mặc gia

Những ai cho rằng Nho gia là tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất đến toàn bộ lịch sử văn hóa, văn minh Trung Quốc thì tức là vẫn chỉ… “gãi ngứa ngoài da”, chưa thực sự hiểu lịch sử, văn hóa TQ. Nho gia, đó chẳng qua là một cái “chiêu bài mị dân” của các triều đại mà thôi! Ngược dòng lịch sử, khi nhà Tần thống nhất TQ và sau đó sụp đổ nhanh chóng, chủ yếu là do chính sách của nhà Tần quá hà khắc làm cho dân chúng bất mãn. Cái gọi là thể chế, chính sách của nhà Tần là một sự pha trộn giữa Pháp gia và Mặc gia!

Người Tần được đào luyện trong hai luồng tư tưởng này và đã trở nên vô cùng kỷ luật và ngoan cường! Đây chính là lý do làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh, đủ sức tiêu diệt 6 nước, thống nhất Trung Quốc. Nhưng chỉ có người Tần mới chịu đựng được sự khắc nghiệt của luật và văn hóa Tần, người dân những vùng khác không quen với điều đó, không có đủ thời gian để cho họ thích nghi và dần dần hiểu những giá trị văn hóa Tần, nên tuy đã “nhất thống thiên hạ”, nhưng không giữ được lòng dân và bị thay thế bởi nhà Hán.

Nhà Hán trông vào cái “vết xe đổ” đó nên… không dám thi hành những chính sách cứng rắn theo kiểu Pháp gia như nhà Tần, họ tìm một học thuyết thay thế, đó chính là Nho gia! Nói những lời “có cánh”: Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín thật dễ nghe, nhưng không có gì bảo đảm sẽ thực hiện được. Tuy vậy nhà Hán hiểu rõ, đây chỉ là… chiêu bài mị dân mà thôi, bên trong họ vẫn ngấm áp dụng các chính sách của Pháp gia, Mặc gia, giống hệt như nhà Tần trước đó, chỉ là làm theo một cách khéo léo, mềm mại hơn mà thôi!

Về Pháp gia: Hàn Phi tử, Thương Ưởng, Lý Tư, Thân Bất Hại, Quản Trọng .v.v… thì nhiều người đã bàn luận rồi, là nguồn gốc tư tưởng của luật pháp Tần! Nhưng Mặc gia mới đích thực là căn bản, khởi nguyên của… văn hóa Tần, rất nhiều người không hiểu và đánh giá thấp vai trò của Mặc gia, vì chính thức thì Mặc gia đã chết, sau thời Tần, gần như không còn ai theo, không còn mấy ai nhắc đến nữa! Chết trên “danh nghĩa”, nhưng vẫn tồn tại trong “thực tế”, tồn tại trong một mạch văn hóa liên tục kéo dài đến tận ngày nay!

chủ nghĩa xã hội

Phần lớn những tuyến đường sắt cao tốc ở Trung Quốc đến tận ngày nay đều lỗ, chính phủ bù lỗ và đây chính là ý nghĩa của cụm từ… “chủ nghĩa xã hội” !!! Chấp nhận lỗ, chi tiền ở mặt này để xã hội đạt được sự tiện lợi, tiến bộ trên nhiều mặt khác! Chấp nhận một giải pháp lỗ về tiền bạc ở một lĩnh vực nhất định, để giải quyết bài toán giao thông manh mún, phân tán, tự phát và cuối cùng rồi sẽ… gây ra nhiều tốn kém hơn nữa, nếu không có một giải pháp tập trung, triệt để, toàn cục, áp từ trên xuống cho toàn xã hội!

Nói cách khác là dùng tiền thuế của người dân để chi vào những việc công ích theo một cách rất hiệu quả và lâu dài! Bài toán “cao tốc” này, mới nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng thực sự là đặt cược vào dân trí, là phép thử khả năng phân chia và phối hợp lao động của toàn xã hội. Đây thực chất là một dạng bài toán “tối ưu toàn cục” rất khó! Việt Nam sẽ không bao giờ làm được chuyện này, mỗi người Việt, ai ai cũng cố gắng “tối ưu cục bộ” cho riêng mình, tầng tầng lớp lớp cục bộ, theo những kiểu cách vô cùng quái đản!

