quyền bính

Đăng lại post này vì hôm nay là ngày 4 tháng 7!!! Trường hợp của “Huy Đức”, ta có thể nhận thấy rằng, cũng giống hệt như mạng xã hội hiện đại, người ta có thể dấu dốt bằng cách tung hỏa mù thông tin, người ta có thể tỏ ra công bằng, khách quan bằng cách nhắc đi nhắc lại một vài cái “gạch đầu dòng” đơn giản. Thực tế lịch sử chưa bao giờ là đơn giản như thế! Qua cách hành văn, cách dựng truyện cho thấy sự thiếu hiểu biết về văn hóa bản địa, nhưng lại rất rành các thủ thuật truyền thông, cố tạo ra những cái “catchphrase” đơn giản để cho người khác có thể lặp lại một cách dễ dàng! Điều này cho thấy một văn hóa rặt Mỹ, nó hoàn toàn khác với người Pháp!

Các cha cố đạo người Pháp, một vài trong số họ thực sự đến sống và chịu đựng sự khó khăn với người dân, họ học ngôn ngữ bản xứ, họ có hiểu biết nhất định về lịch sử địa phương, điều này khiến cho họ ít nhất cũng có được sự tin tưởng một bộ phận dân chúng! Còn các tay lái buôn, lái súng Mỹ thì thích ngồi từ xa và đưa ra ý kiến hơn, tôi nghĩ nó phải là như thế này, tôi nghĩ nó phải là như thế kia, và điều tôi nghĩ nó phải đúng! Còn nếu như nó không đúng… thì sau cuộc chiến, chúng ta sẽ đưa ra những kịch bản khác! Trong trường hợp Huy Đức này, cũng như đã thấy ở khá nhiều trường hợp khác, ta có thể nói rằng, sức mạnh của sự ngu dốt, nó thật sự, thật sự rất đáng sợ!

thần quyền

Một trong những thuộc tính rất đặc trưng, cố hữu của Phật giáo, dù là tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, hay Việt Nam, xuyên suốt tất cả các giai đoạn lịch sử, đó là tính chất “tổ chức, hội đoàn yếu” của nó! Đây có thể xem vừa là nhược điểm, vừa là ưu điểm nổi bật của Phật giáo. Khác với những tôn giáo khác, Phật luôn là vấn đề rất cá nhân, mục tiêu cao nhất là đạt đến giác ngộ, những cái khác chỉ là phụ. Nên tính đoàn thể thì vẫn phải có, như bất kỳ một tổ chức nào khác, nhưng Phật giáo tập trung nhiều vào việc giáo dục con người, chứ không tập trung vào những chương trình hành động mang tính xã hội rộng lớn. Suốt mấy ngàn năm lịch sử, Phật giáo hiếm khi tự biến mình thành một tổ chức “Thần quyền” can thiệp vào “Thế quyền”, như đã xảy ra phổ biến với nhiều tôn giáo khác, ví dụ như Thiên Chúa giáo.

Thiên Chúa giáo, như tại Bùi Chu và Phát Diệm, vào thời của các giám mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi… chính là một kiểu Thần quyền và Thế quyền hợp nhất, các linh mục nắm toàn quyền sinh sát, thậm chí có cả quân đội vũ trang riêng. Tính tổ chức cao, hoạt động hiệu quả luôn là truyền thống của Thiên Chúa giáo Tây phương, điều này thể hiện rõ với các cha xứ theo chân đoàn quân thực dân đi xâm chiếm nước khác! Khi thực dân Pháp hoàn tất việc cai trị Việt Nam, các tri thức VN đương thời đều nhận ra tính hiệu quả của mô hình tôn giáo, tổ chức ngoại lai, và họ cũng nỗ lực làm giống như vậy! Như Cao Đài tổ chức thành các xóm đạo, họ đạo như Thiên Chúa giáo, xây các nhà thờ dạng 2 tháp hệt như Thiên Chúa giáo. Nhưng các quyết định quan trọng được đưa ra bởi một hình thức… “cầu cơ” (!!!) thay vì bỏ phiếu.

Ở miền Nam ngoài Cao Đài còn có Hòa Hảo, và nhiều hình thức tôn giáo “ngồ ngộ” khác. Mê tín dị đoan (như chữa bệnh bằng nước lã, tro than) là phổ biến, bùa chú, sấm ký là phổ biến, và nhiều hình thức khó tin khác theo như suy nghĩ hiện đại ngày nay, ví dụ như tuyên truyền rằng súng của Việt Minh sẽ không thể nổ được trước những tín đồ Hòa Hảo. Những điều này xảy ra nói thẳng là vì dân trí quá thấp! Mặc dù ở phần tư tưởng, Hòa Hảo tự nhận mình là một nhánh Phật giáo (Tịnh độ tông), nhưng ở phần thực hành, họ xa rời tôn chỉ của Phật giáo là giáo dục con người, mà tập trung vào tổ chức Giáo hội Thần quyền kiêm quản Thế quyền giống như các nhánh tôn giáo khác đương thời. Các chỉ huy Hòa Hảo như Năm Lửa, Ba Cụt… cai trị các vùng lãnh thổ riêng, không ai chịu ai, tàn bạo không khác gì lãnh chúa.

