chân hoàn truyện

Hiếm khi xem phim cung đấu nào “say mê” như Chân Hoàn truyện! Mọi người là biết em “xem thường” tất cả những thể loại cung đấu, gia đấu, cổ trang, ngôn tình, tiên hiệp, kiếm hiệp, xuyên không, etc… và tất cả những thể loại “kỳ quái” mà điện ảnh phổ thông TQ sản sinh ra! Ấy thế mà xem phim này kỹ lưỡng, cứ vài phút lại bấm dừng để đọc phụ đề tiếng Hoa xem nó viết cái gì! Những tình tiết gay cấn, giật gân em chả quan tâm, dung nhan, trang phục đẹp đẽ em cũng chả quan tâm, nói như một câu thoại rất nổi tiếng trong phim: 你如今几岁了? – Nhĩ như kim kỷ tuế liễu!? Anh đến nay đã bao tuổi rồi ấy nhỉ!? (là câu cảm thán, không phải hỏi tuổi thật). Quan tâm ở đây là các lời thoại, ngôn từ diễn tả những tình huống phức tạp trong cuộc sống, thành ngữ, cổ văn, thơ ca, điển cố… được sử dụng trong kịch bản phim! Người TQ họ có một thế giới siêu phong phú, phức tạp những cách diễn đạt để mô tả những mối quan hệ xã hội chồng chéo, phức tạp, tế nhị…

Những tình huống có tính chất kinh điển của lịch sử, của cuộc sống! Chính cái nguồn khổng lồ những cách diễn đạt ấy làm cho đời sống tâm hồn họ phong phú! Chính cái kho ngữ vựng – corpus to lớn ấy nói lên được sự nhận thức có chiều sâu về thế giới xung quanh! Từ cái phim Chân Hoàn truyện này, giới trẻ TQ “lượm” ra được vô số câu thoại “đắt giá” đề xài trong những tình huống cuộc sống hàng ngày, trở thành một kiểu “thành ngữ mới”! Phần lớn những lời thoại “đắt” trong phim đều viện dẫn văn thơ cổ và gần như không thể dịch, hầu như là mất khi chuyển sang tiếng Việt. Cái kho corpus này VN tuy cũng có học, nhưng chỉ được phần nhỏ! Đơn cử một ví dụ: Cẩm thượng tú hoa vô nhân ký, Tuyết trung tống thán tình ý thâm – 锦上绣花无人记,雪中送炭情意深。。。 – Thêu hoa trên gấm không ai nhớ (gấm là loại vải dệt nhiều hoa văn, thêu hoa trên gấm ám chỉ việc làm hoa mĩ nhưng thừa thải, sáo rỗng), Ngày tuyết lạnh gởi than củi đến mới thực là chân tình!

xe lửa

Anh chàng người Anh, chắc đã sống ở Trung Quốc khá lâu và khá rành văn hoá TQ, và cái kiểu khôi hài, châm biếm ngấm ngầm: các bạn hãy nhìn mà xem, các thể loại tàu và xe ở TQ, và nhìn lại xe lửa ở nước Anh mà xem, ôi, cái nước Anh khốn khổ của tôi, ấy vậy mà nó lại là nơi phát minh ra tàu hoả đấy, ôi, ôi cái nước Anh thảm hại của tôi! Rất nhiều người, thậm chí nhiều người châu Âu, đi TQ về đều thấy như thế: thành phố sạch sẽ, ngăn nắp, được tổ chức tốt, an ninh và an toàn tuyệt đối, camera giám sát khắp mọi nơi, mua một cái SIM điện thoại xài tạm một tuần cũng phải xác minh nhân thân, người dân thân thiện, hiếu khách, tuy chưa so được, nhưng một số mặt, nhất là an ninh công cộng và thanh toán không tiền mặt là đã vượt qua châu Âu!

Quay lại cái xứ Vịt trời đánh, đĩ điếm và lưu manh vẫn lộng hành nơi nơi, truyền thông bẩn và giang hồ mạng vẫn tìm cách gieo rắc FUD: Fear, Uncertainty, and Doubt! Cái này dịch như nhạc sĩ Phạm Duy là rất hay, rất đắt, chúng ta đang sống trong một thời đại: Sợ hãi, Hoài nghi, và Khinh thị, chính thực là như thế! Mà những thành phần bất hảo của xã hội, chúng nó vẫn y một chiến thuật cũ rích, cứ lảm nhảm suốt những thứ tào lao thiên địa, không bằng không cứ, đánh vào đám đông với dân trí thấp lè tè ngọn cỏ! Muốn xử đám này thì buộc phải mạnh tay như TQ: chứng cứ đâu, xác minh nhân thân mày là ai!? Nói nghe có vẻ khắt khe, nhưng không có quyết tâm dẹp bỏ những thứ xàm xí, lưu manh thì làm sao đạt được tiến bộ xã hội!?

row planting

Người Trung Quốc bắt đầu trồng một số loại cây, rau, hoa màu, ngũ cốc theo luống từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Trồng theo luống tuy mất nhiều công sức lao động, nhưng đem lại nhiều lợi ích! Thứ nhất là kiểm soát được mật độ gieo hạt, không phung phí hạt giống! Thứ nhì là bảo đảm cho mỗi cây một không gian phát triển vừa đủ, không thừa, không thiếu! Thứ ba là tiếp cận để tưới nước, bón phân, chăm sóc, thu hoạch dễ hơn! Và thứ tư là chống chọi với gió bão tốt hơn!

Kết quả là năng suất lương thực tăng lên rõ rệt! Chuyện đơn giản như vậy, mà mãi đến khoảng thế kỷ 17, 18, người châu Âu sang TQ mới thấy và học làm theo, những… 2200 năm sau, trước đó họ vẫn canh tác sao cho lợi về sức lao động mà thôi! Nên không cần phải “triết học” rồi “tư tưởng” cao xa, chính những điều đơn giản nhưng làm thay đổi Quốc kế – Dân sinh, đó mới chính là những điều quan trọng! Mà những chuyện lặt vặt, nhỏ nhặt, không ai thèm để ý đó, thì người TQ… rất giỏi!