Cứ thế, kết quả hiển nhiên là toàn xã hội trở thành… chậm (tiến) !!! Chiều đi ngang qua chụp được cái hình, lấp con kênh tự nhiên rộng hơn 10m rồi đặt cái ống cống bé tí đường kính chưa đầy 1m, về sau ngập nước lênh láng lại đổ… là do tại trời! Rồi rất lâu sau đó nữa, sau khi đã hợp pháp hóa “từ công trở thành tư” thành công, sẽ lại vòi một đống tiền để đi “giải tỏa”, nói cách khác chính là tìm cách đẩy hậu quả đến tương lai! Chỉ cần là ai đó khác, toàn cộng đồng chịu cũng được, chỉ cần không phải “tôi” là được!

hạo hạo càn khôn

Nhìn lại những phim Trung Quốc thập niên 80, dù là Hương Cảng hay Đại lục, đều thấy trang phục, bối cảnh rất sơ sài, giống như kiểu diễn tuồng, hát bội vậy! 50 năm sau, phim TQ tiến bộ không ngừng, trở nên vô cùng chi tiết, tinh xảo. Ví dụ như để tạo ra một kiểu áo cho nhân vật, họ sẽ phục chế toàn bộ quá trình làm lụa, gấm, tái tạo đúng chất liệu đó, có như thế mới thấy được hết sự sống động của lịch sử. Duy chỉ có một phương diện mà phim TQ vẫn không đạt được bao nhiêu tiến bộ, đó là… nhạc phim.

Âm nhạc, đó là thể hiện của “chất”, dù có cố gắng góp bao nhiêu “lượng” cũng chưa chắc thay đổi được “chất”! Chuyện những năm đầu 90, truyền hình chiếu phim TVB – Lâm Xung, 1986. Hồi đó tôi có một ông thầy dạy Toán cấp 2, giảng bài rất hay và sinh động, đám học sinh chúng tôi rất thích. Thầy cũng nổi tiếng là nóng tính và nói nhiều, lớp nào vi phạm kỷ luật, ổng có thể “thuyết giảng” 3 ~ 4h liên tục không nghỉ! Đến tận giờ tôi vẫn không hiểu, ổng lấy đâu ra chừng đó ngôn từ để nói suốt 3, 4 tiếng như thế!

Như tôi chỉ nói nhiều trên internet thôi, chứ ngoài đời rất kiệm lời, nói đến câu thứ 2 mà người khác không hiểu là tôi không nói nữa. Nhưng… con người mà, vẫn luôn có những khía cạnh mà ta không biết đến, cho đến một hôm, tôi thấy ổng say sưa hát bài nhạc trong phim Lâm Xung đó. Trời ạ, không cần phải nói, thần tượng trong tôi, phút chốc sụp đổ tan tành, không ngờ người như thế lại đi nghe loại nhạc như thế! :D Bài nhạc yêu thích một thời, Hạo hạo càn khôn, nhạc phim Thái Bình thiên quốc – 1998.

quảng châu thập tam hành

Nhà Thanh đã sụp đổ như thế nào!? Có một thời Thanh quốc được mệnh danh là… “Bạch ngân đế quốc”, số lượng bạc tập trung về nước này chiếm phần lớn của thế giới! Hiểu theo nghĩa nào đó, Thanh quốc từng là quốc gia giàu có vào loại bậc nhất. Số bạc này có được từ buôn bán trà, lụa, gốm sứ và nhiều mặt hàng khác, thông qua “Quảng Châu thập tam hành” (tên phim sắp chiếu), mười ba “hành – hàng – hãng buôn” lớn được triều đình ủy quyền mua bán với phương Tây. Người TQ có rất nhiều bạc, trong 100 năm của TK19 sang đầu TK20, hầu như lúc nào cũng thặng dư thương mại, bạc liên tục chảy vào TQ.

Tuy vẫn là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu nhưng khả năng sản xuất của TQ đã lớn đến nỗi toàn bộ phương Tây không thể nào đấu lại nếu không công nghiệp hóa triệt để. Phải lý giải sự thặng dư và năng lực sản xuất này như thế nào? Đó là do người TQ có một sự siêng năng, chịu khó gần như vô hạn. Theo như chính người Anh đánh giá, hiệu suất làm việc của một người TQ cao gấp 7~8 lần một người Đông Nam Á lúc bấy giờ (cái loại sau là suốt ngày chỉ giở trò đĩ miệng và lưu manh vặt, còn chưa tự luận ra được mình kém chỗ nào!) Để cân bằng cán cân thương mại, người Anh đã xài đến chiêu bẩn là bán thuốc phiện vào TQ!

