tại sao kayak? phần 4

Từ xa xưa, châu Âu đã có những loại canoe nhỏ, hẹp, chèo bằng mái chèo đôi, nhưng họ vẫn gọi đó là canoe. Cho đến khi những mẫu thuyền kayak của người Eskimo, người Inuit “du nhập” vào châu Âu, thời gian đầu nó vẫn chưa được thừa nhận chính thức. Có vẻ như người châu Âu đã nhận ra ưu điểm của loại thuyền mới này (gọi đúng theo phiên âm thổ dân phải là qajag), nhưng vẫn “ngoan cố” sửa những chiếc canoe của họ cho dài hơn, hẹp hơn, chứ chưa chịu cho kayak một “danh phận” chính thức!

Thế nhưng, phải đến khi có những tiếp xúc, những bản tường trình, báo cáo “tai nghe mắt thấy” về cái cách những người thổ dân Inuit, Eskimo, Aleut, Greenland… dùng thuyền kayak để đi săn hải cẩu, thực hiện những cuộc hành trình kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần, băng qua những vùng biển băng tuyết lạnh giá, trong những điều kiện thời tiết bão tố, sóng to gió lớn đến mức “không tưởng” thì người châu Âu mới bắt đầu có những cái nhìn khác đi, nghiêm túc hơn về loại thuyền này.

So với rowing canoe, kayak không thể nhanh bằng, cũng không thể chở nhiều hàng hoá bằng, và có vẻ như nó cũng không an toàn bằng, khi chiếc thuyền quá bé, và vị trí ngồi gần như là sát mặt nước. Thực ra xét ra trên mọi phương diện, kayak chẳng có gì nổi trội hơn các loại thuyền khác. Nhưng những bằng chứng về khả năng sống sót trong môi trường biển động, khả năng vượt qua những chặng đường dài trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm cái nhìn của người phương Tây thay đổi.

Đành rằng sống sót và tiến lên phía trước, điều đó phụ thuộc phần lớn vào khả năng của người chèo, và những tộc người Aleut, Eskimo… nổi tiếng là những con người dẻo dai, sắt đá, điều đó là do môi trường sống tôi luyện nên. Nhưng phần khác, từ góc độ kỹ thuật, cũng là do thiết kế của con thuyền. Mỗi chiếc kayak đều được đóng sao cho sít sao, phù hợp với người chèo nó, kiểu như ta phải đo chân để đóng giày cho vừa vậy. Cho đến hiện tại, người Inuit vẫn đóng kayak theo những thước đo “không giống ai”.

Họ có những “cách đo lường sinh trắc học”, ví dụ như: thân thuyền nên dài khoảng gấp 3 lần chiều cao người chèo, bề rộng của thuyền nên bằng bề rộng của vai cộng thêm khoảng từ 4 đến 8 ngón tay… Ấy thế nên mỗi người tự đóng cho mình chiếc thuyền phù hợp với cơ thể của chính mình, không có chiếc kayak nào giống chiếc kayak nào cả. Và thực sự, đến bây giờ, sau khi đã đóng 4 chiếc kayak, tôi mới có được cái cảm nhận rằng, cách đo lường như vậy có cái “lý” thâm sâu nội tại của nó!





tại sao kayak? phần 3

Nói như thế nghĩa là chẳng có ranh giới rõ ràng nào giữa một kayak và một chiếc canoe nhỏ. Những nỗ lực cải tiến thiết kế và trang thiết bị độ 10, 15 năm gần đây đã dần dần dẫn đến chỗ khả dĩ có thể hình thành một định nghĩa chung chung cho cái gọi là kayak. Có một điều khá chính xác, đó là kayak luôn dùng mái chèo đôi (double blade paddle), nhưng còn lại, không có gì có thể định nghĩa rõ ràng rành mạch cả. Người ta dùng “kayak” cho một loạt những hoạt động thể thao khác nhau:

1. Surfing kayak, hay kayak lướt sóng (surf) ven bờ: đây là những thuyền rộng bề ngang, ngắn (khoảng 6 ~ 12 feet) dùng để vượt qua những đoạn nước biến động mạnh. Thân thuyền thường làm bằng nhựa có độ mềm, độ đàn hồi cao để chịu được va đập. 2. Touring kayak: thường có chiều dài 12 ~ 16 feet, ổn định, an toàn, và như tên gọi, thường dùng cho du khách đi vãn cảnh loanh quanh độ vài chục km, thể loại này cũng không phải là một hình thức cố định, cũng có nhiều kích thước khác nhau.

3. Sea kayak: đặc trưng là thân thuyền dài (16 ~ 21 feet), thon gọn (bề ngang thường nhỏ hơn 60 cm), có khả năng cắt qua những con sóng vừa phải, thích hợp để đi đường trường, có thể lên đến hơn 60, 70 km mỗi ngày, linh hoạt, uyển chuyển để phù hợp với hàng loạt những điều kiện sóng gió khác nhau dọc đường đi. 4. Racing kayak: loại này tôi không bàn đến, vì nó hy sinh mọi thứ, độ ổn định, tải trọng để đạt được vận tốc nhanh nhất, nên không có chút giá trị nào khi dùng cho cruising.

5. Surf ski: là một tiến hoá hiện đại nhất, gần đây nhất của sea kayak, thân thẳng, bánh lái nằm dưới đáy thuyền gần đuôi, cockpit mở, chuyên dùng để lướt sóng hay để đua, nhưng tải trọng tương đối hạn chế, cũng không thích hợp cho cruising. Trong loạt bài viết này, chữ “kayak” là ám chỉ đến loại “touring kayak” hay “sea kayak” như sẽ giải thích rõ hơn sau đây. Trong 5 loại trên, chỉ có touring kayak và sea kayak là thích hợp để cruising, thực ra cũng không có biên giới rõ ràng giữa hai thể loại đó.

Khi ta chèo trong môi trường sóng lớn, những thân thuyền có bề ngang rộng thường lắc lư dữ dội, đến mức cảm thấy bất ổn. Ngược lại, những thân thuyền thon gọn, tuy cảm giác ban đầu có vẻ như là kém ổn định, lại cắt, trượt qua con sóng dễ dàng. Nên thuyền chèo trong môi trường biển thường có thiết kế dài và hẹp, và quan trọng là để giảm bớt năng lượng tiêu phí đẩy con thuyền về phía trước. Ấy hầu như là một quy luật chung, và cũng là một lời giải thích hợp lý cho các kiểu thiết kế sea kayak.





tại sao kayak? phần 2

Tôi biết nhiều người “thích nước”, thích theo kiểu mang một con heo sữa quay và chai rượu lên thuyền ra giữa sông ngồi nhậu ấy! Những người như thế, họ không bao giờ hiểu được cái ý nghĩa của sự vận động, hiểu được cái tác động tích cực của chèo thuyền lên tâm sinh lý con người. Chèo thuyền đường trường, vượt qua sóng gió, thử thách, ấy chính là một quá trình chuyển hoá, tự chuyển hoá bản thân thành một con người khác. Có những người thích tự chuyển hoá bằng rượu hơn, không cãi với họ được!