Trở lại với thời gian đầu chống Pháp, nỗ lực “toàn dân kháng chiến” của Việt Minh mâu thuẫn nghiêm trọng với tính cô lập, tự trị và lạc hậu của các giáo phái! Nhất là ở thời gian vài năm đầu, bất kỳ ai “tích cực kháng chiến” đều được chấp nhận, nên trong hàng ngũ Việt Minh xuất hiện một số kẻ “cơ hội chủ nghĩa” như Kiều Đắc Thắng, hay hành xử “tự tung tự tác” như Bửu Vinh. Đám Bình Xuyên mặc dù đi làm cách mạng nhưng vẫn có nhiều người, cung cách không khác với thời ăn cướp ngày trước là mấy! Thế nên khá nhiều sự việc đáng tiếc đã xảy ra! Theo dòng tiến bộ của lịch sử, ngày nay, tách biệt Thần quyền và Thế quyền là một nguyên tắc cần được thực hiện nghiêm nhặt, cũng nghiêm nhặt y như là bảo đảm quyền Tự do tôn giáo vậy, và các Tôn giáo nên trở lại đúng với vai trò của nó, đó là giáo dục con người!

hòa hảo

23/9/1945, Nam Bộ kháng chiến bùng nổ… Tình hình miền Nam lúc này, các lực lượng giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài, mỗi nhánh có khoảng 2000 ~ 3000 tay súng, nhưng chống Pháp theo kiểu nửa vời. Mạnh nhất là Việt Minh, bao gồm Thanh niên tự vệ và khoảng 2000 bộ đội Bình Xuyên (quân của Ba Dương, Tám Mạnh, tuy vẫn có một bộ phận Bình Xuyên không hoàn toàn quy phục Việt Minh như Bảy Viễn), tổng cộng không quá 5000 ~ 6000 tay súng! Bình Xuyên, những người trước đây là dân giang hồ, anh chị, ăn cướp, bảo kê, .v.v. nói cho đúng vẫn là lực lượng chiến đấu tương đối hiệu quả, ít nhất là vào thời gian đầu kháng chiến, nhờ cái máu “yêng hùng” của họ! Nhưng do đâu Việt Minh lại nắm được, sai khiến được đám giang hồ này, đó là từ một sai lầm của người Pháp!

Từ nhiều năm trước đó, người Pháp nhốt chung tù chính trị với tù hình sự, hy vọng có thể dùng đám đầu gấu để trị các tay tù chính trị. Nhưng kết quả hóa ra ngược lại, vào tù rồi, anh chị cỡ nào đi nữa, nó đánh cho vài trận là khai hết, là phục tùng hết. Nhưng đám tù chính trị dù có chặt tay, chân thì vẫn không khuất phục. Kết quả là đám tù chính trị quay ngược lại cảm hóa, thuyết phục được đám du đãng, vì họ đã cho đám “cơ bắp” thấy được có loại sức mạnh nằm ngoài cơ bắp! Đến khi kháng chiến bùng nổ, các đơn vị “bộ đội” như của Ba Dương, Tám Mạnh đều rắp rắp nghe lệnh Việt Minh. Nhưng tổng số 5000, 6000 tay súng là quá ít, không đủ để đối đầu với quân Pháp! Miền Nam cho đến lúc đó vẫn là vùng đất mới, lòng người không vững, lại chia năm xẻ bảy không ai chịu ai! Ngay trong tháng 9-1945, các đơn vị Nam Tiến từ miền Bắc, Trung được thành lập để chi viện cho miền Nam…

Hải Phòng, Hà Nội mỗi nơi gởi một chi đội, Bắc Ninh, Bắc Giang gởi một chi đội, Thừa Thiên cũng gởi cỡ một chi đội, Quảng Nam gởi 3 chi đội… đặc biệt Quảng Ngãi gởi vào Nam 15 ngàn người! Cái gọi là “chi đội” lúc bấy giờ là những đơn vị không cố định quân số, thường khoảng 1000 ~ 1500 người! Đến tận giờ không thể biết chính xác bao nhiêu người đã Nam Tiến, ước tính ít nhất 30 ngàn người đã chi viện cho miền Nam trong vòng chưa đến 5 tháng! Nhưng tình hình miền Nam lại diễn biến vô cùng phức tạp! Những khúc mắc, ân oán giữa Việt Minh với Hòa Hảo, Cao Đài và những thành phần xã hội khác, đến tận ngày nay người ta vẫn tránh nói về những đề tài ấy, bởi vì muốn nói cho cùng thì phải nhìn vào bản chất lạc hậu, manh mún, nhìn vào dân trí, những điều vẫn chưa cải thiện mấy cho đến tận ngày hôm nay!