Kết quả là có một số thời gian, bạc chảy ngược từ TQ ra nước ngoài (để mua thuốc phiện), nhưng khi TQ kiểm soát được phần nào thuốc phiện, thì bạc lại… tự nhiên chảy vào TQ. Hết cách, người Anh đành đem… tàu to súng lớn ra cướp lại cái khoản thâm hụt thương mại khổng lồ này! Đứng trước “tàu to, súng lớn”, sự vượt trội của phương Tây về sức mạnh khoa học kỹ thuật, thì toàn bộ “trí tuệ phương Đông” không đáng một xu, đó là sự thật phũ phàng của lịch sử. Nền sản xuất lớn, lúc nào cũng đạt được thặng dư thương mại, cộng với một chế độ thuế khóa rất nhẹ, những điều này giúp Thanh triều tiếp tục tồn tại!

Thậm chí có giai đoạn, triều đình tăng thuế từ 40 triệu lượng bạc lên hơn 100 triệu lượng mỗi năm mà xã hội vẫn chịu đựng được, không có dấu hiệu quá sức! Chính cảm giác an toàn về tài chính khiến cho triều Thanh không cảm thấy có nhu cầu phải thay đổi, họ cảm thấy như vậy vẫn ổn! Nói theo một cách nào đó thì mọi quyết định của triều đình đều… đúng đắn, chỉ có điều: cộng nhiều cái đúng nhỏ lại thành… một cái sai lớn. Kể từ khi nhập quan, người Mãn cai trị TQ, nhưng họ bị đồng hóa triệt để đến mức không còn nói tiếng Mãn! Hàng ngũ Bát kỳ, qua nhiều thế hệ thế tập đã không còn sức chiến đấu.

Triều đình đơn thuần điều hành mọi thứ dựa trên… bạc! Dùng bạc để làm động lực cho các vận động xã hội, hoàn toàn không có một sức mạnh thể chất, tinh thần khác nào khác. Khi loạn Thái Bình thiên quốc xảy ra, quân đội nhà Thanh chỉ chăm chăm… vòi vĩnh bạc! Dùng hết lý do này lý do khác để đòi triều đình phải cấp ngân lượng, bòn rút chán chê rồi mới chịu tiến quân! Để thua cả hai cuộc chiến tranh Nha phiến, phải bồi thường hàng chục triệu lượng bạc! Rồi lại để thua cuộc chiến Trung – Nhật 1894 ~ 1895, mất Đài Loan, phải bồi thường thêm 200 triệu lượng bạc cho Nhật! Tuy nói rằng “con sâu trăm chân, chết vẫn không ngã”…

Tuy cơ bản xã hội TQ vẫn còn năng lực sản xuất khổng lồ, nhưng triều Thanh đã không còn khả năng huy động lực lượng của quốc gia, và trên hết là người dân đã chọn phải thay đổi, phải loại bỏ chế độ phong kiến! Nguyên nhân sụp đổ của Thanh triều về sâu xa đó là sự suy bại đến cùng cực của một xã hội “kim tiền”! Lúc nào cũng chỉ chực văng ra cái câu: “đầu tiên là tiền đâu”. Thiếu đi sức mạnh thể chất và tinh thần chống lưng, những cái “thùng phuy” chỉ biết tích trữ, “vinh thân phì gia”, đến khi có sự biến lớn xảy ra, có bao nhiêu tiền bạc cũng chẳng nghĩa lý gì! Dù cũng có một giai đoạn ngắn chủ trương “Dương vụ vận động”…

Nhưng thành phần bảo thủ trong triều đình quá lớn, có “vận động” bao nhiêu cũng không cứu được, cơ bản là đã quá muộn! Đó cũng là lý do những cuốn sách hiện đại mới xuất bản gần đây ở TQ như “Tô-tem sói” gây ra hiệu ứng độc giả mạnh mẽ. Cá nhân tôi cho rằng “Tô-tem sói” là rất đáng đọc, ít nhất là về mặt cảm hứng văn học, khi nhắc nhở chúng ta không được quên những sức mạnh cơ bản của con người, khi nhấn mạnh tìm kiếm sự thay đổi về chất, chứ không phải chỉ đơn thuần phát triển về lượng. Làm nghĩ đến một VN hiện tại, mọi “vận động” được tiến hành cũng bằng tiền, và hơn nữa là loại tiền đi vay…

công huân

Loạt phim truyền hình 50 tập nói về những người Trung Quốc được nhận “Cộng hòa quốc Huân chương”, danh hiệu cao quý nhất ở TQ. Cuộc đời mỗi người được viết thành một vài tập phim. Vu Mẫn: người thiết kế bom nguyên tử; Thân Kỷ Lan: chính trị gia, nhà hoạt động nữ quyền; Tôn Gia Đống: chuyên gia thiết kế vệ tinh; Lý Duyên Niên, Trương Phú Thanh: sĩ quan quân đội; Hoàng Húc Hoa: người thiết kế tàu ngầm hạt nhân; Đồ U U: đoạt giải Nobel Y-Sinh, chế tạo thuốc chống sốt rét từ thảo dược; Viên Long Bình: phát triển giống lúa lai, tăng sản lượng lên 10 tấn, rồi 17 tấn / hecta.