Mà tại sao lại là chèo, mà không phải là buồm!? Buồm là một khung trời khác, có cái đẹp lãng mạn xa vời riêng của nó. Tôi cũng mê buồm, thậm chí là còn mê hơn cả chèo! Chèo chỉ là một anh chàng nông dân thô vụng, bên cạnh quý ông buồm lịch lãm, quý tộc. Nhưng mà “cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, thế nên trong tương lai gần, tôi vẫn thích gắn bó với chèo, buồm là để dành cho một tương lai xa hơn, khi tôi tìm ra được một mục đích hành trình phù hợp với nó!

Nói thế có nghĩa là dù là bơi, chèo, buồm, hay máy, vâng vâng… tất cả chỉ là những phương tiện phục vụ cho hành trình của chúng ta mà thôi. Ấy có nghĩa là bạn muốn có một hành trình như thế nào, mục tiêu phương châm nó là gì, bạn sẽ tìm được cái công cụ đúng để phục vụ cho mục đích ấy! Thuyền như một người phụ nữ đẹp, nhưng cái đẹp ấy vô nghĩa nếu nó không đi cùng ta suốt những hành trình dài, không dùng nó để trải nghiệm hết tất cả những sắc màu khác nhau của cuộc sống!

Bốn năm, cặm cụi thiết kế, đóng và chèo bốn chiếc kayak khác nhau, nhưng đến tận giờ tôi vẫn chưa thấy thật sự hài lòng với bất kỳ chiếc nào. Mỗi chiếc có những ưu điểm, nhược điểm riêng, và tất cả đều có thể được tiếp tục cải tiến để được tốt hơn. Và tôi sẽ còn tiếp tục đóng nhiều chiếc nữa. Ấy là một quá trình “tối ưu hoá” trên một khoảng hẹp, liên tục hoàn thiện, cải tiến. Như thế vẫn tốt hơn là nhảy hết từ loại thuyền này đến loại thuyền khác mà không có được cái cảm nhận sâu sắc nào về chúng!

Nếu như bạn vẫn đang đọc tiếp đến đây, thì sau đây là những giải thích mang tính ngẫu hứng, dông dài, vụn vặt, không có tí hệ thống nào cả. Trước hết, cái chữ kayak không có một định nghĩa chính xác, nó chỉ thực sự hình thành nên một cái gì đó có thể gọi tên, có thể phân loại được trong độ vài chục năm gần đây. Còn trước đó, người ta gọi chung là “canoe”, và thực sự cho đến hiện tại, một số cá nhân thuộc dạng tương đối bảo thủ như ở Anh quốc vẫn gọi nó là canoe chứ không gọi là kayak.





tại sao kayak? phần 1

Hứng viết chơi, giải thích dông dài chút về 4 năm thiết kế, đóng và chèo 4 chiếc thuyền kayak. Bài viết dài này không nhằm mục đích để giải thích cho người khác về thú chơi kayak. Đơn giản là trong suy nghĩ, tôi đã có quá nhiều băn khoăn lựa chọn giữa: paddling, rowing, sailing… đâu là hình thức phù hợp với mình, và phù hợp để cruising, đi những chặng đường thật dài. Viết chỉ để tổng kết kinh nghiệm cá nhân, và để có một cái nhìn cô đọng, chính xác hơn về kayak và kayaking mà thôi.

Trước hết, điều gì đem tôi đến với kayak? Trước hết là sự say mê cảnh sông nước, biển vịnh, đầm phá… những cảnh quan thoáng đãng và rộng rãi (sông cũng có nhiều chỗ rộng, nhưng đến một lúc, bạn sẽ thấy nó chật hẹp). Mà đó phải là loại nước có chuyển động, có dòng chảy, có sóng, có thật nhiều gió máy, chứ tắm ao, tắm hồ thì có gì là thú vị!? Trên cái nền chuyển động ấy, cái bập bềnh của con thuyền, cái động tác nó lướt, trượt, cắt ngang qua những con sóng chẳng phải là tuyệt đẹp đó sao!?

Sông và biển có muôn ngàn sắc thái đổi thay, lúc dịu êm, khi dữ dội, lúc tĩnh lặng, khi dào dạt. Bờ biển sáng tinh mơ có một vẻ tươi sáng tráng lệ, lúc chiều hôm lại có nét trầm lặng sầu u, khi nắng trời thì đẹp lộng lẫy, lúc mưa rơi lại buồn cô tịch. Để chứng kiến muôn ngàn sắc thái ấy, chỉ có một cách duy nhất là làm những hành trình thật dài. Ấy là ta không muốn bỏ sót bất kỳ một trạng thái cảm xúc nào của nó, nếm trải tất cả những sắc thái khác nhau của nó, dù đó là buồn hay vui, tích cực hay tiêu cực.

Nước, ấy chính là nơi khởi nguồn của sự sống, mà cũng chính là sự ẩn dụ về những biến động khôn lường của cuộc sống. Thế nên ai chưa biết bơi thì không cần và không nên đọc tiếp, chẳng ích lợi gì đâu! Một lý do quan trọng nữa, khi tôi đến với kayaking, đơn giản là vì tôi thích cái hình ảnh một người (và chỉ mỗi một mình anh ta) đơn độc chèo thuyền hàng trăm (hay hàng ngàn) cây số, vượt qua bao nhiêu sóng gió, thử thách. Nếu bạn không thích cái sự hành xác ấy, thì cũng không cần phải đọc tiếp!

Mà tại sao lại là chèo, mà không phải là buồm, hay động cơ!? Đơn giản là vì chèo nó có sự nỗ lực, sự cố gắng chiến thắng bản thân. Nếu bạn không thích cái viễn cảnh phải chèo 10 ~ 12 tiếng mỗi ngày, và nhiều ngày liên tục như thế thì cũng không cần phải đọc tiếp! Nếu nói về sự khám phá, thì quả đất này đã trở nên quá nhỏ hẹp, hầu như chưa có chỗ nào mà con người chưa đặt chân đến. Nên khám phá theo nghĩa hiện đại, nó “hướng nội” hơn, nó tự quay “vào trong”, đó là khám phá chính mình!





bắc hành – 2017, phần 21, kết

Càng vào Nam, thời tiết càng lúc càng nóng bức, mà dải bờ biển từ Cam Ranh vào đến Vũng Tàu đã biết tương đối kỹ. Thế nên quyết định “đổi gió” một chút cho hành trình, thay vì toàn là những cảnh quan vùng biển, cũng nên trải qua một chút không khí miền núi. Từ Cam Ranh, rẽ qua quốc lộ 27B đi Đà Lạt, thăm lại quãng đèo Ngoạn Mục mà đã từ lâu không đi lại. Đèo Ngoạn Mục cái tên được dịch từ tiếng Pháp là Bellevue (nice view) hay còn được gọi là đèo Sông Pha, lấy theo tên con sông “Krong Fa”.

