữ tự nhiên để giao tiếp, để mô tả thế giới xung quanh! Nhưng tất cả các ngôn ngữ tự nhiên, dù ngữ pháp chặt chẽ đến đâu, cũng có nhiều điểm yếu, mà yếu nhất là tính logic, tính cấu trúc và tính trình tự. Nhiều khi, rất nhiều người học được một mớ ngôn từ, nhưng không thực sự hiểu nội dung bên trong, họ tự tạo ra một cái “ảo giác hiểu biết – hallucination”! Về điều này thì A.I. hiện nay cũng giống y hệt như con người, và chúng ta có thể dùng “tấm gương” A.I. đó để tự tìm hiểu xem, phải chăng chúng ta cũng có rất nhiều “ảo giác” suốt bấy lâu nay!?

Một ví dụ là “Trương Định & Trương công Định”, chữ Hán “Trương công Định” là ý nói: ông (công) họ Trương, tên Định. Vì không hiểu cái cú pháp “xxx-công-yyy” này nên nhiều người Việt tự tạo ra một cái ảo giác, bịa ra nhân vật không có thật mang cái tên “Trương Công Định”. Do tiếng Việt mượn từ tiếng Hoa một số lớn từ vựng, câu chữ nên những “ảo giác” do hiểu sai chữ Hán phải nói là… Hằng hà sa số, không đếm hết! Và đã “ảo giác” từ cả ngàn năm nay chứ không phải gần đây mới có! Những bạn đọc trên blog này có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ trong các post trước.

Cũng tương tự như vậy, “Lê thị A”, “Nguyễn thị B” là dạng “ảo giác” đã phổ biến đến mức người Việt chấp nhận đó là… hiển nhiên! Xưa đi học, từ cấp 1 cho tới… cấp 4, tôi có thể dễ dàng nhận ra nhiều dạng “ảo giác” này: tự cho là mình hiểu một điều gì đó, nhưng thực chất hoàn toàn không phải vậy. Những người thông minh đôi khi mất vài ngày, vài tuần để nhận ra chỗ sai. Nhưng cũng có rất nhiều người suốt đời chỉ thu lượm được toàn các loại ảo giác, còn không tự nhận thức ra được! Nên mới nói: ngôn ngữ vừa là công cụ trợ giúp tư duy, lại cũng vừa là… dẫn hướng lầm lạc!

Ngày xưa, việc tạo ra các “ảo giác hiểu biết” khi tiếp cận nguồn Hán học là một hiện tượng vô cùng phổ biến, đến mức nhiều người nói “nhăng cuội” theo kiểu “bùa chú”, nói mà không hề hiểu mình đang nói cái gì! Những tưởng vì chữ Hán khó học mới thành ra vậy, hóa ra đến khi tiếp cận nguồn Tây học rồi cũng y chang thế, lâu lâu lại xuất hiện vài ku “ngáo nặng” kiểu: ‘Thuyết hấp dẫn mới’ của Bùi Minh Trí, hay rất nhiều các thể loại “triết học” khác! Đó là chưa kể một bộ phận lớn người Việt cố tình tạo ra các “ảo giác hiểu biết” chỉ để làm màu, lòe người, hay để đi bịp người khác!

Hiện tượng “ảo giác” xảy ra khi con người (hay máy móc) tìm được một liên hệ mang tính thống kê giữa các cụm từ, từ đó dẫn tới giả định rằng giữa những cụm từ đó có một mối quan hệ logic, hay là truyền tải một nội dung nào đó. Đó là sản phẩm của những đầu óc ngây ngô, giản đơn kiểu như con nít, chưa từng được đào luyện qua những tập ngữ vựng (corpus) rộng lớn, phức tạp! Nôm na tức là họ chỉ nhớ được một số từ vựng cơ bản, rồi vì một động cơ nào đó, tự suy diễn, tự bịa ra những nội dung tào lao mà bên trong não bộ không hề có bất kỳ sự tự vấn, kiểm chứng nào!

Với máy móc, đó đơn thuần là do “hạn chế kỹ thuật”, các lý do “phần cứng, phần mềm” hay là do “dữ liệu” chưa đủ. Với con người, ngoài lý do “phần cứng, phần mềm”, quá trình học vấn, rèn luyện ra, lý do lớn hơn là… “do tâm”! Là do cái tâm cuồng loạn, không có công phu tìm hiểu, học hành điều gì cho tử tế, nhưng lại cứ muốn thể hiện! Dưới những áp lực xã hội quá lớn, cái tâm trở nên bất chấp, tự nó tưởng tượng ra những thứ gọi là “hiểu biết, trí thức”, tự nó hoang tưởng đến mức cố cùng! Về điều này thì GS. Cao Xuân Hạo đã viết một bài về chứng “vĩ cuồng” rất đáng đọc!