Còn có rất nhiều người (như Tiền Học Sâm, Tiền Tam Cường, Đặng Gia Tiên, etc…) thành tích, đóng góp của họ lớn hơn rất nhiều, nhưng đến ngày nay vẫn chưa được tặng Cộng hòa quốc Huân chương này, có lẽ vì thành tích, công lao đã ở mức… không thể đong đếm bằng Huân chương được! Xem những tình tiết trong phim để thấy rằng, họ đã bắt đầu từ một quốc gia đói ăn, lạc hậu, đã đi một chặng đường dài gian khổ đến ngày nay! Ví dụ như Hoàng Húc Hoa đã bắt đầu tính toán, thiết kế tàu ngầm hạt nhân bằng… bàn tính, dùng hàng chục con người ngồi gảy bàn tính!

Đương nhiên nếu cứ gảy bàn tính như thế sẽ mất cả nhiều ngàn năm vẫn chưa tính xong. Nhưng việc gì cũng có… khởi đầu gian nan như vậy! Họ đã bắt tay vào làm rất nhiều việc từ con số không, đôi khi là làm theo kiểu: “kỵ lư trảo mã – 骑驴找马 – cưỡi lừa tìm ngựa”, lừa tuy chậm không thể đuổi kịp ngựa, nhưng có vẫn còn hơn không, vấn đề là có quyết tâm làm hay không! Nhiều câu chuyện, nhiều chi tiết đời sống thực được diễn tả rất sâu sắc và xúc động, ví dụ như Viên Long Bình trong phim có một câu nói giản dị mà lớn lao: tôi sẽ thay đổi thế giới bằng một hạt giống!

Thiên hạ vi công

Đôi khi tôi nghĩ, thế mạnh của Trung Quốc xuyên suốt các giai đoạn lịch sử là có một thế lực có thể đối chọi lại sức mạnh của tiền bạc. Tiền bạc dĩ nhiên là có vai trò quan trọng của nó, nhưng cũng luôn có mặt trái, nếu để nó khuynh loát, lũng đoạn xã hội thì hậu quả không lường hết được. Như thời phong kiến thì Nho giáo của Khổng tử được dùng để định hướng, kìm chế từ phương diện tư tưởng, luân lý cho đến định chế xã hội. Đến thời hiện đại thì đó là CNXH mang màu sắc TQ! Nói cho đúng thì, chỉ cần 4 chữ: “Thiên hạ vi công – 天下為公” trong Lễ ký là đủ xác lập lý luận của CNXH rồi!

Bất luận gọi tên là gì, là chủ nghĩa này, là chủ nghĩa kia không mấy quan trọng, quan trọng là sự thể hiện ý chí con người, muốn vươn lên kiểm soát những “mặt trái”, để hướng xã hội tới những điều tốt đẹp hơn. Những nỗ lực cải cách xã hội của Trung Quốc là vô cùng sâu rộng, bền bỉ. Đương nhiên, bản thân chính cái “mặt phải” cũng có những… “mặt trái” của riêng nó. Ví dụ Nho giáo phát triển cực thịnh thời Tống với Lý học, rồi suy bại dần ở các thời đại sau, quá trình suy đồi này thể hiện rất rõ qua tác phẩm Nho lâm ngoại sử (đã được dịch sang tiếng Việt dưới tựa đề Chuyện làng Nho).