Dọc tuyến đường này, còn thấy nhiều vết tích của tuyến đường xe lửa răng cưa mà người Pháp xây dựng từ Tháp Chàm đi Đà Lạt (nay đã hoang phế). Đoạn đường này nổi tiếng nguy hiểm với các loại xe khách, mặc dù núi đồi không phải là quá hiểm trở, độ dốc cũng không phải là quá lớn, các khúc cua cũng không phải là quá khúc khuỷu so với các con đèo khác. Nhưng đơn giản là vì các con dốc quá dài, hơn 150 km toàn lên (xuống) dốc liên tục, dể cháy thắng xe nếu tài xế không lưu ý!

Từ trên đỉnh đèo Ngoạn Mục nhìn xuống, cảnh quan thật đúng là… ngoạn mục. Đứng ở đây có được một cảm giác, hình dung rất rõ về cao nguyên Lâm Viên nổi bật lên hẳn trên nền cảnh quan xung quanh như thế nào. Hành trình tiếp tục đi về Đà Lạt, thành phố ngày càng hiện đại và đông đúc, từ đây đã là chốn quen thuộc vì Đà Lạt mà, đã đến đây dễ phải cả mấy chục lần. Ở lại thành phố cao nguyên này ít ngày, để gột bỏ bớt đi mùi của muối suốt mấy chục ngày hành trình ven biển!

Từ Đà Lạt, đổ đèo Prenn, đèo Bảo Lộc, đèo Chuối, theo quốc lộ 20 qua Phương Lâm, Tân Phú, Định Quán, La Ngà, Thống Nhất, Dầu Giây, Trảng Bom, Biên Hoà… về lại Sài Gòn, kết thúc hành trình! 44 ngày đi dọc theo bờ biển Việt Nam, với quá nhiều những trải nghiệm, những phát hiện thú vị. Cung đường ven biển mới hoàn thành Nam Trung bộ mở ra những cảnh quan trước đây tôi chưa từng được thấy! Hay đoạn đường chạy dọc theo vịnh Bái Tử Long cũng là có đoạn cảnh quan rất ngoạn mục!

Rất nhiều điều mới lạ nhìn thấy, chứng kiến dọc đường đi, như thuyền máy có xiếm ở Quất Lâm, Nam Định, ghe buồm “ba vách” cổ truyền ở Quảng Yên, Quảng Ninh, hay những chiếc ghe composite nhỏ trên đảo Cát Bà. Từ những cảnh quan thoáng đạt của vùng biển khu bảo tồn Núi Chúa, Phan Thiết, hay hoàng hôn cửa biển Cẩm Trung, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, hay bình minh rực sáng trên cửa Hội sông Lam, đến không gian đầy kỷ niệm của bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, hay chèo kayak trên vịnh Hạ Long…

thiên thượng hoả

Cafe sáng, TV đang chiếu phim “The Age of Adaline” gì đó, về một người phụ nữ, sau một tai nạn hy hữu năm 29 tuổi, cô ấy không già đi nữa, cô ấy cứ như thế, đến năm 108 tuổi vẫn nguyên vẹn nhan sắc… Trong một phút giây, bỗng thấy mình cũng giống y như thế, kiểu như bị “Thiên Thượng Hoả” đánh trúng í, ước gì… mình được già đi…

bắc hành – 2017, phần 20

Lại tiếp tục bị quyến rũ bởi 5000 sắc thái của màu xanh, nên tiếp tục đi dọc bờ biển, từ ghềnh Đá Đĩa, dọc theo sườn Đông của đầm Ô Loan, về phía thành phố Tuy Hoà. Nơi đây vùng cửa sông Đà Rằng là đồng bằng ven biển rộng nhất miền Trung, những thửa ruộng rộng thẳng cánh cò bay đã ngả sang mầu vàng, chờ ngày thu hoạch, nhìn rất thích mắt. Bằng giờ này ở các tỉnh miền núi phía Bắc thì lúa mới chỉ vừa gieo sạ xong. Tiếp tục đi dọc bờ biển về phía cửa Đà Nông (sông Bàn Thạch).

Từ đây là đã thấy núi Đá Bia sừng sững, tương truyền vua Lê Thánh Tông đã đến và xác định ranh giới nước Đại Việt tại đây năm 1471, gọi là nó Đá Bia, Linga hay Cùi Bắp tuỳ vào cách nhìn của những dân tộc khác nhau trong vùng. Đi thêm một quãng không xa là bãi Môn và mũi Điện, điểm được xem là cực Đông của phần lãnh thổ trên đất liền của Việt Nam. Nước biển xanh một màu ngọc huyền hoặc, gió mùa đông bắc vẫn còn vương vất chút đỉnh gây nên những đợt sóng bạc đầu đẹp mắt.

Phía nam của mũi Điện là vũng Rô, một vịnh kín gió, nơi neo đậu nhiều tàu cá, một vùng nuôi trồng hải sản và cả một thương cảng nhỏ. Cách đây chừng 5 năm, nơi đây đã xây nên một đài tưởng niệm đoàn tàu không số (phần tượng đài và phù điêu trang trí cực kỳ xấu xí, chẳng đâu vào đâu). Đi dọc bờ vũng Rô, ngắm nhìn những con tàu cá nhỏ, lại thêm những mảng màu xanh, với muôn ngàn sắc thái khác nhau, thay đổi tuỳ thuộc vào góc nhìn và điều kiện ánh sáng khác nhau trong ngày!

Tất cả những sắc màu xanh trong các ảnh này đều rất tự nhiên, vì tôi vốn chẳng phải là tay chụp chuyên nghiệp gì cho lắm, và ảnh cũng không hề có chỉnh sửa gì nhiều khác ngoài một số tính năng tự động của phần mềm Lightroom. Từ vũng Rô đi tiếp theo đèo Cả, Đại Lãnh, Vạn Giã, dọc theo vịnh Vân Phong về đến thị xã Ninh Hoà. Từ Ninh Hoà, men theo con đường ven biển chạy dọc bờ vịnh Nha Phu đi về thành phố Nha Trang, rồi lại là những dải bờ biển tuyệt đẹp của vịnh Cam Ranh.