Quay ngược lịch sử trăm năm trước, khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, phong trào Nghĩa Hội bùng phát khắp Quảng Nam, cầm đầu bởi Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Nguyễn Tiểu La… xây căn cứ ở Quế Sơn tính chống Pháp lâu dài. Nhưng người Pháp không chỉ hơn ở khoa học, kỹ thuật, vũ khí mà họ hơn ở… tất cả mọi mặt: âm mưu, kế sách, thủ đoạn, mua chuộc, đe dọa, cài cắm, tin giả, ly gián, etc… Được khoảng 2 năm thì Nguyễn Duy Hiệu bị bắt, phong trào tan rã. Nói đến tinh thần yêu nước nhưng nhiều người không dám nói thẳng về kết quả của Nghĩa Hội Quảng Nam: giết được vài chục người Pháp, nhưng tự mình giết người mình vì nghi ngờ, phản bội, thanh trừng lẫn nhau, con số phải lên đến nhiều trăm. Và chuyện như thế kéo dài mãi đến về sau…

nguyên hùng

Lại nói về văn và sử, sử và văn, hư và thực, thực và hư… Có nhưng thứ văn chương nghe có vẻ hư cấu, nhưng lại cực kỳ thực. Và có những thứ sử tưởng chừng thực, kỳ thực lại rất hư. Văn mà mô tả đầy đủ chi tiết về văn hóa, cuộc sống đương thời, từ địa lý, sắc tộc cho đến ngôn ngữ, ẩm thực, ăn mặc, v.v. thì đó là lối văn cực kỳ thực, không có hiểu biết, từng trãi cuộc sống thì không thể nào viết ra như vậy được. Sử mà chỉ gồm toàn những cái gạch đầu dòng giản đơn, tìm cách máy móc kết nối các điểm lại với nhau, kỳ thực là một lối sử rất là hư! Lại nói về những nhân vật trong các cuốn sách của nhà văn Nguyên Hùng: Lê Văn Viễn có cha là người Triều Châu, mẹ người Việt, là một tướng cướp lừng danh. Huỳnh Văn Trí cũng là một tay anh chị khét tiếng, cả 2 vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần, quen nhau trong tù, nhiều lần vượt ngục cùng nhau và kết nghĩa làm anh em.

CMT8 nổ ra, cả hai tổ chức những đơn vị vũ trang đầu tiên chống Pháp, cả 2 đều là đàn em dưới trướng của Dương Văn Dương, thủ lĩnh “nghĩa quân” Bình Xuyên, người ngay từ năm 1948 đã được truy phong Thiếu tướng! Nhưng Mười Trí đi kháng chiến đến cùng, còn Bảy Viễn như ta biết, trở về làm ông trùm Chợ Lớn. Không thuyết phục được người anh em kết nghĩa, Mười Trí bày tỏ nỗi lòng qua một bài thơ, lối văn dân dã Nam bộ. Hư hay là thực thì để cho người đọc suy nghĩ, nhưng lối văn này, dù người ta cũng đã tìm cách giả, nhưng tối hậu vẫn không thể nào giả được: Thế là hết, tôi với anh đành đoạn tuyệt, Vì anh ơi, đời hồ hải hết tung hoành. Anh giam mình vào lưới sắt, bả hư danh, Thân lồng chậu, anh mong nằm trên nệm ấm. Anh có biết tay quân thù còn đỏ thắm, Máu đồng bào ngùn ngụt lửa căm thù. Kiếp tôi đòi, anh nhớ lại mùa Thu, Mùa lịch sử đã mở tù cho dân tộc…

người bình xuyên

Thực ra ở VN, cũng có nhiều người viết văn theo lối “nửa thực, nửa hư” như thế (và họ nói rõ ràng đây là văn, không phải sử), viết để trình bày một dạng sử ít chính thức hơn. Ví dụ thú vị là nhà văn Nguyên Hùng, tác giả những cuốn Người Bình Xuyên, Nguyễn Bình – huyền thoại và sự thật, Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ… những sách nói cho độc giả biết về các nhân vật kháng chiến, tôn giáo, quân phiệt miền Nam 1945 ~ 1975, một giai đoạn cũng gần giống như thời Dân quốc bên TQ vậy! Sách của ông nói cho chúng ta về những góc ít biết của lịch sử: Huỳnh Phú Sổ, Phạm Công Tắc, Lê Văn Viễn, Dương Văn Dương, Nguyễn Bình…

Nhưng khác là Nguyên Hùng thực sự là người trong cuộc, tham gia kháng chiến từ đầu đến cuối! Vì là người trong cuộc nên Nguyên Hùng có khả năng phác họa chân dung con người với những hiểu biết sống động: ngôn ngữ, giáo dục, văn hoá, tâm lý, và nhiều chi tiết khác liên quan đến đời sống, xã hội đương thời! Còn với trường hợp Huy Đức, ông ấy chỉ là người đến sau, mãi về sau, tìm cách hình dung lại lịch sử qua những gì được nghe kể lại, hay qua những gì mình tưởng tượng ra, tìm cách lắp ghép, sắp xếp thông tin thu nhặt được theo những định kiến có sẵn, nên sách nghe rất khiên cưỡng, máy móc và vô hồn…

bên thắng cuộc

Giữa trưa 7-1-1979, khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin quân ta đã vào Phnom Penh, ông Lê Duẩn chỉ ừ rồi ngủ tiếp… Đọc đến đây là tôi vất cuốn truyện qua một bên, không đọc nữa! Vì những tình tiết kiểu như thế nó xuất hiện quá quá nhiều! Tác giả viết giống như thể lúc đó, ông ta đang nằm ở dưới gầm giường của ông Lê Duẩn nên biết được sự việc vậy! Mặc dù một số tình tiết trong truyện tôi cũng muốn tin lắm, nó giống những truyền khẩu dân gian người ta thường kể cho nhau nghe lúc trà dư tửu hậu! Nhưng lịch sử mà viết theo lối “tiểu thuyết dã sử, giả sử” như thế không hề ổn một chút nào!