Và tuy thi cử cũng có những “mặt trái” của nó, nhưng ít ra muốn trở thành công chức Trung Quốc là cũng phải “ôn thi” vô số kiến thức: luật, logic, toán, lý, sinh, lý luận chính trị… tỷ lệ chọi cao kinh khủng: 1 – 100. Nếu đống kiến thức này được đào luyện cho sâu sắc, cho kỹ càng thì cũng tuyển được người tương đối có chất lượng chứ không đùa. Nếu quả thực, học hành mà chữ dính được vào đầu, thì đương nhiên sẽ hiểu ra được rất nhiều chuyện, đã không dẫn đến việc suốt ngày ngồi nghĩ ra một mớ ngôn từ nhiễu sự, nhảm nhí, không có nội dung thực chất gì như Việt Nam hiện tại!

nhân gian yên hỏa

Vài năm trước, Trung Quốc có một đợt tuyên truyền phòng chống thiên tai, nhân tai… Lệnh trên truyền xuống, thế là các diễn viên từ Trương Tịnh Nghi, Trương Tuệ Văn, Vương Sở Nhiên, Mã Tư Thuần, và nhiều người khác đều đôn đáo chạy đi… đóng phim: Hỏa diễm lam, Anh ấy bước ra từ ánh lửa, Khói lửa nhân gian của tôi, Em là thành trì doanh lũy của anh .v.v… Đa số đều là những phim khá hay, dù một số người sẽ có chỗ không thích vì chúng… nặng tính tuyên truyền. Các motif lặp đi lặp lại trong những phim này rất dễ thấy: con người chúng ta là khác biệt, ngành nghề là khác biệt, và xã hội vận động, phát triển được chính là nhờ sự khác biệt.

Vừa vào đầu phim là đạo diễn đã bắt phải hô khẩu hiệu rồi: “Đao sơn cảm thượng, Hỏa hải cảm sấm, Triệu chi tức lai – 刀山敢上火海敢闯召之即来“… nôm na tức là: “Dám lên núi đao, Dám vào biển lửa, Cứ gọi là đến…” Haiza, đương nhiên đây cũng chỉ là khẩu hiệu thôi, nhưng cũng nói lên được rất nhiều điều. Ở Việt Nam, “cứ gọi là đến” thì chỉ có 2 loại thôi, một là taxi, và hai… là gái! Cả xã hội khinh thường, không ai muốn làm cái nghề được xem là trâu bò, luôn phải xông pha “núi đao, biển lửa” này. Các phim đều lặp lại thông điệp rằng: dù “cứ gọi là đến”, nhưng nguồn lực công ích “miễn phí” này cần phải sử dụng một cách cân nhắc, thận trọng!

Khi tai họa xảy ra (hoả hoạn, động đất…) phần lớn trường hợp không thể vận chuyển nạn nhân tới bệnh viện kịp thời. Do đó cần thành lập các đội cứu hộ, cứu nạn liên hợp, đa ngành: những người lính làm nhiệm vụ cứu hộ, các y bác sĩ làm nhiệm vụ sơ cấp cứu tại hiện trường. Và thế là xuất hiện những chuyện tình lãng mạn bên trong các đội nhóm này, đơn giản vì người ta thích cái mình không có, các anh lính cứu hộ không có kỹ năng y tế, còn các y bác sĩ thì không đủ sức mạnh đảm đương công việc nguy hiểm. Ngay trong từng nhóm ngành nghề riêng biệt, con người cũng không giống nhau, đều có cách suy nghĩ khác biệt!

Cùng là 2 sĩ quan cứu hỏa, một người thì chú trọng rèn luyện kỹ năng, thể lực để xông pha chiến đấu với ngọn lửa, người còn lại thì chủ trương: sức chịu đựng của con người có hạn, cần phát triển, ứng dụng các công nghệ mới nhằm hỗ trợ cho việc cứu hộ cứu nạn được hiệu quả, an toàn. Hai người này thường xuyên mâu thuẫn với nhau, nhưng thực chất cả hai đều là những nhân vật không thể thiếu trong đội cứu hộ… Đều là 2 bác sĩ học chung với nhau, một người về mặt học hành, nghiên cứu giỏi giang hơn, nhưng người kia được các thầy cô đánh giá cao hơn, vì có sự nhiệt tình, tận tụy với bệnh nhân, mà đây là điểm trọng yếu của ngành Y.

Cả hai đều được gởi tới… Khoa cấp cứu, đây thường không phải là khoa có học thuật cao nhất trong một bệnh viện, công việc căng thẳng, vừa phải đối phó với bệnh nhân lẫn người nhà, đủ các loại người khác nhau từ tử tế cho tới lưu manh, tội phạm. Thời gian ở Khoa cấp cứu, họ học được cách áp dụng kiến thức, cách xử lý các tình huống, và cả cách để đối xử với đủ loại người khác nhau này. Sau đó, các thầy cô mới rút 2 người này về các Chuyên khoa để tiếp tục phát triển chuyên môn, xem đó như một thời gian rèn luyện! Sự khác biệt giữa các ngành nghề, giữa con người với nhau… là không cách nào nói cho tường tận được.