Vẫn còn muốn tiếp tục chiêm ngưỡng thêm hàng ngàn sắc thái đa dạng khác nhau của tự nhiên, của một dải bờ biển đầy màu sắc Nam Trung bộ, nhưng hành trình đã kéo dài hơn 40 ngày, đã đến lúc phải… trở về nhà và tiếp tục nhiều công việc đang trì hoãn. Những chuyến di dài không chỉ mở mang tầm mắt, quan sát được những cảnh quan, sự việc, con người khác, mới lạ. Chúng còn “đặt nền móng”, tạo “tầm nhìn”, “tiền đề” cho… những hành trình còn dài hơn trong tương lai!

bắc hành – 2017, phần 19

Lại tiếp tục đi về phương Nam, từ Đà Nẵng theo con đường ven biển, chẳng mấy chốc đã đến Hội An, lại tiếp tục băng qua cầu Cửa Đại vừa mới xây xong để đi Tam Kỳ, Núi Thành, vẫn theo con đường ven biển. Từ đây vào đến quá Bình Định là những vùng đất đã biết tương đối rõ nên không phải để tâm quan sát nhiều nữa. Gần đến Sa Huỳnh (cuối Quảng Ngãi), bổng gặp 2 nhà sư đang hành hương từ Cà Mau về Yên Tử, đi theo kiểu bước 2 bước lại quỳ xuống lạy một lạy sát đất.

Họ đã đi như thế được 2 năm rưỡi, và hiện tại cũng chỉ mới được khoảng hơn nửa đường. Tôi thấy nhiều người vẫn hay trích dẫn những lời Phật dạy về từ bi, trí tuệ, những loại “bi” và “trí” lặt vặt, phiến diện, lập lờ cố tình đặt sai ngữ cảnh, mà quên đi rằng lời Phật dạy đầy đủ phải là: bi, trí và dũng. Sống trên cuộc đời này, nếu “trí tuệ” và “từ bi” mà chỉ cần dùng những lời nói chót lưỡi đầu môi mà có được dễ dàng thì dân tộc Việt Nam đâu có phải trải qua nhiều kiếp nạn đến thế!?

Người ta đã cố tình lờ đi rằng lời Phật dạy đầu tiên là phải có dũng khí, đảm lược hơn người. Không có hùng tâm, tráng khí thì không thể hoàn thành những hành trình như thế này được, ấy mới là công đức, chứ không phải việc đi chùa, cúng dường, phóng sanh, và lên Face tán láo về Phật pháp. Chính tiện nghi của cuộc sống hiện đại, sự phổ thông của các kênh truyền thông đại chúng đã dẫn đến một sự xuống cấp, lệch lạc tệ hại đến như thế, chẳng có loại “bi” và “trí” nào mà lại dễ dàng và rẻ tiền cả!

Dừng ăn trưa ở tt. Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, đối diện quán ăn nhác thấy một biển chữ Hoa đề: Nam Sinh dược phòng, à thì ra là 1 tiệm thuộc Bắc. Nhìn xung quanh lại thấy thêm 6, 7 tiệm như thế, chỉ trong vòng 1, 2 trăm mét, đã là một chuyện lạ. Các cửa hàng ở đây đồng loạt đề: “hiệu buôn X”, “hiệu buôn Y”, không dùng những từ ngữ hiện đại hơn như: “cửa hàng” hay “shop”. Đoán trong đầu, quanh đây thế nào cũng có vài nhà may, tiệm đóng giày hay sửa đồng hồ… quả đúng là như thế!

Hành trình tiếp tục đi qua Bình Định: An Nhơn, Quy Nhơn, chạy dọc phía Đông của đầm Cù Mông để về tx. Sông Cầu. Rồi tiếp tục đi về phía ghềnh Đá Đĩa, nằm ở phía Nam của vịnh Xuân Đài, qua sông Phú Ngân bằng cầu Ông Cọp, một cấu trúc cầu gỗ làm theo lối dân gian xưa dài trên 800m. Đến ghềnh Đá Đĩa để tưởng tượng ra, hàng triệu năm trước, những dòng nham thạch núi lửa nóng chảy tràn xuống, gặp nước nguội lại và tạo nên những cột đá đa giác (mà phổ biến là lục giác) như thế nào!

ghềnh đá đĩa

Cái giống người Việt đến là quái lạ! Họ đang cố gắng biến một nơi đẹp như ghềnh Đá Đĩa thành cái hòn non bộ tô vẽ xấu xí. Tệ hơn họ còn muốn tha vài hòn đá về để trong nhà ngắm nghía, và tự đánh lừa mình rằng ta đang sống gần gũi với thiên nhiên. Họ ko thấy ngoài mấy cục đá này ra, còn là những bờ cát vàng với địa thế tổng thể rất đẹp, sóng biển nhấp nhô, ngoài kia, chiếc Osa – class corvette (tàu tên lửa lớp Osa) đang băng băng rẽ sóng rời vịnh Xuân Đài…

bắc hành – 2017, phần 18

Từ Hà Tĩnh trở đi đến bắc đèo Hải Vân, một đợt gió mùa đông bắc nữa lại tràn về. Nhiệt độ chỉ tầm 17 ~ 18 độ, nhưng cảm giác rét buốt rất khó chịu. Nói thêm về kiểu khí hậu lạnh ẩm của vùng này, nước khi bám vào người sẽ mượn thân nhiệt để bay hơi, nếu có gió thì việc bay hơi càng mạnh, điều đó khiến cơ thể mất năng lượng nhanh chóng, lập tức “báo động”… run bần bật. Thế nên đôi khi thời tiết chỉ rét cỡ 17 ~ 18 độ, nhưng cảm giác như là 10 ~ 12 độ, ngay cả khách Tây cũng phải xuýt xoa.

Thực ra, thời tiết đã ấm hơn một chút so với chuyến đi ra, nhưng cũng vẫn rất khó chịu. Sau khi ghé thăm biển Thiên Cầm xong, liền chạy nhanh qua cho hết vùng khu 4 này: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Những địa danh thành phố, thị xã, thị trấn lướt qua vùn vụt: tx. Ba Đồn, tt. Hoàn Lão, tp. Đồng Hới, tt. Quán Hàu, truông nhà Hồ, tt. Hồ Xá, tt. Gio Linh, tp. Đông Hà, tt. Ái Tử, tx. Quảng Trị, tt. Hải Lăng, tt. Phong Điền, tx. Hương Trà, tp. Huế, tx. Hương Thuỷ, tt. Phú Vang, tt. Phú Lộc, tt. Lăng Cô…

Qua đèo Hải Vân vào đến địa phận Đà Nẵng, trời vẫn hơi lạnh nhưng đã dễ chịu hẳn. Đã rất nhiều lần đi ngang qua Đà Nẵng trong các chuyến xuyên Việt trước, nhưng chưa ghé lại bao giờ. Nay thử ghé qua xem thử diện mạo thành phố đã thay đổi như thế nào sau chừng ấy năm, từ con đường ven biển Vũng Thùng đến làng chài Thuận Phước, đường Bạch Đằng dọc sông Hàn, cầu Thuận Phước qua Sơn Trà… 20 năm… thành phố bây giờ mới có được một gương mặt khang trang nhìn hướng ra biển lớn.