Lần cuối cùng người ta làm như thế có lẽ là từ thời của Homer (Trường ca Iliad và Odyssey) kia! Mà tất cả những kiểu như Đèn cù, Đêm giữa ban ngày, Bên thắng cuộc, etc… đều cùng một kiểu, cùng một giọng văn, cùng một phong cách: nói giống như là đúng rồi vậy, đưa tin theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”, tìm cách nhào nặn những sự thật nhiều người biết, trộn thêm vào đó những tình tiết tưởng tượng theo cảm tính, tìm cách tô màu mức tranh theo ý của mình, hư hư thực thực đan xen vào nhau! Và có cơ sở để tin rằng tất cả những thủ pháp “sáng tác văn chương” như thế đã được đúc kết để dạy thành bài bản!

the king maker

Hơn 60 năm trước, có một người tên là Edward Lansdale, thiếu tướng CIA, biệt danh “The king – maker” – Kẻ buôn vua, ông ta đã dựng lên (và đạp đổ) vô số “ông vua” tại Philippine, tại Việt Nam và nhiều nơi khác! Chính ông này là cha đẻ của chiến dịch “Chúa vào Nam”, đưa gần 1tr người Công giáo di cư năm 1954. Một trong những người giỏi nhất của CIA, tiểu sử của ông ta đầy ắp sự kiện, vô số “chiến công” lẫy lừng! Và thế là 1tr người ra đi, Em theo đoàn lưu dân, bờ vai thơm nồng bông bí nụ… Nhưng 1tr người này số phận không giống nhau. Số có xuất xứ, quan hệ tốt (với chính quyền Diệm) thì được phân về Sài Gòn, Đồng Nai.

Số khác thì phải xuống Kiên Giang, số thì lên Buôn Ma Thuộc! Cư-Kuin là một cái huyện đặc biệt về thành phần, nếu như các bạn còn nhớ, đây là nơi xảy ra vụ bạo loạn hãi hùng mới vừa qua! Nơi đây có một cộng đồng khá lớn Bắc 54 di cư từ thời trước, và những người dân miền Bắc, miền Trung di cư lên sau này, và cả những người dân bản địa đã sống ở đó từ xưa! Địa bàn dân cư phức tạp như vậy, đương nhiên sẽ xảy ra nhiều chuyện! Nhưng căn bản là luật không nghiêm, dân không biết tin vào đâu, dân trí thấp, không bảo nhau được, tự sống với nhau vốn đã không ổn, người ngoài bày mưu, xúi dục là thành chuyện thôi!

parade

Thông lệ hàng năm, 9 tháng Năm là ngày Gấu Nga trình diễn, khoe cơ bắp! Xem mãi các cuộc diễu binh cũng chán, mời các bạn xem trích đoạn bộ phim Người thợ hớt tóc ở Siberia, đoạn Sa-hoàng Alexander-3 dự lễ tốt nghiệp của các sĩ quan. Phim dựng lại theo đúng lịch sử, Alexander-3 là người to lớn, vạm vỡ với sức mạnh phi thường, cầm nguyên bộ bài Tây 54 quân, ông ta xé nó thành 2 mảnh. Hay đang ăn với chiếc đĩa bạc, ông ta dùng tay cuộn tròn cái đĩa lại như người ta cuộn bánh tráng vậy! Cái trò dùng tay cuộn đĩa kim loại này, đã có nhiều đời Sa-hoàng biểu diễn trên các bàn tiệc ngoại giao như một cách… hù đối phương!

Phim có đoạn Sa-hoàng Alexander-3 trò chuyện với hoàng hậu Maria Feodorovna bằng tiếng Anh: – Em còn phải lặp đi lặp lại bao nhiêu lần nữa, tại sao anh không bao giờ nghe em, Michael còn quá nhỏ, nó rất dễ bị kích động bởi các cuộc diễu binh cũng như các trò chơi quân sự. Alexander 3 trả lời rất hóm hỉnh, cũng bằng tiếng Anh: – Nếu tôi mà nghe theo em á, thì đến tận giờ chúng ta còn chưa có con được đâu! Haiza, xem phim để thấy rằng, đây đúng là một dân tộc kiêu hãnh và mạnh bạo, một nền văn hóa đầy màu sắc, một loại âm nhạc sinh động, tuôn chảy, phức tạp! Luôn tràn đầy sức sống, luôn tiến về phía trước!

chiều tây bắc

Nhớ năm đó chạy xe máy qua đèo Pha Đin – Sơn La – Điện Biên… con đường đèo mới vừa làm xong, tráng nhựa rộng rãi, phẳng phiu, chạy song song với con đường cũ! Xe thì mạnh và đường thì tốt, chạy cái vèo, mới có chút xíu đã qua hết con đèo. Giật mình vì kiểu “Trư Bát Giới ăn nhân sâm”, còn chưa kịp thưởng thức cái gì, chưa thấy được cảnh nào đẹp thì đã hết mịa nó con đèo. Bèn quay ngược xe lại, rẽ vào con đường cũ, đi chậm, thong thả, dừng xe, leo lên các ngọn đồi chụp ảnh, cứ như thế chạy qua đèo cả thảy 3 lần! Các đèo lớn ở miền Bắc thì mình đi hết cả rồi, nên Pha Đin cũng không phải là ấn tượng lắm, nhưng không phải vì thế mà nó không lớn!