Tuy rằng đều gọi là: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, etc… nhưng mỗi ngành nghề mỗi khác, mỗi lĩnh vực đều có những quy chuẩn riêng sinh ra từ thực tế cuộc sống. Và ngay cả trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, cũng luôn có nhiều phương hướng không thể trực tiếp so sánh được với nhau! Những thang giá trị không thể trực tiếp so sánh với nhau, đó chính là cách xã hội vận hành, là cách con người tồn tại qua muôn ngàn biến động! Chỉ có thiển cận mới nghĩ rằng tất cả đều có thể quy về một “barème” chung để tự thoả mãn cái tính cạnh khóe hơn người của mình. Người Việt vẫn luôn có cái gì đó thực sự vô cùng bất ổn trong cái so đo này!

Hạ Vũ

Vài năm trước, trên Wikipedia tiếng Việt có một “cuộc chiến sửa đổi” dữ dội, các bên tranh nhau sửa nội dung theo ý mình: mục Hạ Vũ, vị “hoàng đế” đầu tiên của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Giai đoạn này, dân tộc Hoa Hạ có dân số ước tính khoảng 2.5 ~ 4 triệu người, sống quanh đồng bằng sông Vị, sông Hoài, Hoàng hà! Chưa hình thành chế độ phong kiến tập trung mà mới chỉ là nhiều thị tộc tìm cách liên minh lại với nhau để hợp sức… trị thủy! Vì dân cư sống định cư với hình thức canh tác nông nghiệp, mà lũ lụt hàng năm tàn phá mùa màng! Lúc này tên nhân vật lịch sử chỉ đơn giản gồm 1 hoặc 2 chữ: Vũ, Cổn .v.v… vì xã hội còn chưa có họ.

Cổn theo lệnh của Nghiêu làm công tác trị thủy suốt 9 năm, be bờ đắp đập, xây dựng các tuyến đê lớn, nhưng cuối cùng thất bại, không khống chế được dòng nước lũ. Vì lý do đó, Nghiêu giết Cổn, và sai con của Cổn là Vũ tiếp tục sự nghiệp trị thủy. Vũ làm việc liên tục suốt 13 năm, đào nhiều kênh giúp phân tán, giảm bớt sức mạnh của dòng nước lũ, nhờ đó mà trị thủy thành công. Ở một thời đại còn chưa có chữ viết, nhưng người TQ đã tổ chức làm những công trình vĩ đại, với tinh thần trách nhiệm lớn lao, làm không được việc là sẽ có vài án tử rơi xuống, phải có ai đó chịu trách nhiệm, không có chuyện “trách nhiệm suông” được!

Theo Sử ký, Thuấn đã “thiện nhượng” – truyền ngôi cho người trị thủy thành công là Vũ. Nhưng ngày nay, qua những nguồn tư liệu khác, chúng ta biết Vũ đã ép Thuấn phải nhượng vị, đơn giản là người chỉ huy đại công trình trị thủy tức là nắm trong tay quyền huy động nhân lực / vật chất lớn nhất quốc gia. Bài học rút ra là: đắp đê tuy vẫn cần thiết ở một vài khu vực xung yếu, nhưng căn bản không giải quyết được vấn đề. Để trị thủy thành công, cần tạo ra nhiều chỗ trống để chứa nước, cần có các kênh rạch giúp dòng nước mau chóng phân tán, thoát ra biển. Đó là cách đây khoảng 4300 năm, người ta đã làm được những việc như vậy!

4300 năm sau, ở cái xứ Vịt kia, rất nhiều người vẫn chưa thể hiểu / nói cho cho đúng đắn! Chuyện rất đơn giản trên nguyên lý: cái chén dùng được là nhớ có chỗ trống bên trong để chứa nước, cái cửa dùng được là nhờ có chỗ trống bên trong cho người đi qua, cái thuyền dùng được là vì bên trong nó trống rỗng nên mới nổi trên mặt nước. Muôn vật dùng được là nhờ đến… “tính không”! Một xã hội toàn những “cái tôi” quá lớn, vừa to lớn vật vã, vừa méo mó đến mức biến dạng, ai cũng cố lấn ra một chút, ai cũng cố dành thêm một chút về phần mình, rút cuộc chiếm dụng hết sự “không”, thế rồi tự mình hại mình, tự biến thành nơi không ai sống được!