Nó không còn là một thành phố khép kín, hướng mặt ra sông như thời xa xưa nữa, vùng cửa sông Hàn ven Thuận Phước và Tiên Sa, những âu thuyền được quy hoạch rõ ràng, tàu thuyền đánh cá của ngư dân đậu thành hàng lớp ngay ngắn, đường sá cũng thật rộng rãi, tinh tươm. Không thể dằn lòng chạy xe một vòng quanh Sơn Trà, trên con đường hơn 30 km vòng quanh bán đảo, nay đã là đường trải nhựa rộng và đẹp. Khi tôi còn nhỏ, vòng quanh đảo chỉ có một con đường mòn nhỏ.

Đường làm từ năm 1979 (do sợ Trung Quốc đổ bộ đường biển nên làm con đường đất để kéo pháo ra đặt ở đó), về sau không dùng nữa nên cây cỏ mọc che lấp hết, nhiều đoạn thậm chí không còn vết tích. Con đường ra đó qua bãi Bụt, bãi Trẹ, bãi Nồm, bãi Bắc… phải băng qua nhiều quãng rừng, leo qua nhiều ghềnh đá. Giờ đã thành một khu bảo tồn thiên nhiên được quy hoạch, chăm sóc cẩn thận. Đây chính là “thiên đường tuổi thơ” của tôi, một thời rong chơi, nghịch ngợm, vẫy vùng, mơ mộng…

bắc hành – 2017, phần 17

Hành trình xuôi Nam tiếp tục đi qua địa phận tỉnh Nghệ An, xuôi về Vinh, một đô thị tấp nập, hiện đại, có phần giống Đà Nẵng nhiều năm về trước. Ở đó, lại gặp gỡ được một số con người thú vị, nửa mới nửa cũ, hăm hở đón nhận những điều mới, nhưng vẫn còn đó một chút dè dặt, suy xét, tôn trọng nét xưa. Chính trong những điều mới & cũ ấy, ta mới nhận ra đâu là bản lĩnh thật sự của con người, của một vùng đất! Leo lên núi Dũng Quyết, tìm dấu vết của Phượng Hoàng trung đô năm nào.

Chỉ thấy miếu thờ vua Quang Trung được xây dựng theo lối giả cổ, nhàm chán. Lịch sử là một quá trình vận động biến đổi liên tục, là một điều thú vị khi nhà vua Quang Trung muốn đặt kinh đô tại Vinh, Nghệ An này, ông không xem vùng đất từ Nha Trang trở vào là “đất cũ”, là một phần của nước Việt. Thật đáng buồn khi đa số người Việt bây giờ nhìn nhận lịch sử theo cách tách rời sự việc ra khỏi bối cảnh của nó, “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, như một lũ “ngáo” chẳng hiểu gì về di sản của ông cha.

Một đoạn còn thiếu chưa “thăm dò” trong các chuyến xuyên Việt là khúc bờ biển huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (biển Thiên Cầm). Đến đây trong một buổi chiều mưa mù khá lạnh, thuỷ triều rút cạn hết nên quan sát được hình dáng cửa biển rất hẹp, dòng sông Lạc Giang chảy ven chân núi Thiên Cầm, cảnh quan thật là hữu tình. Lang thang một chút trong xóm chài nghèo Cẩm Trung với những âu thuyền nhỏ ven sông. Dọc các làng chài khắp cả Việt Nam, luôn thấy tồn tại song song 2 dạng thuyền đánh cá.

Một dạng hiện đại, lớn, hao hao giống nhau dùng để đánh bắt xa bờ. Một dạng cổ điển, nhỏ hơn, dùng để đánh bắt gần bờ. Dạng thứ hai này thì mỗi nơi mỗi kiểu, không đâu giống đâu trên khắp Việt Nam. Một số là những dạng thân thuyền thuần tuý truyền thống VN, một số vẫn còn mang nét truyền thống, nhưng đã được cái tiến, thay đổi ít nhiều. Người ngư dân, với kinh nghiệm của riêng mình, thêm vào những sửa đổi, mỗi nơi mỗi khác, như thuyền máy có cái xiếm đã thấy ở vùng biển Quất Lâm.

Hay những ghe đi biển thon dài của Trung Trung bộ được làm ngắn lại, rộng ra, với phần đuôi vát để thích hợp hơn với chạy máy và tăng tải trọng hữu ích. Tần ngần hồi lâu trước một con thuyền vừa mới hạ thuỷ, vết sơn mới tinh, thậm chí còn chưa kịp vẽ mắt và sơn số tàu, những đường cong tuyệt đẹp. Tuy không phải là những thân thuyền nguyên thuỷ, và không hoàn toàn hài lòng với một số chi tiết, nhưng vẫn vui khi thấy rằng, người ngư dân vẫn duy trì, bảo lưu những đường nét mà họ cho là tốt đẹp.

bắc hành – 2017, phần 16

Khó có thể ước định được quy mô xây dựng của Lam Kinh ngày trước, vì đa số các công trình là được tạo tác mới gần đây, dù có tham khảo các thông tin khảo cổ. Tại hiện trường, những hố khảo cổ vẫn được bảo lưu cho du khách tham quan, dấu vết nền móng cung điện xưa, xây bằng gạch vồ, có thể thấy rõ những đường ống dẫn nước làm bằng sứ, đường kính chừng 20 cm. Bên cạnh khu du tích mới xây này là đền thờ vua Lê Thái Tổ cũ, do nhân dân tự phát xây dựng vì ngôi đền cũ đã bị tàn phá.

Phía trước đền đề: Lam Sơn động chủ linh từ, tức Lê Lợi, người thường hay tự gọi mình là Lam Sơn động chủ, hay Ngọc Hoa động chủ, phía trong có treo một bức hoành mà theo tôi là rất hay, không giống như những lời tán tụng công đức tầm thường khác: Nam quốc sơn hà tự thử, nghĩa là: Sông núi nước Nam từ đó…, một kiểu nói lấp lửng, gợi ý, như kiểu ngày nay phải viết có dấu 3 chấm, để cho người đọc muốn hình dung, muốn điền gì vào chỗ trống thì điền!