đường & biểu

Đại từ xưng hô là vô cùng phong phú trong tiếng Hoa, thể hiện nhu cầu giao tiếp xã hội phức tạp! Về quan hệ họ hàng thì tiếng Việt mượn tiếng Hoa hầu hết, nhưng vẫn có từ không mượn, hoặc mượn nhưng ngữ nghĩa khác biệt đôi chút! Chú (thúc – ), bác (bá – ), xưa hay nói: anh em thúc bá, tức là anh em họ con chú, bác! Tiếng Trung hiện đại ít dùng chú – thúc, đều dùng bá, không phân biệt tuổi! Cô (cô – ): chị em của bố, không phân biệt tuổi, nhưng cũng có nơi ở VN, chị của bố gọi là bác thay vì cô, cách gọi này theo tôi không hợp lý lắm vì thúc, bá nguyên là vai nam! Vợ của chú thì gọi là thím (thẩm – ), vợ của bác gọi là mỗ – (tiếng Việt không mượn từ này). Nhưng cả 2 từ này đều ít dùng trong tiếng Trung hiện đại!

Dì (di – ) chị em gái của mẹ, cậu (cữu – ) anh em trai của mẹ, đều không phân biệt tuổi! Vợ của cậu thì gọi bằng mợ (ma – ), chồng của cô gọi bằng dượng (trượng – ), nhưng ở VN thì tuỳ, có nơi gọi là bác, không hợp lý lắm, chồng của dì thì cũng gọi bằng dượng, nhưng có nơi không có danh xưng! Anh em họ ở VN không có danh xưng, TQ thì dùng biểu – và đường ! Nhưng ngay người TQ cũng đôi khi nhầm lẫn giữa đường và biểu! Chỉ dòng nam chính (con chú, bác) thì mới được gọi là đường: đường huynh, đường muội, còn lại đều là biểu: biểu ca, biểu tỷ! Tất cả thể hiện những mối quan hệ phức tạp, mà phức tạp, đáng sợ nhất của xã hội Á Đông lại chính là từ trong gia đình đi ra, còn quan hệ xã hội phổ thông đôi khi lại dễ dàng!

đạo diệc hữu đạo

Công nhận phim Trung Quốc làm càng lúc càng có nội dung, lời thoại cực thông minh, hình cắt từ trong phim ra, nhưng chữ thì ghép lại từ 3 màn hình riêng biệt cho trọn câu dễ đọc, chính là lấy từ cái câu: Đạo diệc hữu đạo – 盜亦有道, không biết là đang khen hay là đang mỉa mai nữa?! Dạo này bận nhiều việc, nhức đầu nên cuối tuần chỉ muốn nằm dài xem phim, chả buồn làm gì, haiza…

Nhiều người bảo, về kinh tế, VN có quy mô cỡ bằng một tỉnh của TQ, câu này… rất không đúng! Sợ là so với một huyện, một thành phố của họ còn khó. Ví dụ như huyện Tô Châu, tỉnh Giang Tô đã có GDP 330 tỷ đô, gần xấp xỉ VN (360 tỷ), còn thành phố Thượng Hải thì có GDP cỡ 630 tỷ, gần gấp đôi VN! Tính bình quân đầu người, năng suất lao động của người TQ cao hơn người VN đến 3, 4 lần!

phong sát

Cứ y như rằng khi có một nhân vật “nghệ sĩ” nào đó bị “phong sát”, “cấm sóng” ở Trung Quốc là đám báo chí rẻ tiền Việt Nam lại lên tiếng “than vãn, cạnh khoé, phẫn nộ, bất bình thay”… em đẹp như thế, em có nhiều tiền như thế, em là nghệ sĩ thành công như thế, sao lại bị đối xử bất công như thế, vâng vâng và vâng vâng!

Họ không hiểu quan điểm của nhà cầm quyền, thể hiện qua mấy câu: Quân tử ố kỳ văn chi trứ君子恶其文之着 – Người quân tử ghét cái vẻ loè loẹt bề ngoài (nhưng rỗng tuếch bên trong), và: Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền圣人不得已用权 – Thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến quyền lực (để uốn nắn, trấn áp)!

lững lờ, lửng lơ

Bữa trước tự dưng để ý một chút về chính tả: từ “lững lờ” phải viết bằng dấu ngã (vì “lững” đi kèm với từ có âm trầm – lờ – huyền, ngã, nặng), còn “lửng lơ” thì lại phải viết dấu hỏi (vì “lửng” đi kèm với từ có âm phù – lơ – ngang, sắc, hỏi). Mà “lững lơ” và “lửng lờ” tuy không chính xác là cùng nghĩa, nhưng rất gần nghĩa với nhau! Đây cũng chính là “mẹo” để viết cho đúng chính tả tiếng Việt, chú ý thanh của từ đi kèm. Trước đã có viết một bài về 8 thanh (không phải 6) trong tiếng Việt, trong đó Khứ – và Nhập – nhân với hai bậc Phù – Trầm tạo thành 4 thanh cả thảy, nhưng lại chỉ được ghi bằng 2 ký hiệu là “sắc” và “nặng”.

Về thanh Thượng – , thượng phù tức là hỏi, thượng trầm tức là ngã, với tiếng Việt hiện đại ngày nay, hỏi hay ngã hầu như không phân biệt! Nhưng dấu vết trong từ điển thì vẫn còn đó, ví dụ: hải – biển – và hãi – sợ – ! Câu hỏi đau đầu được đặt ra là: tại sao những người làm ra hệ thống ký âm Quốc ngữ, rõ ràng là không phân biệt được “Khứ – Nhập – Phù – Trầm”, nhưng lại bảo lưu “hỏi – ngã”, điều đã chết từ lâu tại thời điểm đó!? Đây chính là “hoá thạch” của một đặc trưng ngôn ngữ đã “tuyệt chủng” chỉ còn bảo lưu trong sách vở! Không nên cực đoan đến mức phải bỏ “hỏi & ngã”, bởi ngôn ngữ vốn dĩ là “võ đoán” như thế!

từ nguyên: khai căn, luỹ thừa, giai thừa

Một chút về các thuật ngữ toán học cơ bản. Ví dụ: “khai căn – 开根“, khai là mở, căn là gốc, 2×2=4, 2 được xem là gốc của 4, 4×4=16, 4 được xem là gốc của 16. Trong tiếng Anh, từ “square root” cũng chính là mang ý này, “root” lấy nguồn từ tiếng Latin “radix”, bản thân từ này là chuyển ngữ của “jadhr” trong tiếng Ả-rập, và có lý do để nghĩ rằng tất cả đều quay về từ “gốc – căn – 根” trong Hán ngữ cổ!