vi tích phân, p2

SGK VN có một cái bệnh là chỉ toàn công thức, gần như không có một lời giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ tự nhiên” nào. Đưa ra một mớ công thức, định lý, hệ quả theo kiểu … kiến thức chết mà không đưa ra được ví dụ để làm rõ chúng rút cuộc có ý nghĩa gì? Thế rồi, thảy ra một đống bài tập, đẩy học sinh vào trò chơi “ký hiệu, biểu tượng” hoàn toàn chỉ mang tính chất đánh đố, vô hồn, vô nghĩa. Có lần tôi đọc một cuốn Giải tích tiếng Anh rất hay, hơn 500 trang khổ lớn (lớn hơn khổ A4). Mỗi khi đưa ra một công thức, định nghĩa, họ đều đưa ra vô số ví dụ minh họa!

Họ tìm cách giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ phổ thông của cuộc sống hàng ngày”: ví dụ, dẫn chứng từ thế giới thực, các câu chuyện lịch sử, thông tin “bên lề”, hình ảnh, biểu đồ, nhiều đến mức HS không thể đọc hết. Nếu chỉ để hiểu những điểm cốt yếu, hay để đi thi, thì chỉ cần đọc một số trang nhất định! Phần thông tin thêm, lớn hơn nhiều lần, là dành cho những cho những ai thực sự muốn hiểu sâu! Phần này, e là đến chính người viết SGK VN, chứ chưa nói giáo viên, còn chưa hiểu tường tận! Hệ quả là: đi thi thì được, nhưng làm thật lại… không được!

Cách trình bày thuần túy Toán học, toàn công thức… chỉ dùng được với những người đã có kinh nghiệm làm Toán lâu năm, không phù hợp với HS cấp phổ thông (thậm chí là cả cấp ĐH). Một công thức Toán có thể rất ngắn gọn, nhưng ý nghĩa và tính áp dụng thực tế của nó thì… thiên hình vạn trạng. Cách dạy Toán theo kiểu thuần túy công thức là chỉ phù hợp để… đi thi mà thôi! Muốn kiến thức đó trở nên hữu ích trong cuộc sống, đi vào thực tiễn nghiên cứu, sản xuất… thì đầu tiên phải nhìn cuộc sống thực theo cách đa chiều, muôn màu muôn vẻ đã!

Cũng như học võ vậy, cơ bản gồm 2 phần: “Hình – – kata – các bài quyền” và “Phân giải – 分解 – Bunkai – ứng dụng thực tế”. Hình là một tập hợp các động tác có tính trừu tượng cao, có quá trình phát triển rất lâu đời nên uyên áo, khó hiểu, còn Phân giải là muôn ngàn cách biến hóa, triển khai, ứng dụng Hình vào trong thực tế chiến đấu! Mà Võ học (cũng như Toán) không phải chỉ bao gồm có Hình & Phân giải! Trừ khi bạn đi theo ngành Toán lý thuyết thuần túy, còn đa số chúng ta, nếu chỉ học các bài quyền thì vẫn mới chỉ là làm màu, chưa phải là học võ thực sự!

Nên không phải là Toán cao cấp không có ích, không cần thiết trong cuộc sống, nghiên cứu, sản xuất, etc… Vấn đề là bản thân người làm SGK, người và học Toán vẫn còn đang ở một trình độ… chưa thể hiểu hết ý nghĩa, khả năng biến hóa và tính ứng dụng thực tiễn của nó, và do đó, còn xem nó là vô dụng, là kiến thức chết! Thêm nữa, yêu cầu của cuộc sống, của kinh tế, sản xuất chỉ mới ở mức cộng trừ nhân chia, sơ khai đơn giản, chỉ một cái bảng tính Excel là đã đáp ứng đủ tất cả yêu cầu, còn chưa cần dùng đến Toán cao cấp!

Để sửa cách dạy và học Toán này không phải bắt đầu từ Toán, mà phải bắt đầu từ… Văn và Sử! Đa số người Việt, ngoài miệng thì hoa ngôn xảo ngữ, nhưng kỳ thực là che giấu bệnh “sợ chữ”, không đọc nổi một đoạn văn 10 dòng, hay cũng có đọc nhưng lười, không suy nghĩ sâu xa! Đầu tiên phải có chút công phu đọc hiểu, tìm tòi đã, không tìm tòi thì làm sao hiểu được: Toán chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những nỗ lực giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống! Đào bới lại lịch sử, nhìn lại những gì nhân loại đã làm… là tự khắc sẽ hiểu rõ thôi!