Cả một khu rừng nhỏ xanh mướt, với rất nhiều cây cổ thụ lớn nhỏ, nhiều cây lớn sừng sững, có tuổi đời trên 600, 700 năm tuổi, hiếm khi thấy được một khu đền miếu, lăng tẩm mà cảnh quan chung quanh được bảo lưu tốt đến như thế! Phần trước của khu di tích có trưng bày bản sao của tấm bia Thân chinh phục Lễ châu Đèo Cát Hãn xưa nằm tại Mường Lay, Lai Châu, do vua Lê Lợi ngự bút đề khi thân chinh đi dẹp loạn Đèo Cát Hãn, tấm bia “ký tên”: Ngọc Hoa động chủ.

Quan sát thư pháp trên tấm bia này, như chữ Ngọc được viết với một lối rất lạ, dấu chấm nằm lệch vị trí. Suy nghĩ một hồi, tôi cho rằng rất khó có khả năng người xưa viết sai, hay công tác nhân bản bia đá làm sai, có thể chỉ là… nghệ thuật Việt Nam, trong rất nhiều các thể loại: thư pháp, hội hoạ, gốm sứ… nếu quan sát kỹ, thi thoảng vẫn luôn có chỗ “lệch chuẩn” như thế, luôn luôn có một vài yếu tố bất chợt, ngẫu hứng, tự phát ở đâu đó trong cách trình bày, trang trí một tác phẩm mỹ thuật.

Những công trình mới tôn tạo sau này, dù chưa hoàn tất, cũng giúp hình dung lại một Lam Kinh rất bề thế ngày xưa. Rải rác đây đó vẫn còn nhiều chi tiết giúp hình lại đường nét kiến trúc, điêu khắc cổ: bờ kênh đào và giếng nước lớn lát đá, cổng Ngọ môn rất lớn với hai con nghê chầu phía trước, sân chầu với cặp rồng đá độc đáo, Vĩnh Lăng (lăng vua Lê Thái Tổ), Hựu Lăng đơn giản với 5 cặp tượng nhỏ: quan hầu, nghê, ngựa, tê giác, hổ phía trước, bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn thảo…

bắc hành – 2017, phần 15

Hành trình trên đất Bắc đã bước qua tuần thứ 4, chuyến đi nào rồi cũng sẽ phải đến hồi vãn cuộc… Từ Quảng Ninh, hành trình quay trở lại Hà Nội rồi xuôi về Nam theo quốc lộ 1. Dự tính trong đầu là sẽ đi nhanh, đi suốt để nhanh chóng trở về, nhưng những ngẫu hứng dọc đường thôi thúc có thêm nhiều tò mò, hiểu biết mới. Ngang Hà Trung, Thanh Hoá, quyết định đi về phía Gia Miêu ngoại trang, xưa thuộc phủ Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, đất phát tích, “thang mộc” của triều Nguyễn.

Và nay là thôn Gia Miêu, thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, một thời là nơi có những công trình kiến trúc bề thế, tinh xảo hàng đầu xứ Thanh, mà điển hình là Triệu miếu, nơi thờ hai bậc tổ tiên dòng họ Nguyễn là Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng. Xem lại ảnh xưa, Triệu Miếu như một kinh thành Huế thu nhỏ lại, mà nay không còn vết tích gì. Tất cả đã bị tháo dỡ, phá hoại những năm 50, 60 thế kỷ trước, chỉ còn đình làng Gia Miêu sót lại vì nó không đại diện cho dòng họ Nguyễn mà cho cả làng.

Triệu miếu nay đã được xây dựng mới lại trên nền cũ, nhưng quy mô và độ tinh xảo thì đã mất đi vĩnh viễn. Hành trình tiếp tục đi về phía đình làng Thượng Phú, xã Hà Đông, huyện Hà Trung cách đó không xa. Đình đã xuống cấp nhiều, những khắc hoạ trang trí đã phai mờ cùng năm tháng, nhưng đáng lưu ý là khác với những đình khác, bên cạnh những motif trang trí long lân quy phụng, tùng cúc trúc mai, đình Thượng Phú có nhiều chi tiết trang trí mô tả sinh hoạt hàng ngày: chọi gà, bắt cá… rất sống động!

Hành trình tiếp tục đi dọc triền đê sông Mã lên phía thượng nguồn, về xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, quê nhà của các đời chúa Trịnh. Miếu thờ các đời chúa Trịnh ngoài cổng có đề: Trịnh vương phủ, nét chữ nguệch ngoạc xấu xí mà tôi ngờ rằng là do người đời nay tạo tác. Điện thờ những bức tượng các đời Chúa, làm bằng đất sét phủ sơn, nhìn khá sang trọng, đường bệ. Chính giữa điện thờ có bức hoành đề: Tiên tổ thị vương như một lời tự hào, nhắc nhở con cháu!

Như thế, hai họ Trịnh và Nguyễn thực ra ngày xưa sống khá gần nhau, chỉ cách nhau độ 15, 20 km tính theo đường chim bay. Hành trình bỏ qua di tích thành nhà Hồ (đã ghé thăm trong các chuyến xuyên Việt trước) mà đi về Lam Kinh, xã Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, khu di tích miếu thờ và lăng mộ các vua Lê đã được tôn tạo, xây mới lại gần đây (2009) trông rất là bề thế, nằm bên bờ sông Chu (một nhánh của sông Mã) trên một quả đồi, giữa một cánh rừng nhỏ được bảo vệ, gìn giữ cẩn thận.

lợn và heo

Lợn và heo rõ ràng là 2 con vật khác nhau. Vì con lợn ăn ngô, còn con heo ăn bắp!!! Đâu đó từ phía nam Nghệ An, ngta dùng “lợn” và “heo” xen kẽ… Sống thì là lợn, nhưng lên đĩa thì là heo… :D

hạc thành

Hình ảnh Google earth của Hạc thành, hình lục giác đều, trung tâm tp. Thanh Hoá, kiểu kiến trúc Vauban điển hình, nay chỉ còn vết tích. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, kiểu kiến trúc thành Vauban này trở nên phổ biến khắp VN, thay thế nhiều thành quách trước đó. Được thiết kế bởi kỹ sư quân sự người Pháp, Sébastien Le Prestre de Vauban, dạng hình học của những “star-city”, cấu trúc góc cạnh hình sao này cho phép không có góc chết nào suốt dọc theo tường thành, bất kỳ đoạn tường nào cũng có ít nhất 1 vị trí có thể đặt súng để bắn tạt sườn bên tấn công (xem hình).