Khi nhỏ ở Sơn Trà, Đà Nẵng, chỉ là mấy cục đá cao mấy chục mét, nhưng leo cũng trầy vi tróc vẩy chứ không đùa. Mà không leo mấy chục mét, thì làm sao hiểu được độ cao vài trăm mét, không leo vài trăm mét, thì làm sao hiểu được con số ngàn!? Giờ công nghệ hiện đại rồi, cơ giới hóa lớn, xe ủi, xe xúc, nên đường làm ra cứ gọi là rộng rãi, thông thoáng! Đám trẻ chạy xe hơi qua dừng lại dè bỉu: tưởng thế nào, chỉ có thế thôi à!? Nhưng sẽ là chuyện khác nếu như không có đường làm sẵn, cứ bắt gùi 30kg, vạch cây, bám đá mà đi, thì sẽ tự hiểu, tự ngộ ra được núi cao bao nhiêu ngay thôi! Tranh: Nhớ một chiều Tây Bắc – sơn mài – Phan Kế An – 1955.

nhạc lộc thư viện

Từ thời Hán cho đến qua thời Tống, Nguyên, Minh, suốt khoảng 1500 năm, nơi có nhiều đầu sách nhất thế giới chính là… Trung Quốc! Từ các thư viện hoàng gia cho đến các thư viện tư nhân như Nhạc Lộc, họ có khoảng 6 ngàn đầu sách (tựa sách), nhiều hơn bất kỳ nơi đâu, dù là Baghdad, Varanasi hay Rome, thì cũng không có nhiều sách bằng! Viết bằng thứ chữ giun dế siêu phức tạp như thế, bao quát đủ mọi lĩnh vực, từ Sơn hải kinh, Thủy kinh chú, Cửu chương toán thuật, Hải đảo toán kinh, Võ bị chí, etc.. bao quát đủ mọi mặt kiến thức, trên thiên văn, dưới địa lý, từ tư duy trừu tượng cho đến các vấn đề xã hội… công phu, trình độ quả thực đáng nể! Các đoàn sứ thần VN sang TQ, sau khi nộp cống phẩm xong đều được “lại quả”, loại “quả” thường được yêu cầu (và đáp ứng) nhiều nhất chính là… sách! Mà chẳng riêng gì VN, các nước đương thời như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng thế: chẳng phải mọi phát minh tốt đẹp đều đến từ Trung Quốc đó sao, người Nhật Bản đương thời nói như vậy!

Mọi chuyện bắt đầu thay đổi khi kỹ thuật in ấn bắt đầu được phổ biến sang châu Âu! Chính vì kỹ thuật in có thể tạo ra được số lượng ấn phẩm lớn, đưa kiến thức đến với nhiều người hơn, nên dần dà, nó tạo thành một kiểu hiệu ứng đô-mi-nô, bắt đầu từ đó, châu Âu càng ngày càng đẻ ra thêm nhiều tựa sách, và bắt đầu vượt qua Trung Quốc. Số lượng đầu sách (tính trên tựa, không phải tính trên bản in) không còn ở mức số ngàn nữa mà bắt đầu tăng, đương nhiên khởi đầu chậm nhưng sau đó cứ nhanh dần theo cấp số nhân, bắt đầu đạt con số chục ngàn, trăm ngàn, rồi đến mức triệu… Quá trình này mất đến vài thế kỷ, dần dần đưa nhân loại bước vào “kỷ nguyên Ánh sáng”… Sang đến thế kỷ 21, ở cái xứ mọi rợ phương Nam kia cũng bày đặt nói chuyện sách, toàn những thứ như Thám tử Sherlock Holmes, Trở lại Eden, Những năm ảo tưởng, Cánh buồm đỏ thắm, .v.v… haiza, sách vở gì chúng nó!?

trên núi đồi Mãn Châu

Trên núi đồi Mãn Châu – On the hills of Manchuria! Trở lại một chút cái cái mood nhạc Nga, nếu nghe kỹ (và đọc lời) thì mới thấy rằng, bài ca là sự than khóc, cầu nguyện được ngụy trang (a mourning and praying in disguise), tác giả bài hát, nhạc sĩ Ilya Alekseevich Shatrov, đã có mặt ở đó, đã chứng kiến tất cả… là thành viên của băng nhạc Trung đoàn Mokshansky trong trận Phụng Dương (Mukden) với quân Nhật!

Chỉ 700 trong số 4000 người ban đầu của Trung đoàn còn sống sót sau trận chiến phá vòng vây, và băng nhạc thì… chơi nhạc để động viên tinh thần binh sĩ trong suốt thời gian chiến trận đó! Bài ca được viết sau đó để tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống! Chiến tranh cũng đồng nghĩa là chết chóc, thương đau, chỉ là anh đối diện với nỗi đau như thế nào mà thôi… Bài ca trên nền clip phim Anna Karenina (2017).

đầu tiên…

Đoạn nói về đồng đô-la của tổng thống Putin khá thú vị… Nếu nước Mỹ vẫn tiếp tục “vũ khí hoá” đồng tiền, in USD vô tội vạ, đổ hết lạm phát lên đầu USD. Mà nhiều nước lại dùng USD để tích trữ tài sản, thì hiểu theo nghĩa nào đó chính là đem lạm phát của nước Mỹ bắt toàn thế giới phải gánh! Hệ quả tất yếu là các nước sẽ giảm số lượng dự trữ bằng USD lại, mà quay sang dùng các loại tiền khác. Nhưng để bắt đầu, “đầu tiên” không phải là “tiền đâu” như các bác nhà ta thường nghĩ, mà đầu tiên là phải có sức mạnh cứng chống lưng cho đồng tiền cái đã!