Rất có thể là những người Ả-rập đã học từ nguồn Trung Quốc hay Ấn Độ cổ đại! Một ví dụ tiếp nữa là từ: “luỹ thừa – 累乘“, luỹ là nối tiếp nhau, thừa là phép nhân, nên “luỹ thừa” là phép nhân một số với chính nó, nhân lên nhiều lần. Cũng tương tự như vậy, “giai thừa – 阶乘“, giai ở đây là bậc thềm, nên giai thừa chính là nhân một số với những số nhỏ hơn nó, giảm dần về 1 như hình giảm từng bậc của một bậc thang!

cửu chương toán thuật

Xem phim cổ trang, thường thấy các kỳ thi lựa chọn nhân tài: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa .v.v. của các triều đình phong kiến xưa. Khởi đầu từ thời Hán, phát triển dưới thời Đường, hoàn thiện dưới thời Tống, những cuộc thi lựa chọn, bổ nhiệm quan lại tương lai này đã đi sớm hơn châu Âu ít nhất là 1200 năm. Mãi cho đến những năm 185x, chi nhánh công ty Đông Ấn (East – Indian) hoạt động tại Hồng Kông mới bắt chước, tạo ra một hệ thống khảo thí để lựa chọn, nâng bậc nhân viên. Và sau đó thì nước Anh học tập công ty Đông Ấn, tạo ra những cuộc thi tuyển chọn công chức, viên chức! Như thế, bên cạnh cấu trúc chính trị đặc quyền dựa trên huyết thống cổ xưa, Trung Quốc đã có hệ thống dựa trên học vấn, tài năng, xây dựng xã hội dân sự sớm hơn toàn bộ thế giới ít nhất là… 1500 năm.

Như thế, một người gốc gác bình dân cũng có cơ hội leo lên những bậc thang xã hội cao nhất! Và cũng theo phim cổ trang thì… các thí sinh chỉ cần viết vài bài văn, luận để vượt qua những kỳ thi này! Nhưng thực ra cũng tuỳ thời, có lúc khảo thí của các triều đại TQ cũng có nhiều nội dung khác, mà quan trọng nhất là Toán và Luật! Như thời Sơ Đường (khoảng năm 600), thí sinh phải rành 10 cuốn sách sau đây về toán: Chu bễ toán kinh – 周髀算经, Cửu chương toán thuật – 九章算术, Hải đảo toán kinh – 海岛算经, Tôn tử toán kinh – 孙子算经 (Tôn tử này khác với người viết Tôn tử binh pháp), Trương Lập Kiến toán kinh – 张立建筭经, Ngũ tào toán kinh – 五曹算经, Hạ Hầu Dương toán kinh – 夏侯阳算经, Ngũ kinh toán thuật – 五经算术, Tập cổ toán kinh – 缉古算经, Chuế thuật – 缀述.

Trong những sách đó, cuốn “Cửu chương toán thuật” là có tầm ảnh hưởng sâu rộng khắp Á Đông, từ Nhật, Hàn cho đến VN! Những thuật ngữ chúng ta xài bây giờ: cửu chương, phương trình, phương trận, bình phương, lập phương, khai căn, luỹ thừa .v.v. là từ sách này! Tính diện tích ruộng, tính độ cao núi, tính thể tích hồ, tính thuế, tiền vay nợ và lãi suất, cấp số cộng, (hệ) phương trình phương trình tuyến tính, căn bậc 2 và 3, đồng dư thức .v.v. sớm hơn Âu châu cũng khoảng 1200 năm! Cách đây hơn 1500 năm mà kiến thức toán như thế là kinh hoàng, một số bài toán trong những sách đó còn hơn kiến thức cấp 3 thời giờ! Tại sao lại cần nhiều toán đến như vậy, đơn giản là vì xây thành, đắp luỹ, đào kênh, thu thuế .v.v. những công trình xã hội phức tạp với quy mô rất lớn bắt buộc phải cần đến Toán!

“Trường An thiếu niên hành” chỉ là một phim mang tính chất giải trí, nhưng kịch bản cũng khá thú vị: nhận thấy Hàn Lâm Viện đã trở thành một nơi tụng niệm chữ nghĩa, tầm chương trích cú, ít có giá trị thực tiễn, hoàng đế đã ra lệnh thành lập Thượng Nghệ Quán, một cơ quan giáo dục mới cạnh tranh với Hàn Lâm Viện! Đây là nơi để thử nghiệm, thực thi những hình thức, phương pháp giáo dục mới, với tiêu chí chú trọng kiến thức thực hành… và bài học đầu tiên, đó là môn bóng vợt, rèn luyện thể chất! Tuy nội dung phim là hư cấu nhưng cũng có dựa trên những sự thật, chứng cứ lịch sử nhất định! Đó là thời mà ở TQ, trong 1000 dân chỉ có 1 người biết chữ, 100 người đi thi chỉ có 1 người đậu, mà đã hơn đứt cái xứ ai ai cũng biết chữ, nhà nhà là tiến sư, giáo sĩ của ngay thời hiện đại!

thuốc súng

Từ góc độ kinh tế, bất kỳ điều gì cũng có thể mang lại lợi ích, kể cả, nói xin lỗi, là… cứt! Do có muốn làm hay không mà thôi! Tình trạng ô nhiễm do chăn nuôi quy mô lớn là đáng báo động, hầu như tỉnh nào cũng gặp vấn đề này, gây ra vô số phiền nhiễu, nhưng chẳng thấy ai xử lý! Ngược dòng lịch sử, nói chuyện xa xôi… châu Âu đã xử lý chất thải chăn nuôi gia súc như thế nào?! Người Trung Quốc phát minh ra thuốc súng, thành phần chính bao gồm diêm tiêu (kali nitrat – KNO3) và than (Carbon)! Than thì dễ rồi, nhưng diêm tiêu lấy ở đâu ra!? Người TQ lấy trong các hang động, nơi những loài dơi cư ngụ thành những quần thể lớn, phân dơi sau thời gian phong hoá, rửa trôi hàng trăm năm chứa rất nhiều KNO3, với khối lượng rất lớn lên đến cả chục ngàn tấn! Nhưng châu Âu mới là người hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc súng trên quy mô công nghiệp!