Không hiểu sao một thời, người Việt học hỏi nhiều công nghệ ngoại lai đến thế, chỉ để giải quyết mâu thuẫn nội bộ, nghe đồn là có cả tàu chiến lớn loại 74… dù tôi cho là chỉ là “đồn”, vì tàu 74 nó trên 3 ngàn tấn, thời hiện đại bây giờ VN cũng chưa có tàu chiến lớn đến như thế… Chợt nhớ ra năm đó là mùng 10 Tết, ngồi uống cafe dưới chân thành này, bên bờ hào… …Thành quách suy di nhân sự cải, Kỷ xứ tang điền biến thương hải. Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong, Ca vũ không lưu nhất nhân tại…

bắc hành – 2017, phần 14

Di tích lịch sử gắn liền với nhà Trần ở vùng Hải Dương và Quảng Ninh này nhiều vô số kể, ấy là còn chưa nói đến 2 tỉnh ở tương đối gần đó là Thái Bình và Nam Định… Nằm giữa Côn Sơn và Yên Tử, cách nhau chỉ độ 30, 40 km là Quỳnh Lâm, ngôi chùa cuối trong 3 ngôi chùa trung tâm gắn liền với Trúc Lâm tam tổ: Phật hoàng Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp Loa và đệ tam tổ Huyền Quang. Đứng lặng hồi lâu trước cái tháp chuông quá đẹp của chùa Quỳnh Lâm (đang trong giai đoạn trùng tu).

Từ nhỏ đến lớn, đi nhiều chùa, nhà thờ, cũng như các loại đền miếu… Ấy thế mà chưa bao giờ thắp một cây nhang, chưa bao giờ vái một vái, và cũng chưa bao giờ cầu xin bất kỳ một điều gì. Chẳng phải Thiền tông có câu: Phùng Phật sát Phật, Phùng Tổ sát Tổ – gặp Phật thì giết Phật, gặp Tổ thì giết Tổ đó sao!? Cái loại “siêu việt logic” này hẳn nghe không lọt tai nhiều người! Trong suy nghĩ của tôi, “Phật giáo” về bản chất là vô thần, thậm chí nó còn không phải là một tôn giáo!

Côn Sơn, Yên Tử & Quỳnh Lâm là 3 ngôi chùa trung tâm của Trúc Lâm phái, cả 3 đều đều bắt nguồn từ chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang (chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn cũng là từ Vĩnh Nghiêm Bắc Giang mà ra). Mặt chính tháp chuông có tấm hoành đề: Quỳnh Lâm đại thiền môn, nơi đây ngày trước là một học viện Phật giáo được xây dựng với quy mô rất lớn, nhưng giờ đây vết tích chỉ còn mỗi cái tháp chuông này là đáng lưu ý. Bên trong hậu điện thờ ba tượng rất đẹp của Trúc Lâm tam tổ.

Hành trình tiếp tục đi về thị xã Quảng Yên cách đó không xa, về một điểm đã định trước là làng nghề đóng tàu cổ tại Cống Mương, phường Phong Hải, đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh. Đây là nơi đóng tàu thuyền nổi tiếng của vịnh Bắc bộ, mà điển hình là mẫu tàu “ba vách” chạy buồm cánh dơi. Không chỉ được xem những mô hình thu nhỏ, quý hoá nhất là ngay tại xưởng của nghệ nhân ưu tú Lê Đức Chắn, sừng sững một chiếc “ba vách” thật, dài 11 mét, đang đóng gần hoàn thiện.

Tôi như đứng sững lại trước một vật thể cực đẹp, những đường cong (line – tuyến hình) của một thân thuyền mà theo như nhận xét của tôi, kinh nghiệm đóng thuyền dân gian Việt Nam đã đúc kết lại được một dạng vỏ tàu đặc trưng mà khi đi kèm với buồm cánh dơi (junk rig) tạo nên một con thuyền buồm hoàn hảo! Cuộc trò chuyện với bác nghệ nhân đóng thuyền cũng làm rõ thêm nhiều chi tiết về cột, buồm, cách đi dây, mái chèo, tời… và như nhiều chi tiết trên thuyền khác.

bắc hành – 2017, phần 13

Nhận thấy một loạt những di tích lịch sử gắn liền với nhà Trần nằm kề cận nhau trong địa bàn 2 tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh, bèn quyết định đi thăm cho được đầy đủ, nhất là những ngôi chùa gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Nằm cách Côn Sơn chỉ độ 50 km là Yên Tử, một đỉnh núi cao trên 1000 m thuộc vòng cung Đông Triều. Quyết định leo lên đỉnh Yên Tử cũng khá là ngẫu hứng nên phần nào… đã không lường trước hết được những khó khăn của chặng đường.

Con đường lên đỉnh núi chỉ dài khoảng 6 km, những bậc thang được xây dựa vào sườn núi, gần đỉnh là đường đi trên những mỏm đá, nhưng có chút ít tôn tạo, xây dựng của bàn tay con người để dễ đi hơn. Mất hơn 6 tiếng đồng hồ cả đi và về trên con đường chỉ 6 km ấy, đơn giản vì rất nhiều đoạn là… dốc đứng. Đường lên Yên Tử không dành cho người có sức khoẻ kém, ngay cả khi bạn đi bằng cáp treo, vì 2 hệ thống cáp treo nối tiếp nhau chỉ giúp tiết kiệm được khoảng 60% quãng đường.

Rải rác từ chân lên đỉnh núi là những cụm bảo tháp, nơi chôn cất tro cốt các chư tăng tiền bối… mà nổi bật nhất là của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Trúc Lâm đệ nhất tổ, và hai vị tổ đời thứ 2, thứ 3 là Pháp Loa và Huyền Quang. Những ngọn tháp đá, gạch đơn sơ nằm lưng chừng núi, những cây thông, tùng, sứ (hoa đại) cổ thụ hàng trăm năm tuổi, cảnh tượng tịch liêu mà thanh nhã lạ thường. Chùa Hoa Yên nằm lưng chừng núi, tuy là kiến trúc trung tâm, lớn nhất của Yên Tử.

Nhưng Hoa Yên chỉ là một công trình tương đối nhỏ, đơn giản, mộc mạc, chính điện hình chữ công và tả vu, hữu vu ở hai bên. Nhưng trong mắt tôi, chính những công trình nhỏ, nguyên bản như thế mới phản ánh đúng lịch sử, mới toát lên vẻ đẹp của một chốn Thiền môn linh thiêng ngày xưa. Từ chùa Hoa Yên trở lên, có một số công trình hiện đại đang được xây dựng quy mô rất lớn, rất bề thế, như tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đúc nguyên khối bằng đồng nặng trên 130 tấn…

Một trong những điều tốt đẹp mà Yên Tử còn giữ được, nhờ bởi uy linh của đức Phật hoàng, chính là cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp, những rặng tùng cổ thụ, những rừng trúc xanh mướt. Cái tên Trúc Lâm chính là bắt nguồn từ những rừng trúc này, một giống trúc thanh cảnh, thân chỉ bằng ngón tay, ngón chân. Gần đỉnh có thể thấy nhiều cây hoa trà my cổ thụ, tiếc mới chỉ đang mùa kết nụ. Có lẻ đó là một ân hạnh tuyệt vời nhất, cho những ai hành hương Yên Tử trong mùa hoa trà my nở!

bắc hành – 2017, phần 12

Sau nhiều do dự và cân nhắc, hành trình quyết định xuôi về miền đồng bằng thay vì miền núi. Cách Lạng Sơn không xa là Hải Dương, một tỉnh với nhiều di tích gắn liền với nhà Trần và nhất là Phật giáo thời Trần… Hành trình xuôi Nam lại đi qua địa phận ải Chi Lăng như năm ngoái, một vùng nay trồng nhiều mãng cầu (miền Bắc gọi là quả na), đến địa phận thị trấn Kép & Vôi (Bắc Giang) thì vào quốc lộ 37 đi về phía Chí Linh, mà sườn tây của thị xã là vùng Vạn Kiếp, thái ấp của Hưng Đạo vương xưa kia.