vi tích phân, p1

Có một vài nguyên nhân khiến cho việc học Vi tích phân trở nên “khó nhằn”. Đầu tiên là từ nguyên: “nguyên hàm – hàm nguyên gốc” và “đạo hàm – hàm dẫn hướng – 导函“! Chữ “đạo – ” ở đây nghĩa là chỉ đường, dẫn hướng (tiếng Trung hiện đại dùng chữ “đạo hàng – 导航” để chỉ khái niệm định hướng, tìm đường – navigation). Giải thích cho HS tại sao vận tốc lại là hàm “chỉ hướng” của quãng đường, gia tốc là “chỉ hướng” của vận tốc, có thể dùng ví dụ trực quan là “vector tiếp tuyến”. Hay là dùng luôn chữ “hướng lượng – 向量” để chỉ khái niệm “vector” cho nó đồng bộ!?

Đồng thời cũng giải thích cho HS hiểu vì sao quá trình từ “nguyên hàm” tính ra “đạo hàm” lại gọi là “vi phân”. Chữ “phân” ở đây có thể hiểu là phân tích, cũng tạm hiểu là phân chia, là cách nói gọn của “Giải tích – phân tích – analysis”! Vì sao quá trình ngược lại, từ “đạo hàm” ra “nguyên hàm” gọi là “tích phân – tính tổng”. Tôi dám cá nhiều HS còn chưa hiểu tại sao tích chính là tổng, phép cộng nhiều lần chính là phép nhân! Nên chăng phải có một chương “dẫn nhập”, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ, các lĩnh vực của ngành Giải tích…

Và giới thiệu sơ lược lịch sử của Giải tích: Newton, Fourier đã tìm cách giải bài toán Dự đoán thủy triều thế nào? Máy tính cơ học dùng để tính tích phân đã được chế tạo ra sao? Tại sao lịch sử vi tích phân lại quy về 2 người là Newton và Leibniz!? Tôi nghĩ, cách tốt nhất để học Toán phổ thông chính là học “Lịch sử Toán”, học để biết cả một quá trình phát triển! Cũng tương tự, cách tốt nhất để học Văn chính là học… Văn học sử: học Nguyễn Du thì ít nhất cũng nên biết sơ qua ông ta thân thế làm sao, sống trong bối cảnh thế nào!?

Khối lượng kiến thức “bên lề” này là… bao la, rộng hơn rất nhiều so với phần được trình bày trong SGK, nhiều điều ngay cả giáo viên giảng dạy còn chưa biết đến! Ngày xưa đi học, tôi sợ nhất là bản thân nổi hứng trích dẫn vài câu thơ “lạ lạ”, khả năng cao là sẽ bị phê: “Lạc đề”, cho 2, 3 điểm! Nói không phải chứ tôi biết rất rõ, ngoại trừ một vài trường hợp, phần lớn giáo viên Văn cũng chẳng biết được bao nhiêu văn, họ chỉ dò câu chữ xem học sinh có làm đúng “đáp án” hay không, chứ không có khả năng hiểu, bình phẩm và tán thưởng những ý tưởng mới lạ!

Hệ thống kiến thức là phát triển tuần tự theo dòng thời gian, và có lịch sử phát triển đôi khi còn phức tạp hơn cả bản thân kiến thức đó! Không thể chấp nhận kiến thức theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”! Học theo kiểu “từ trên trời rơi xuống” rồi sẽ sinh ra những loại người… “từ trên trời rơi xuống” mà thôi! Vấn đề kế là đừng sa đà vào công thức và bài tập khô khan! Ngay từ các khái niệm gốc, sử dụng nhiều ví dụ minh họa để HS hiểu rõ chúng có ý nghĩa gì trong thực tế, dùng để giải quyết những vấn đề thiết thực nào trong cuộc sống.

Vội vàng đi sâu vào các bài toán trừu tượng và phức tạp mà không giải thích rõ ràng những khái niệm cơ bản ngay từ gốc, không hiểu các kiến thức đó dùng để làm gì thì cũng giống như tự cưa cành cây mình đang ngồi trên đó vậy, cũng như học đủ các chiêu thức võ công, cái gì cũng biết mà… đứng tấn không vững vậy! Sau đó, còn không hiểu nữa thì chỉ có thể đổ lỗi cho… cái tính nó “đoản – đoảng – ngắn” vậy thôi, ưa vung vít những chuyện tào lao trên trời dưới đất, nhưng không chịu hiểu những điều sơ đẳng, thiết thực!