Người Đức từ thế kỷ 16 đã có những trang trại lớn, sử dụng chất thải của gia súc để sản xuất kali nitrat. Tro than từ gỗ (chứa nhiều kali carbonate – K2CO3) được trộn với phân, được ủ cho hoai trong thời gian một năm, sau đó đun để chiết tách ra KNO3! Về hoá học, đây là phản ứng khá phức tạp, dù tại thời điểm đó chưa hiểu rõ bản chất, nhưng người Đức mày mò làm được bằng kinh nghiệm! Như thế họ sản xuất ra lượng lớn KNO3, thời chiến thì dùng làm thuốc súng, thời bình thì dùng làm phân bón! Năm 1561, nước Anh có chiến tranh với TBN nhưng bị cạn nguồn cung thuốc súng, họ đành phải bấm bụng chi 150 kg vàng để đi mua “bí mật công nghệ” này từ một sĩ quan Đức! Nên học hoá theo kiểu công thức ở nhà trường là một chuyện, hiểu nó có ý nghĩa thực tế thế nào lại hoàn toàn khác! Chuyện từ một cái mà người ta rất kinh thường, thậm chí cho là tào lao như… phân Bắc, nhưng lại mang ý nghĩa hệ trọng như thế!

bất vong sơ tâm

Một trong nhiều điểm thú vị của các phim Thanh xuân Trung Quốc là các trò chơi tập thể! Bạn bè ngồi lại với nhau, ăn uống lai rai, thường là chơi “Nói thật hay thử thách”, người chơi phải chọn: hoặc kể ra một sự thật của bản thân, hoặc là phải làm một điều gì đó khó khăn! Có rất nhiều trò chơi khác nhau, như “Đương nhiên rồi” là một ví dụ: dù đối phương nói có khó nghe thế nào cũng vẫn phải trả lời “Đương nhiên rồi”, nếu không muốn/không dám thì phải uống một ly! Hay là trò “Tôi có, bạn không có” này, ai thua phải ăn một miếng chanh như hình thức phạt! Đã thấy vô số phim có cách xử lý những trò chơi rất sáng tạo!

Nếu như ở là ở Việt Nam, những trò chơi này rất dễ nhanh chóng leo thang, biến tướng thành những chuyện nhảm nhí, thô bỉ, thiếu tế nhị và vô bổ! Làm sao để giữ cho vẫn “chơi được”, thể hiện sự thông minh, tinh tế, điều phối sự phức tạp trong các mối quan hệ, đó chính là phim TQ! 不亡初心 – Bất vong sơ tâm – Đừng quên tâm nguyện lúc ban đầu, cái thông điệp này, phim TQ nó lặp đi lặp lại mãi đến mức nhàm chán, nhưng quả thực là người ta dám tin như thế, vì tin cho nên đã làm được rất nhiều chuyện lớn lao, phức tạp! Còn như ở VN, sau cái sự cố “chui vào tay áo” xưa kia là éo ai còn dám làm phim Thanh xuân nữa!

trịnh hoà

Trịnh Hòa, nhà hàng hải Trung Quốc, người dưới thời Minh – Vĩnh Lạc, Hồng Vũ, Tuyên Đức, trong khoảng 30 năm, đã hoàn thành 7 hành trình đi đến tận châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ, Nam Á, etc… với đội tàu hơn 300 chiếc và khoảng hơn 28 ngàn nhân sự tham gia! Những chuyến hải hành này thường được mô tả chung chung như những sứ mệnh ngoại giao, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của TQ! Nhưng không ai có thể giải thích cho rõ ràng: tại sao lại dùng một lực lượng lớn như thế, bỏ ra kinh phí rất lớn với những mục tiêu mơ hồ như thế?!

Có thể thấy mục đích những chuyến thám hiểm của Trịnh Hoà một cách dễ dàng nếu nhìn vào bức tranh lịch sử toàn cảnh! Thời nhà Nguyên trước đó đã chứng kiến tuyến đường thương mại mở ra với quy mô lớn giữa TQ và bán đảo Ả-rập! Lúc này, thế kỷ 12 ~ 14, hàng hải châu Âu vẫn còn chưa phát triển như thời gian sau này! Những người có kinh nghiệm chạy con đường tơ lụa trên biển không ai khác chính là người Ả-rập! Tuyến đường này đã có rất lâu từ trước, có thể ngay từ thời Hán, nhưng chỉ trở nên thịnh vượng dưới thời đế chế Mongol.

Nhà Nguyên ở TQ và Y-Nhi hãn quốc ở Iraq, Iran, Thổ… là 2 đồng minh thân cận có nhiều quan hệ qua lại, 2 quốc gia khởi nguồn từ Kublai Khan và Hulagu Khan – 2 anh em ruột, cháu của Genghis Khan! TQ chứng kiến sự thay đổi lớn do giao thương hàng hải mang lại: hàng hoá, văn hoá, khoa học, kỹ thuật! Người Mông Cổ không thạo hàng hải, họ chỉ đơn giản là… ra lệnh cho người khác làm điều đó! Đến khi nhà Minh lật đổ nhà Nguyên thì tuyến thương mại quan trọng này tạm thời bị gián đoạn, và Vĩnh Lạc đế – Chu Đệ phái Trịnh Hoà đi chính là để tìm cách nối lại (không thành công) con đường!

Vài ghi chép còn sót lại: lượng cobalt oxide (thời đó xem như “đất hiếm”) đem về từ Iran đủ dùng làm men xanh cho đồ sứ Cảnh Đức đến mấy chục năm sau! Đây chính là phiên bản cổ xưa của “Nhất đái nhất lộ – Một vành đai một con đường”! Ngày nay người ta không thống nhất được tại sao TQ lại ngừng đội tàu, đóng cửa sau 7 chuyến đi? Giải thích khả dĩ nhất là giới quan lại Nho giáo sợ những cơ hội thương mại, sợ tầng lớp thương gia giàu có làm bất ổn xã hội!

cổ phong

Chán nhất khi xem phim cổ trang, dã sử Trung Quốc là mới chỉ nghe… tên là đã biết quá nhiều thứ rồi! Nữ, tên “Chiết chi”, đích thị sẽ là ca nương (lấy từ câu “Mạc đãi vô hoa không chiết chi” – Kim lũ y, Đỗ Thu Nương). Nữ chính tên “Cảnh Cảnh” thì nam chính sẽ tên là “Tinh Hà” (lấy từ câu: “Cảnh cảnh tinh hà dục thự thiên” – Trường hận ca – Bạch Cư Dị). Nam chính tên “Bạch Ngọc” (viên ngọc trắng) thì nữ chính sẽ tên là “Vô Hà” (không tì vết)… Cứ như kiểu nếu một bên là “Thanh Phong” thì bên kia chắc chắn sẽ là “Minh Nguyệt” vậy, mấy cái công thức cũ kỹ!