Vạn Kiếp nằm không xa Lục Đầu giang, là nơi hội tụ của 6 con sông: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Môn, sông Thái Bình. Phải đến đây thì mới hiểu những ghi chép mơ hồ, thiếu chi tiết thực tế trong sử sách về 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của nhà Trần, phần nhiều các trận đánh lớn đều diễn ra trên địa hình sông, đầm lầy, biển để lợi dụng sức mạnh của thuỷ binh, thế mạnh của nhà Trần, và hạn chế, né tránh bớt sức mạnh của kỵ binh Mông Cổ.

Ghé thăm đền Kiếp Bạc, thuộc địa phận 2 làng Kiếp và Bạc, thái ấp xưa kia của Hưng Đạo Vương. Dù đền thờ Trần Quốc Tuấn có tại rất nhiều nơi trên khắp cả nước (như đền Trần ở Nam Định), nhưng thiết nghĩ đền Kiếp Bạc ở Vạn Kiếp này mới là công trình tiêu biểu nhất. Dù thời gian đã xoá mờ phần nhiều những đường nét hoa văn, trang trí, những nét chữ xưa, nhưng đại để cũng hình dung ra được phần nào địa thế rất đẹp của công trình, trong chính điện, 1 tấm hoành phi lớn đề: Trần triều hiển thánh.

Cách đền Kiếp Bạc không xa là chùa Côn Sơn, công trình gắn liền với Nguyễn Trãi, người chọn nơi đây là nơi an dưỡng, trí sĩ những năm cuối đời. Nhưng chùa Côn Sơn ra đời từ rất lâu trước thời Nguyễn Trãi, Côn Sơn, cùng với Yên Tử và Quỳnh Lâm là 3 trung tâm lớn của Trúc Lâm thiền phái thời Trần. Chùa Côn Sơn phải nói là ngôi chùa cổ đẹp và hoành tráng nhất mà tôi từng thăm thú, dĩ nhiên không kể các công trình chùa chiền xây bằng kỹ thuật hiện đại (bê – tông giả gỗ) sau này.

Chùa nằm dưới chân một ngọn núi thấp, địa thế rộng rãi, bằng phẳng, tiền môn, cổng chính, tiền điện vẫn là những công trình cổ được tôn tạo lại. Nhưng chính điện và hậu điện đã không còn tồn tại được với thời gian, và đã được xây dựng mới dựa trên nguyên bản cũ, từ hình dáng cho đến kích thước, nên đại khái tạo nên một cảnh quan rộng rãi, hài hoà, đẹp mắt. Đứng giữa sân chùa này, tự dưng nhớ và đọc lại được suôn sẻ nguyên bản Hán Văn của Côn Sơn ca, một bài ngỡ đã quên từ lâu!

bắc hành – 2017, phần 11

Rời Trà Cổ nhưng trong lòng vẫn không hết băn khoăn tại sao những cộng đồng di dân rải rác dọc khắp bờ biển Việt Nam đều mang một đặc tính chung là rất cô lập và cực kỳ bảo thủ, những ngữ âm địa phương ít nhiều giống nhau được bảo lưu với rất ít đổi thay trong suốt hơn 500, 600 năm lịch sử. Trong khi đó, những cộng đồng di dân về phía miền núi lại thường hoà nhập vào với môi trường bản địa tốt hơn, trong suy nghĩ của tôi, lý ra, điều ngược lại đúng hơn mới phải!?

Đã đến với Trà Cổ, Móng Cái, vùng đất địa đầu tổ quốc, hành trình quay ngược lại theo quốc lộ 4B đi về phía Lạng Sơn, cách không xa chỉ chừng hơn 100 km. Nhưng trước khi đến thành phố Lạng Sơn, ghé qua bản Chu, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, nơi vẫn còn lưu giữ một ít lịch sử di dân của tộc Việt. Ở miền biên viễn này, có những thôn xóm nhìn vào như là của người Tày, từ nhà ở, trang phục cho đến phong tục tập quán… nhưng cư dân ở đó lại không nói tiếng Tày, chỉ nói tiếng Việt.

Đó là con cháu của những cư dân Việt di cư đến nhiều thế kỷ trước, như nhà họ Vi, vốn gốc Đông Thành, Nghệ An, chuyển đến châu Lộc Bình này từ thời Lê Lợi. Đến đời cụ tổng đốc Vi Văn Định là 14 đời làm thổ ti cai quản xứ Cao Lạng (Cao Bằng, Lạng Sơn). Đó là một chính sách giữ đất nhất quán của các triều đại phong kiến xưa, di dân người Việt, dùng người miền núi quản mặt núi, dùng người miền biển giữ mặt biển! Sau bao thời gian chiến tranh tàn phá, nay chỉ còn duy nhất một chiếc cổng!

Bản Chu nằm trong một thung lũng nhỏ sườn đông nam của đỉnh núi Mẫu Sơn, một cộng đồng Tày – Việt với nhiều di tích hoang tàn (bản bị tàn phá nhiều nhất trong chiến tranh biên giới năm 1979, nằm cách đường biên chỉ tầm 6, 7 km theo đường chim bay), nhưng vẫn còn đây đó một số vết tích cổ: giếng nước, tường thành, bờ ao, các công trình phòng thủ… Và nhất là những ngôi nhà cổ xây gạch hai tầng khang trang bề thế, tất cả giúp hình dung nên những nề nếp sinh hoạt xưa.

Hành trình tạm dừng đón Tết ít ngày ở thành phố Lạng Sơn, thời gian trôi qua ở thành phố “mậu biên” này, những tiếp xúc nhiều hơn với người địa phương, những cảm nhận thực hơn về cuộc sống, những mối quan tâm của giới trẻ, những suy nghĩ toan tính của lớp già… Có nhiều cân nhắc về những chặng kế tiếp của hành trình, có một sự phân vân không hề nhẹ giữa ước muốn đi lên miền núi đầy màu sắc ở phía Bắc, hay xuôi về những cộng đồng Việt giàu truyền thống ở đồng bằng…