Bài học muôn đời của lịch sử con người là thế, ý chí và sức mạnh cứng vẫn luôn là tiên quyết. Như khi Hulegu Khan dẫn quân Mông Cổ công thành Baghdad, người ta kể rằng toàn bộ thư viện khổng lồ của thành phố bị vất xuống sông, đến nỗi mực trong sách làm đen cả nước sông! Người cai trị Baghdad là Al-Musta’sim được đưa cho những miếng vàng và hỏi có ăn được không, không ăn được sao lại tích trữ nhiều đến thế?! Cuối cùng, Al-Musta’sim bị nhốt trong một cái lồng vàng bên cạnh những châu báu của mình và bị bỏ đó cho đến khi chết đói!

a fleet to be

Ngược dòng lịch sử, hải chiến Falkland, 1982. Ít nhất 4 chiến hạm hiện đại nhất của Anh quốc bị một nước tương đối lạc hậu như Argentine đánh chìm, mà đánh chìm bằng cách rất “sơ khai”, dùng máy bay, bay sát mặt nước biển rồi ném bom! Nên chuyện chiến hạm bị đánh chìm là thường xuyên, do từ lúc chế tạo, cho đến lúc thực chiến không có cơ hội thử lửa! Trừ khi chiến tranh lớn, kéo dài như Thế chiến 1, Thế chiến 2 thì người ta mới có cơ hội nghiên cứu, cải tiến, chứ đưa nó vào vị trí bất lợi gần bờ là luôn có khả năng bị đối phương tìm ra điểm yếu. Như các tàu Arleigh-Burke hiện đại của Mỹ cũng không an toàn, mới là tên lửa hành trình cận âm, chưa tấn công bão hoà mà đã như thế!

Thì các tàu Nga cũng không khá hơn, Hạm đội biển Đen đến giờ cũng đã thiệt hại kha khá, dù vẫn chưa ảnh hưởng đến sức mạnh cốt lõi. Về bản chất, đầu tư Hạm đội là một kiểu đầu tư mạo hiểm: chi phí lớn, rủi ro cao! Nhiều nước không có nguồn lực Hải quân quá mạnh như Ý, Đức… thì họ có chiến lược dùng hải quân rất rõ ràng gọi là “a – fleet – to – be”, mà tôi tạm dịch là “hạm – đội – để – đó (để ngó)”! Tức là xây hạm đội khá mạnh, nhưng tránh tối đa khả năng đụng độ, triệt để tránh va chạm! Mục tiêu là phòng vệ vùng biển nhà, “để đó” là phòng trường hợp đối phương muốn công thì sẽ phải trả giá, nhưng ngược lại, hiếm khi chủ động công người khác nếu không có lợi thế!

Yablochko, 2

Tthêm một bài dân ca Nga nữa, trước đã có post phiên bản hiện đại của bài này, Yablochko – Quả táo nhỏ, nhưng đây mới là nguyên bản. Tuân thủ theo một phong cách “dân ca” xa xưa, cái điệp ngữ “Quả táo nhỏ” thực ra chẳng có liên quan đến nội dung bài hát, được sử dụng như một kiểu “lời dẫn”, với vô số lời ca khác nhau đặt ra để truyền tải những nội dung khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau! Hãy nghe thử xem thể loại dân ca của xứ thảo nguyên bao la nó như thế nào!

Phương Tây đã và đang rêu rao về cái gọi là “chủ nghĩa phục thù của người Nga”, nâng tầm quan điểm, loay hoay tìm cách đặt tên và chụp mũ! Tại sao không thử nghĩ rằng đó chỉ là một dạng “định luật 2 Newton” mà thôi: không một tội ác nào gây ra mà không có hành động báo ứng, đơn giản chỉ là như thế! Nên, nếu muốn hiểu khái quát về tâm hồn, văn hoá Nga, chỉ cần đọc 4 bộ sách sau đây: Chiến tranh và Hoà bình, Tội ác và Trừng phạt, Anna Karenina, và Sông Đông êm đềm!

Budyonny march

Nhạc Nga vẫn luôn khởi đầu theo cùng một kiểu như thế: Chúng ta là lực lượng Kỵ binh Đỏ, và những câu chuyện, những huyền thoại về chúng ta sẽ còn được các thế hệ mai sau kể đi kể lại… (cho đến khi lỗ tai mọc rêu)! Hành khúc Kỵ binh Đỏ, hay còn có tên khác là Hành khúc kỵ binh Budyonny, lấy theo tên Semyon Mikhailovich Budyonny, 1 trong 5 Nguyên soái Hồng quân đầu tiên, người thành lập Tập đoàn quân Kỵ binh số 1, và lập công lớn trong thời kỳ Nội chiến! Tính cách chân thành, giản dị, thích âm nhạc, khiêu vũ, và đương nhiên là thích ngựa!