“Tái thượng phong vân” là tên phim lấy từ một câu trong bài Thu hứng – Đỗ Phủ, “Hiệp khách hành” là tên bài của Lý Bạch, “Nhất phiến băng tâm” là lấy từ bài Phù Dung lâu tống Tân Tiệm”, “Tần thời minh nguyệt” là bài Xuất tái, đều của Vương Xương Linh… Đúng nghĩa là vô vị, nhàm chán, coi chủ yếu để giải trí, giết thời gian! Phim ảnh phổ thông – phân khúc thấp của TQ cũng tồn tại vô số vấn đề, nhu cầu giải trí, thể hiện của khán giả thời hiện đại quá lớn mà! Nhưng ít ra nó cũng có chút nội dung chứ không nhảm, xàm như khá nhiều thể loại phim Việt!

bao thanh thiên

Tại sao Bao Công – Bao Thanh Thiên lại sống vào thời Tống!? Câu hỏi có vẻ ngây ngô nhưng lý giải nó cũng có thể cho đáp án thú vị! Phim ảnh Đài Loan, Hồng Công, Đại lục đều đã làm quá nhiều về Bao Chửng rồi, nào là Công Tôn Sách, Triển Chiêu, Trương Long, Triệu Hổ, Vương Triều, Mã Hán .v.v. Đầu tiên, Bao Chửng là một nhân vật lịch sử có thật, làm quan nổi tiếng thanh liêm, và thực sự đã “xử” khá nhiều tham quan ô lại, kể cả hoàng thân quốc thích. Bao Chửng sống dưới triều Tống Nhân Tông, đây là giai đoạn cực thịnh của thời Bắc Tống, có thể nói đây là giai đoạn thịnh vượng nhất trong suốt lịch sử Trung Quốc!

Nhưng trước đó, triều Tống khởi đầu từ đống tro tàn. Trung Quốc sau loạn An – Sử cuối thời Đường dân số đã chết hơn 60, 70%, nhiều vùng 10 phần đã chết 9! Chiến loạn dẫn đến di dân hàng loạt, Hà Bắc, Hà Nam vĩnh viễn không thể phục hồi như trước! Thủ phủ của nghề trồng dâu nuôi tằm chuyển xuống phía Nam về Chiết Giang, Giang Tô. Chính khởi đầu gian khó như thế nên đẻ ra thứ Lý học của Chu Đôn Di, Chu Hy, Trình Di, Trình Hạo, một phiên bản khắt khe của Nho giáo! Đầu thời Tống, chính vì phải xây lại từ đống đổ nát nên xã hội đặt rất nặng vấn đề luân lý cá nhân: tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức .v.v.

Nhưng rồi họ vực dậy thành công, giống lúa mới du nhập từ Chăm-pa và Giao Chỉ đã tăng sản lượng lương thực lên nhiều lần, lượng dự trữ trong kho đủ cho toàn dân ăn trong… hơn 50 năm! Công, thương nghiệp phát triển như vũ bão, lượng của cải thặng dư vô cùng lớn! Triều Tống chứng kiến sự bùng nổ về dân số (tăng hơn gấp đôi), về khoa học kỹ thuật và văn hoá! Xã hội TQ chưa bao giờ giàu có như thế, nhưng giàu có cũng có mặt trái: con người ta trở nên ưa hưởng thụ, tham sống sợ chết, về mặt võ bị, quân sự, triều Tống cực kỳ yếu đuối, đây là tiền đề của việc mất nước về tay người Kim, người Mông Cổ sau này!

Mặt trái nữa là khoảng cách giàu nghèo, bất công xã hội tích tụ! Và mặt trái nghiêm trọng nhất chính là xã hội dung dưỡng lòng tham của con người, người dân nói chung và quan lại nói riêng, dẫn tới sự tha hoá về đạo đức! Quan lại thì mưu mô, xảo trá, tư lợi, nhà Tống vong quốc cũng vì những viên quan như Giả Tự Đạo, nhưng quan… thì thực ra cũng từ dân ra mà thôi! Xã hội đô thị, đời sống tập trung, dân số quá đông, nhiều sinh hoạt phức tạp, đương nhiên sẽ nảy sinh nhiều tranh chấp, mưu mô, thủ đoạn. Và lẽ tự nhiên là vì thực trạng xã hội như thế nên người dân có nhu cầu… công lý, và cái nhu cầu ấy rất bức thiết!

Chính giai đoạn chuyển đồi từ nghèo đói, khó khăn, khắc nghiệt sang có dư, sung túc… là giai đoạn đổ vỡ các giá trị xã hội! Cái văn hoá sinh tồn đầu thời Tống vô cùng khắc nghiệt, con người được yêu cầu phải đáp ứng những chuẩn mực về kỷ luật cá nhân, về giá trị cộng đồng! Nhưng đến khi no đủ rồi thì nôm na gọi là “rửng mỡ”… xuất hiện vô số hình thức tư lợi, gian manh, xuất hiện hàng loạt các loại án mà trước đây hiếm gặp! Xuất hiện nhiều kiểu tâm lý bệnh hoạn đến mức phi nhân tính, nhiều vấn nạn xã hội quái dị, kỳ quặc, những điều trước đây vốn không hề có, hoặc có nhưng đã bị cái kỷ luật sinh tồn kia trấn áp!