Tuy vậy, hiện tượng “vĩ cuồng” mà GS. Cao Xuân Hạo đã đề cập đến là tương đối cá biệt, ít xảy ra, còn hiện tượng “vi cuồng” mà post này đang nói tới, thì đối lập lại, chính là từ trong những “ảo giác hiểu biết” dẫn đến cái “chấp ngã”, “ta là đúng”, “ta hơn người”, dẫn tới những cái tôi đấu đá, kình chống nhau, bày ra đủ trò lưu manh lặt vặt, rồi tiếp tục dẫn tới những kiểu cá tính “mãi không chịu lớn” rất thường thấy trong xã hội ngày nay. “Vi cuồng” gây ra những hậu quả thảm khốc hơn “vĩ cuồng” rất nhiều, vì nó phổ quát, sâu rộng đến mức đã trở thành một kiểu “dân tộc tính”!

Chính vì ngôn ngữ lỏng lẻo, nghèo nàn và tùy tiện nên đã đẻ ra những kiểu người chỉ biết có “ảo giác”, “giả tri thức”, bất kỳ lúc nào cũng có thể trở nên “nguy hiểm”! Các ngôn ngữ có tính cấu trúc cao tự bản thân nó đã có một lợi thế nhất định, khi ép buộc người dùng ngôn ngữ vào trong khuôn khổ của những cấu trúc logic nhỏ, giúp loại bớt đi một phần các “ảo giác hiểu biết”. Cũng chính vì tự ý thức được những yếu kém trong ngôn ngữ nên người Trung Quốc rất chú trọng tính chi tiết, kỹ càng và tính kỷ luật trong giáo dục, thậm chí đẩy sự rèn luyện này đến mức khắc nghiệt!

Đó là nói những ngôn ngữ tính cấu trúc yếu như tiếng Việt, còn những ngôn ngữ có tính cấu trúc mạnh như tiếng Anh, Pháp, Nga… thì sao!? Thì cũng y như vậy mà thôi, chỉ là ở một cấp độ cao hơn, phức tạp hơn. Hiện tượng “ảo giác” trong thế giới khoa học, công nghệ, lập trình là… nhan nhãn. Một ví dụ là “async / await”, tự cho rằng mình tìm ra được cách giải quyết vấn đề mới, thực chất còn chưa hiểu được các vấn đề lập trình song song kiểu cổ điển. Kết quả là không hề tạo ra được một giải pháp mới nào, tự bịa ra một loại cú pháp dư thừa vô ích, mà dư thừa tức là có hại!

A.I, đó chỉ là một khái niệm tập hợp (umbrella term) bao gồm vô số thể loại khác nhau! Có những loại A.I. làm những công việc phức tạp, tạo ra những kết quả kỳ diệu, những loại đó thường không nói gì, thậm chí không mấy ai biết đến! Còn cái loại như LLM – sinh ra là để nói nhiều, thì rõ ràng không hiểu được bao nhiêu! A.I. như kiểu LLM, chính là một cái gương phản chiếu thế giới con người, con người thế nào, não trạng như thế nào thì tạo ra được loại A.I. giống y như thế! Chỉ là một tấm gương phản ánh con người mà thôi, thậm chí còn là một tấm gương méo mó!

Nhiều loại A.I. thực sự hữu dụng thường… không tự nhận mình là A.I., thậm chí cố tránh không sử dụng thuật ngữ A.I. Còn những loại đi đâu cũng… “ta đây A.I.” chính thực là những mô hình LLM “to mồm” nhưng “rỗng tuếch”. Chỉ có thiểu năng mới cho rằng ChatGPT, OpenAI… là có “hiểu biết”, đó bất quá chỉ là những công cụ giúp tìm kiếm, sắp xếp thông tin mà thôi, thông tin chính xác tới đâu vẫn còn chưa bàn tới! Chỉ có ngu xuẩn mới cho rằng cần ứng dụng ChatGPT, OpenAI… vào giáo dục, nhất là ở các cấp sơ học, hay bản thân còn cảm thấy chưa có đủ “ảo giác”?

Mục tiêu của giáo dục không phải là biết được những gì, tích lũy được bao nhiêu thông tin. Mục tiêu của giáo dục là giúp xây dựng nên cách thức tư duy, suy nghĩ! Cách nhanh nhất để hũy hoại đầu óc một con người là làm anh ta “bão hòa” với một mớ thông tin vô bổ, tạo ra những “ảo giác hiểu biết”, và rồi cứ thế lặp lại như con vẹt vậy, chứ không thực sự hiểu được nội hàm bên trong. Và đó cũng là cách mà các nền văn minh tiên tiến tìm cách “nô dịch” các dân tộc chậm tiến, anh chỉ việc “biết như thế” thôi, biết như thế là đủ rồi, còn tôi sẽ tạo ra những cái để cho “anh biết”!