Chiến tranh thế giới lần 2 nổ ra, Budyonny là tư lệnh mặt trận Tây Nam – Ukraine, nhưng lúc này Budyonny đã già và tư duy đã trở nên lỗi thời, vẫn bám vào ngựa và không theo kịp sự phát triển của thời đại với xe tăng và máy bay. Budyonny nhanh chóng bị huyền chức, thay thế bởi các tướng lĩnh trẻ hơn như Konev, Rokossovsky, Zhukov, mặc dù vẫn giữ các vị trí danh dự! Sau chiến tranh thì Budyonny trở thành… Bộ trưởng Nông nghiệp, chuyên đi… nuôi ngựa, và đã tạo ra giống ngựa nổi tiếng mang tên Budyonny vẫn còn dùng đến ngày nay!

25 LET RKKA

Chương trình âm nhạc cuối tuần, đã lâu không trở lại với chủ đề Âm nhạc Xô-viết! Hành khúc ngắn: 25 năm Hồng quân, trên một nền video từ lâu đã là huyền thoại. Có thể nhận ra nguyên soái Zhukov (cỡi ngựa trắng) đã có vẻ già thấy rõ, dáng người trên ngựa đã hơi đơ cứng, còn nguyên soái Rokossovsky cưỡi ngựa đen, mềm mại và uyển chuyển như một chàng trai trẻ! Nói thêm chút về ngựa, sau cuộc chiến Crimea 1853 ~ 1856, người Anh nhận thấy giống ngựa Orlov tiêu chuẩn mà quân đội Nga sử dụng vừa nhanh, lại vừa bền bỉ, hơn hẳn ngựa của họ!

Nói về ngựa thời đó thì vai trò giống như xe tăng hiện đại vậy, một khối lượng lớn đến 300 ~ 500 kg với tốc độ cao, sức tì đè lớn, bộ binh nếu không có phòng tuyến được chuẩn bị vững vàng không cách nào chọi lại được! Quyết không bị bỏ lại phía sau trong khoản… ngựa, người Anh đã mày mò lai tạo ra giống Thoroughbred mà chúng ta thường thấy trên phim ảnh, trong thể thao ngày nay! Nên mâu thuẫn đông – tây là đã trường kỳ nhiều thế kỷ nay, với biết bao nhiêu động lực để nghiên cứu, phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế, thay đổi xã hội!

lệ chi

Chuyện lịch sử nhiều người biết, vì Dương Quý phi thích ăn quả vải – lệ chi, mà Đường Huyền Tông cho thành lập hẳn một tuyến vận chuyển hoả tốc, phi ngựa suốt ngày đêm để kịp đem vải về kinh đô Trường An. Có lẽ không phải vận chuyển từ Quảng Đông, Lĩnh Nam, mà từ một nơi nào đó gần hơn như Tứ Xuyên, Phúc Kiến! Theo những ước tính bây giờ, thời gian vận chuyển ít nhất là 10 ngày, biết bao nhiêu người, ngựa gục chết trên đường, mà quả đem về chắc chắn không tươi ngon, phần nhiều là dập nát vì ngày đêm trên lưng ngựa! Từ Đường sang đến thời Tống, cách thức vận chuyển bảo quản đã có những tiến bộ khác! Quan địa phương ở Phúc Kiến sẽ chọn những cây nhiều quả, nhưng kích thước tương đối nhỏ…

Bứng nguyên gốc, bọc trong sọt đất, vận chuyển bằng đường biển về Biện Kinh (Khai Phong), đến nơi cây vẫn còn sống, cách này tuy đỡ tốn kém hơn chút, nhưng cũng không phải là dễ dàng gì! Sang thời Minh, cách thức lại có tiến bộ, người ta chặt ngang gốc cây chuối, cắm cành vải to vào đó, cách này giúp cành vải sống tiếp được một thời gian, kịp đưa đến những ông hoàng đế ở kinh thành! Như thế, chúng ta thấy công nghệ bảo quản, vận chuyển thực phẩm đã tiến bộ rất chậm trong suốt nhiều trăm năm, nhưng càng về sau, càng tiến bộ nhanh dần. Ngày xưa vận chuyển chỉ để chứng tỏ tình yêu (của Lý Long Cơ với Dương Ngọc Hoàn) mà thôi, còn ngày nay, nhu cầu ẩm thực của con người hàng triệu lần lớn hơn thế!

chữ

Đầu năm nói chuyện “chữ”… Trước em có biết một số vị làm việc liên quan đến cổ ngữ! Chữ các vị ấy đương nhiên nhiều rồi, em không bằng được! Nhưng làm bộ hỏi vài câu Đường thi thông dụng, các vị ấy đều lơ ngơ, ướm thử vài câu Tống từ phổ biến, các vị ấy đều lấp lửng! Nên em tạm rút ra nhận định: chữ của các bác ấy nhiều, nhưng lại không hàm thụ được vẻ đẹp của thi ca cổ, hay ít nhất là tâm trí các bác không quan tâm những điều ấy! Em băn khoăn tự hỏi tâm các bác ấy đặt ở chỗ nào!? Sau thì phát hiện ra, phần lớn thời gian các bác dùng “chữ” để khoe mẽ, đấu tố nhau, kích động ghen ghét cá nhân, phân biệt vùng miền, thường khi là lồng ghép trong đó những đấu đá chính trị, tôn giáo, một số trường hợp rõ ràng là “bồi bút” được các thế lực ngoài giật dây, dùng “chữ” kích động mâu thuẫn, đánh vào cái tôi “vừa ghen ghét, vừa tự ti vặt của người Việt”, đánh vào cái dân trí lè tè không tự luận ra được. Với những người ấy, tốt nhất là cứ… “kính nhi viễn chi”.