Nên Bao Công chính là đại diện cho cái nhu cầu công lý, công bằng và tiến bộ xã hội vô cùng lớn đó! Không phải chỉ là công lý chung chung, thời Tống nổi tiếng là một giai đoạn tư pháp phát triển, phát triển về luật lệ, xuất hiện nhiều kỹ thuật điều tra, phá án mới, ngay cả ngành pháp y cũng có nhiều tiến bộ! Đó là kết quả của một xã hội… nhiều tội phạm, từ dân cho đến quan! Thấy thấp thoáng bóng dáng xã hội VN hiện tại trong nhưng bài học lịch sử đó, nhưng e là nghiêm trọng hơn nhiều, vì VN thì chỉ có cái tâm lưu manh dẫn đến tội phạm, chứ kỹ năng xây dựng kinh tế, xã hội, văn hoá như người ta thì… không thấy có!

hạnh hoa thôn

Đêm qua ngủ, nằm mơ thấy câu: Tá vấn tửu gia hà xứ hữu? Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn – 借問酒家何處有?牧童遙指杏花村。 – Hỏi thăm quán rượu nơi đâu? Mục đồng chỉ hướng thôn đầu Hạnh Hoa! (Thanh minh – Đỗ Mục). Sáng dậy lên net tìm tư liệu thẩm tra lại, hoá ra, Trung Quốc có cả vài chục cái “Hạnh hoa thôn” khác nhau, nhưng không thể khẳng định “Hạnh hoa thôn” mà Đỗ Mục nhắc tới chính xác là chỗ nào! Nhưng chỉ cần vin vào một câu thơ như thế mà ngày nay, Hạnh hoa thôn – Phần Dương – Sơn Tây đã trở thành kinh đô của ngành công nghiệp rượu TQ, danh tiếng thậm chí có phần còn vượt qua cả Mao Đài. Cũng tương tự như bài Đào Nguyên hành – Vương Duy vậy: Cư nhân cộng trú Vũ Lăng nguyên, Hoàn tùng vật ngoại khởi điền viên – 居人共住武陵源,還從物外起田園。。。

Không ai có thể khẳng định Đào nguyên – Vũ Lăng nguyên mà Vương Duy nói đến là ở đâu, là địa danh có thật hay chỉ là nơi chốn tưởng tượng! Nhưng lại vin vào câu đó thơ nên ngày nay, Trương Gia giới – Vũ Lăng nguyên có được cái tên rất đẹp! Rất lâu về trước, mới nghe đến khu du lịch nổi tiếng này là tôi đã luận ra được tên được lấy từ đâu ra! Nên cái quan trọng của văn chương, văn hoá viết nó là như thế, lịch sử, cư dân biến đổi, thành quách, thiên nhiên đều có thể hư hoại, nhưng chữ nghĩa thì còn đó! Và đôi khi những thứ tưởng tượng, hư cấu lại trở ngược lại thành hiện thực! Nên bảo Trung Quốc nó bẻ một vài chữ cũng ra tiền, quả không sai, văn hoá nó đẻ ra tiền, điều ngược lại chưa chắc đã đúng! Chỉ có thiểu năng mới nghĩ rằng có thể cứ đầu tư tiền để đẻ ra văn hoá!

bạt miêu trợ trưởng

Mô hình thi cử như của TQ và VN đều có những mặt tốt và xấu, lợi và hại nhất định! Nhớ lúc đi thi ĐH, tôi được 9.5/10 môn Vật lý, Toán chỉ đạt 8/10 (còn cái môn dốt nhất là Hoá thì “kỳ lạ thay” lại đạt 10 điểm tròn)! Điểm số như vậy không phải vì không làm được mà mất điểm, mà là vì không có đủ thời gian! Do không đi học thêm, và hầu như không giải các “bộ đề” những năm trước, nên tôi không biết công thức nào được dùng (không cần chứng minh), định lý nào có thể được áp dụng thẳng. Vì không biết nên tôi… đi chứng minh tất cả mọi thứ lại từ đầu, từ những điều a, b, c đơn giản nhất! Ví dụ như công thức tính gia tốc trọng trường tại độ cao ‘h’ thường được phép dùng không cần chứng minh, nhưng vì không biết điều đó nên tôi đi chứng minh lại cho nó chắc ăn! Cứ như thế xin rất nhiều giấy, viết rất dài, và… không đủ thời gian để làm hết đề! Nhưng đó chính là sự lựa chọn của tôi ở cái tuổi đó: học ít thôi, nắm những cái căn bản là đủ rồi, giữ cho đầu óc cho nó được thảnh thơi, thoải mái!

Đó chính là cách tôi đã dùng để đối phó với kiểu giáo dục nhồi nhét, biết tuốt, tụng một mớ lảm nhảm không biết để làm gì, sẽ có ứng dụng gì. Học theo kiểu “biết tuốt” rất hại, vì kiến thức, thông tin của nhân loại thì ngày càng nhiều, mà khả năng ghi nhớ của con người thì có hạn, cái tuổi 15 ~ 18 cơ thể, tâm hồn còn chưa lớn hết mà đã phải dành quá nhiều thời gian, công sức chỉ để ghi nhớ thêm một chút, hòng đạt được điểm thi cao hơn một chút! Có thể thấy là TQ đã và đang cố gắng chuyển dần từ “biết tuốt” sang “biết kỹ”: bớt khối lượng kiến thức lại, tập trung trình bày dưới nhiều dạng hình phong phú để học sinh thấy hết chiều sâu vấn đề! Cái “biết kỹ” này tuy vẫn hao tổn tinh lực, vẫn có chút “nhồi nhét”, nhưng là những đổi thay rất đáng giá! Ví dụ đề Cao khảo dưới đây: tính số tổ-hợp hợp-âm trưởng và thứ trên cái bàn có 12 phím piano như trong hình. Câu này thực ra rất đơn giản, đọc xong chưa tới một phút là tôi đã làm đúng kết quả, đây là một câu rất hay!

Ít ra học sinh hiểu được rằng có thể dùng Toán để hiểu Nhạc lý (thực ra Nhạc lý đơn giản chính là Toán), biết như thế nào là “Trưởng” và “Thứ”, tính ứng dụng thực tế được mở rộng, biết đâu sẽ có lợi ích về sau! Nhưng để ra được những dạng đề như vậy, bắt buộc thầy cô phải… giỏi thật sự, có hiểu biết thực tế, đa ngành, chứ không tụng một mớ kiến thức chết! Không chỉ với những môn tự nhiên, nơi có tính đúng / sai rõ ràng, với các môn xã hội cũng vẫn cần phải “biết kỹ”, câu cú phải lật ngược lật xuôi cho cùng lý, không phải chỉ tụng một mớ chữ mà không hiểu được ý tứ trong đó! Học mà không cảm nhận được cái đẹp của thơ ca, không hiểu hết chiều sâu của ngôn từ thì rốt cuộc chỉ sinh ra một đám “đĩ miệng” suốt ngày lảm nhảm những cái hình thức nông cạn trên bề mặt! Thực trạng XH Việt như ngày nay một phần lớn lỗi là do học không kỹ, cái gì cũng “biết”, nhưng “biết” kiểu tào lao, từ tài liệu kỹ thuật cho đến văn bản luật pháp đều như thế, tình trạng câu chữ nhập nhằng, mơ hồ, không chính xác!