Vấn đề quay lại điểm khởi đầu, học để làm gì!? Lịch sử Trung Quốc lâu dài như vậy, văn minh Hoa Hạ rực rỡ như vậy, họ làm ra biết bao nhiêu chuyện kỳ vĩ, từ văn hoá, thi ca cho đến các công trình quốc kế, dân sinh, đào Vận hà, xây Trường thành, và biết bao nhiêu thành tựu to lớn khác! Em chỉ cần nhìn vào một thoáng là em biết, họ học chữ để đấu đá và kèn cựa nhau, chứ trong tâm không có cái mộng học được cái đẹp, cái hay của thiên hạ! Nói nghe có vẻ to lớn, nhưng học chưa chắc đã làm được như người ta, trở thành sĩ phu kẻ sĩ, kinh bang tế thế, chuyện đời đâu có dễ thế! Nhưng ít nhất và đầu tiên, học có thể thay đổi tính cách, tâm hồn con người! Bản thân còn không thay đổi được, làm sao thay đổi ngoại giới!? Muốn xem công phu của một người tới đâu, đầu tiên hãy xem cách anh ta nhìn nhận, đặt ra yêu cầu đối với… chính bản thân mình! Em lạy các bác, mở mắt ra xem người ta sống như thế nào, đừng bám vào mấy cái gốc tre làng mãi như thế nữa!

thiên hạ trường hà

Lâu lắm mới xem được một phim “chính kịch” TQ hay như thế, mà phim thế này thường sẽ không có phụ đề tiếng Việt, chả ai đi dịch cái phim mà biết chắc không có mấy khán giả xem! Không có khán giả vì không có trai xinh, gái đẹp cùng với những màn giật gân, đồng bóng khác! Nhưng đúng là khá lâu mới được xem lại những thủ pháp phim “chính kịch” TQ, nhiều năm không thấy gặp, nhiều đoạn rất thấm với cái nội dung thâm thuý của nó! Đây có lẽ là phim làm để chuẩn bị tiền đề dư luận cho dự án “Nam thuỷ Bắc điều” hiện đại của TQ. Phim lấy bối cảnh triều Thanh, Khang Hy gia, Hoàng Hà tràn bờ, nước lụt đe doạ nhiều tỉnh! Hoàng đế lệnh xuống cho các quan lại địa phương và các quan phụ trách đê điều (Hà đạo): Nhân tại đê tại, Đê vong nhân vong – 人在堤在,堤亡人亡 – Người còn thì đê còn, Đê mất thì người mất! Hà đạo tham quan, Vương Quang Dụ biết chạy không thoát tội nên đã tự sát!

Tuần phủ An Huy – Cận Tử Viên mấy chục ngày ở tại công trường đốc thúc hộ đê, nhưng cuối cùng đê vẫn vỡ! Tử Viên bị dòng nước cuốn đi, nhưng may mắn được cứu sống, bị áp giải về kinh để điều tra! Quần thần nghị luận: giết hay không giết!? Ai ai cũng muốn giết, làm con dê tế thần, giết là bịt luôn đầu mối không truy ra được những quan nào đã ăn bớt việc sửa đê! Chỉ có một người khuyên can Khang Hy không giết, giết rồi dư luận sẽ bảo rằng hoàng đế: Sát nhân hữu phương, Trị hà vô lực – 杀人有方,治河无力 – Có cách để giết người, nhưng vô phương trị thuỷ! Từ đó bắt đầu một đại công trình kéo dài hơn mấy chục năm, Trị lý Hoàng hà! Xem để thấy rằng với những công trình quốc kế dân sinh to lớn, người TQ làm với trách nhiệm và quyết tâm lớn lao! Khác với thời cổ đại, đơn giản chỉ là đắp đê cho cao và khơi thông dòng chảy cho rộng, việc trị thuỷ hiện đại có nhiều chuyện phức tạp hơn thế…

row planting

Người Trung Quốc bắt đầu trồng một số loại cây, rau, hoa màu, ngũ cốc theo luống từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Trồng theo luống tuy mất nhiều công sức lao động, nhưng đem lại nhiều lợi ích! Thứ nhất là kiểm soát được mật độ gieo hạt, không phung phí hạt giống! Thứ nhì là bảo đảm cho mỗi cây một không gian phát triển vừa đủ, không thừa, không thiếu! Thứ ba là tiếp cận để tưới nước, bón phân, chăm sóc, thu hoạch dễ hơn! Và thứ tư là chống chọi với gió bão tốt hơn!

Kết quả là năng suất lương thực tăng lên rõ rệt! Chuyện đơn giản như vậy, mà mãi đến khoảng thế kỷ 17, 18, người châu Âu sang TQ mới thấy và học làm theo, những… 2200 năm sau, trước đó họ vẫn canh tác sao cho lợi về sức lao động mà thôi! Nên không cần phải “triết học” rồi “tư tưởng” cao xa, chính những điều đơn giản nhưng làm thay đổi Quốc kế – Dân sinh, đó mới chính là những điều quan trọng! Mà những chuyện lặt vặt, nhỏ nhặt, không ai thèm để ý đó, thì người TQ… rất giỏi!