Từ “biết tuốt” lên “biết kỹ” là cả một sự tiến bộ vượt bậc, đòi hỏi sự thay đổi từ các giáo viên, điều này thực ra không hề dễ, không biết bao giờ mới làm được! Còn từ “biết kỹ” lên “biết sáng tạo” thì chuyện còn khó nữa, e là với thực trạng giáo dục như ở VN thì… chưa nên nói tới thì hơn! Chính TQ cũng đang loay hoay, nhưng họ biết rõ một điều, trước khi có khả năng “sáng tạo” thì hãy cứ học cho kỹ cái đã! Mà nói về kỹ tính, công phu thì TQ thuộc loại có hạng của thế giới, đương nhiên quốc gia rộng lớn như vậy luôn có người này người kia, xem phim của họ thì nên nhìn ra những khía cạnh công phu đó, đừng có chăm chăm vào trai xinh gái đẹp, ngôn tình, khoe nhà khoe xe… mà đám trẻ bây giờ chúng nó chỉ thấy điều chúng nó muốn thấy mà thôi! Giáo dục VN hiện tại, chính là diễn tả bằng một thành ngữ: Bạt miêu trợ trưởng – 拔苗助长 – muốn lúa nhanh lớn liền nhớm kéo gốc lên, kết quả hiển nhiên là… lúa chết! Hình bên dưới, đặt bên cạnh đứa bé sơ sinh: Cố lên, còn 6570 ngày nữa là đến Cao Khảo!

thành ý, chính tâm

Khi những chuyện đơn giản mà nói hoài không hiểu, những việc rất nhỏ mất hàng chục năm không làm được, đó chính thực là vấn đề… rất lớn! Thật ngạc nhiên khi chẳng ai dám nói ra nguyên nhân, bản chất thực bên dưới, chỉ lảm nhảm những cái hình thức trên bề mặt! Trộm vặt khắp nơi, từ sân bay cho tới bến xe, đinh rải đầy đường, ma tuý và thuốc lắc nhan nhản! Mạng xã hội thì hết hơn 8, 9 phần nội dung là đĩ điếm, lưu manh, xàm xí, xã hội thì tràn ngập không thiếu thứ tệ nạn nào! Báo chí cũng dần xem sự lưu manh trong xã hội là bình thường, thậm chí còn hùa theo! Khi bạn nhìn vào đó đủ kỹ, sẽ thấy chúng như 2 mặt của một đồng xu, tuy 2 mà 1, tuy 1 mà 2! Đầu óc trống rỗng và hoa ngôn xảo ngữ đi đôi với nhau, chính là mặt này, mặt kia vì nhau mà có, lặp lại như cái máy một số câu chữ tào lao, nhưng hiểu một từ cho kỹ, viết một câu cho đúng cũng không làm được!

Hai vấn đề tương sinh – tương diệt nữa: bản thân không tự định hình được niềm tin, giá trị gì, nhưng ai nói gì cũng tin, nói năng hùng hồn như đúng rồi luôn, nhưng bên trong không xác tín, không cố định được điều gì! Luôn ghen ghét vặt vãnh, tự ti và mặc cảm, nhưng lúc nào cũng “tôi biết, tôi đúng”, ai khác “tôi” là không được, đó cũng lại là 2 mặt tương sinh – tương diệt nữa! Không lớn về mặt tư cách, những “cái tôi” nhỏ nhoi suốt ngày đấu đá, tính kế nhau, không xây dựng được giá trị, ý thức cộng đồng, đó cũng là 2 mặt của cùng một vấn đề nữa. Thực chất, mọi chuyện đều là những biểu hiện, phản ánh từ cái “tâm” mà ra! Và cứ phải nói thẳng ra như thế, thực trạng XH Việt như ngày nay, chính là kết quả của những cái tâm bất thiện! Mọi lý do đều là lý trấu khi chưa nói đến đó: người Việt không thiếu sự “thông minh, chịu khó”, “chả thiếu thứ gì”, chỉ thiếu mỗi sự tử tế!

Không có sự tự tế nhỏ nhoi này thì không làm được việc gì cho ra hồn cả, làm gì cũng hỏng, càng làm càng đẻ thêm ra vấn đề! Chưa nói đến những đại sự “trị quốc, bình thiên hạ”, thậm chí còn chưa nói đến “tu thân, tề gia” nhé, vì trước “tu thân” vẫn còn mấy chữ: “cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm”, mà sao không thấy ai nói! Em biết nói ra như thế là sẽ ăn vô số gạch đá: mày là ai, mày đã làm được gì mà dám nói như thế… nhưng em cứ nói, chuyện rất đơn giản mà sao tổ chức hết hội nghị này đến nghiên cứu kia, tốn hết bao nhiêu giấy mực và nước bọt mà mấy chục năm rồi mà sao không ai nhìn ra!? Đừng đổ lỗi cho giáo dục, phe phái, ý thức hệ, tôn giáo, vùng miền, đừng tìm cách lấp liếm và nguỵ biện! Cứ nói thẳng ra như thế, mọi vấn đề của xã hội Việt, đều có cùng một lý do: “tâm địa bất chính”! Nói “tâm địa bất chính” đôi khi vẫn là “mỹ từ”, nói thẳng ra là đủ trò lưu manh vặt hạ cấp!

Biết là nói ra sẽ có người nhảy vào tìm cách xảo ngôn xảo ngữ ngay, nên… em dự đoán trước một số tình huống một số người có thể sẽ nói: “cách vật” – tức là phải cách xa sự vật (chữ cách này là – suy xét, không phải – xa cách nhé), “tu thân” – “tu” theo Phật giáo phải là như thế này thế kia, khái niệm “tu thân” của Khổng tử chả liên quan gì tới Phật (phải hơn 500 năm sau nữa thì Phật giáo mới bắt đầu truyền đến TQ) mặc dù dùng chung chữ “tu”: tu sửa, tu bổ, tu chính… Cứ như thế, người Việt sẽ dùng những mẹo chơi chữ “thiểu năng” để lươn lẹo chứ không bao giờ chịu hiểu vào bản chất, cái “tôi” đổi màu liên tục như con salamander vậy! TQ thì xem như đã bước vào giai đoạn “bình thiên hạ”, còn chúng ta vẫn còn mãi mắc ở khâu “chính tâm”! Nên tuy chỉ là một phàm phu tục tử, chẳng phải thánh nhân gì, đôi lúc cũng đành phải gượng gạo rằng: Hà lậu chi hữu – 何陋之有?!

thanh xuân, 2

Có một thời phim thanh xuân TQ tập trung vào phân tích, giảng giải những chiêu thức lừa đảo thường gặp trong xã hội. Một học sinh thành tích kém, vì tuyệt vọng nên đăng ký vào các trung tâm “luyện thi”, nhưng ở đó suốt ngày chẳng học hành gì, toàn dạy mấy chiêu “tự kỷ ám thị”: quấn băng “quyết thắng” lên đầu, rồi gào thét: “tôi sẽ thành công, sẽ thành công”! Thành công mà văng ra từ đằng miệng như nước bọt được thì cuộc đời đã quá dễ dàng! Đến cả những chiêu thức gian manh của học sinh cũng được phổ cập, có một vài thí sinh thi vẽ biết chắc là không đạt, nên bôi đầy màu nước lên mặt sau bài thi, để khi thu bài xếp chồng lên nhau sẽ lem qua, phá hoại bài của thí sinh khác! Đây chính là phổ biến cho các thầy cô coi thi, phải kiểm tra kỹ bức vẽ, nếu thấy thí sinh nào có dấu hiệu lưu manh là sẽ bị huỹ tư cách thi vĩnh viễn, không được dự thi lần sau! Luôn không hết ngạc nhiên về cách phim thanh xuân TQ phổ biến những kiến thức chống tiêu cực xã hội.

Một số, như phim này, có chiều sâu tâm lý đáng kể, kịch bản rất ổn, tiếc là vẫn còn một số chỗ hơi gượng ép! Những tính cách đa dạng của lứa tuổi, những nẻo đường phát triển cá nhân khác nhau, không ai giống ai, đều được mô tả theo một cách phong phú, đầy màu sắc! Như kiểu một người mới học vẽ chỉ có nửa năm mà đã đạt được tiến bộ còn hơn người có mười năm học vẽ ở Cung thiếu nhi, gây ra một sự ganh ghét không nhỏ trong đám bạn, chuyện như vậy tôi đã từng thấy khi còn ở tuổi đó! Muôn hướng phát triển tính cách, yêu, ghét, hờn ghen, giận dỗi, vừa yêu thương, vừa mâu thuẫn, thể hiện được sự phức tạp, nhạy cảm của lứa tuổi! Xem để hiểu vì sao người ta “lớn”, đừng để trở thành như xã hội Việt, trong đám bạn cũ ngày xưa quanh tôi, ngày xưa chưa lớn thì thôi cũng đành, đến hơn 20 năm sau, rất nhiều người vẫn không chịu “lớn”! Nếu xem hãy tự mình xem kỹ, đừng xem review nhảm trên mạng, chúng nó cũng chỉ thấy điều chúng nó muốn thấy mà thôi!

nhất lộ

Có thể thấy rõ lệnh chỉnh đốn các vai “ẻo lả, phi giới tính” của điện ảnh TQ có tác dụng rõ ràng! Các vai nam trong những phim TQ vài năm gần đây có sự chuyển biến khác hẳn, thực tế, sinh động hơn, có nội dung mang tính hiện thực, thể hiện các vẻ đa dạng của cuộc sống! Các vai nữ cũng vậy, mềm mại, uyển chuyển hơn, đi vào chiều sâu tâm lý chứ không phải chỉ có ưỡn ẹo, đơ cứng như trước! Đây đương nhiên là một chuyển biến tốt, trong vô số vấn đề của điện ảnh phổ thông TQ. Vì sao công chúng lại ưa các vai “đỉnh lưu” đơ cứng, máy móc, vô hồn như vậy!? Nhìn giống tượng sáp hay cao su, vô hồn, vô cảm đến mức… phản cảm!

Vì bộ phận không nhỏ khán giả thực ra đã “chết não” từ lâu rồi, chúng nó không hiểu sự sinh động của cuộc sống, chúng nó chỉ muốn những cái mang tính “phản xạ, kích thích”, cái gì đó “đánh vào cái tôi, được thoả mãn”! Đương nhiên, giới showbiz tìm ngay ra cái công thức “chết não, vô hồn” ấy, tất cả chỉ để thoả mãn đám zombie – xác sống kia! Mà “chết não” thì không có tự phản ánh, tự nhận thức đâu! Đáng thương một bộ phận đáng kể cư dân mạng hiện đại, “tâm & não” đã chết từ lâu, nghĩ rằng chỉ cần học đâu đó vài “bài” và cứ thế mà “diễn”, càng “diễn” chỉ càng cho thấy cái “trí” thiểu năng và cái “tâm” trống hoác!

nhất sinh

Công nhận phim thanh xuân TQ luôn có những thủ pháp thú vị, nhiều “bài” hay… Hai học sinh được giao nhiệm vụ treo cái băng-rôn đề 8 chữ: 辛苦三年 幸福一生 – Tân khổ tam niên, Hạnh phúc nhất sinh, ý là: hãy cố gắng học tập trong 3 năm (cấp 3) để sau này sẽ có cuộc sống hạnh phúc. Hai đứa loay hoay làm rớt xuống đầu đoàn kiểm tra, bị phạt ra hành lang đứng cầm biểu ngữ, hành lang hẹp nên phải gấp đôi lại, chỉ còn một nữa. Nên hai anh chị cứ đứng cầm cái bảng 4 chữ: “Một đời hạnh phúc” như thế, mới mở đầu phim là đã biết tỏng nội dung rồi!

Người Nga thường nói: trên thế giới có 3 loại phim: phim dở, phim hay và loại thứ 3 là… phim Trung Quốc. Ý nói nhiều khi không biết phải hiểu như thế nào, Trung Quốc là một không gian văn hoá quá phức tạp và riêng biệt mà người ngoài nhiều khi không thể hiểu hết, đôi khi còn cảm thấy nó kỳ quặc! Quả thực như vậy, cả mấy ngàn năm ở bên cạnh họ mà chúng ta cũng còn chưa hiểu được mấy, học đâu được mấy ngôn từ lảm nhảm, nông cạn trên bề mặt, chứ không hiểu được hết nội dung, càng không thể đạt đến được cái trình dụng tâm, công phu như họ!