đăng hoành sơn

Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
Ai tài kéo nước nghìn năm lại?
Trăm trận còn tên một lũy thôi.
英雄莫挽千年國
征戰空存一壘名

Hình chụp ở thành phố Đồng Hới, Quảng Bình. Thành cổ Đồng Hới không lớn nhưng cấu trúc thành, hào vuông vắn theo kiểu Vauban vẫn còn được bảo vệ tốt…

Bernoulli’s principle – 2

Trên không gian mạng, thấy có nhiều vị Tiến sư, Giáo sĩ, bằng cấp học hành ghê gớm, mà không thể hiểu được những công thức, nội dung toán/lý đơn giản! Em đang nói về nguyên lý Bernoulli, nguyên lý chi phối cánh buồm, cánh máy bay! Nói tới nói lui, 2, 3 năm thời gian suy nghĩ thì rút cuộc vẫn chưa thông, mà em e là trí năng như thế, chưa thể thông sớm được!

Con “tàu lượn dưới nước” Trung Quốc “海翼 – Hải Dực – cánh biển – SeaWing” này có thể đi xa hơn 10000 (mười ngàn) km, chỉ lượn lờ chậm rãi, không nhanh nhưng đi rất xa, thích hợp làm công cụ do thám! Mà kích thước chỉ bé thế thôi, làm sao dự trữ lượng lớn năng lượng để làm những hành trình dài thế!? Bác nào giải thích được thì mới gọi là hiểu nguyên lý Bernoulli!

đậu mùa

Trung Quốc là nước sớm nhất trên thế giới tìm ra những dạng vaccine sơ khai đầu tiên. Ngay từ những năm 16xx, theo lệnh của Khang Hy đế, đã tiến hành “chủng” đậu mùa trên gần như là toàn quốc, tiến đến xoá sổ căn bệnh này! Nhưng dĩ nhiên, họ không dạy cho Việt Nam cách “chủng”, nên đậu mùa vẫn hoành hành ở VN mãi… 300 năm sau, ít nhất là đến những năm 195x! Thuận Trị đế chết vì đậu mùa, Hiếu Trang hoàng thái hậu có nhiều lựa chọn kế vị, nhưng đã chọn Khang Hy vì ông ta là một đứa trẻ khoẻ mạnh!

Và quan trọng nhất là Khang Hy đã từng nhiễm đậu mùa và đã qua khỏi! Lịch sử đã chứng minh đó là sự lựa chọn đúng đắn, hiếm có vị hoàng đế Trung Quốc nào giỏi giang, ham học hỏi như Khang Hy, cùng với cháu nội mình là Càn Long, đã tạo dựng nên một giai đoạn phồn thịnh rực rỡ gọi là “Khang – Càn thịnh thế”! Nói theo ngôn từ hiện đại thì vaccination và variolation là hai khái niệm tuy có liên quan nhưng khác nhau! Ghi chép văn bản đầu tiên về các phương pháp “chủng” ở Trung Quốc xuất hiện khoảng năm 1499!

Phương pháp đã được áp dụng từ thời Minh và phát triển rộng rãi thời Thanh, là phương pháp chủ động nhiễm bệnh nhẹ để sinh kháng thể! Phương pháp có tỉ lệ tử vong dưới 2%, dù vậy cũng đã là “cứu tinh” nếu so với tỷ lệ tàn khốc 20 ~ 30% nếu để dịch bệnh xảy ra! Nguyên nghĩa, chủng – là gieo, trồng, cấy. Nghĩa phái sinh là lấy một mẫu bệnh phẩm nhỏ của bệnh nhân, tán nhỏ, hít vào theo đường hô hấp, hoặc rạch da, cấy vào theo đường máu, nguồn gốc của những từ “tiêm chủng”, “chủng ngừa” ngày nay!

Như vậy có thể thấy, hơn 300 năm trước, bằng các quan sát, phương pháp thuần tuý thực nghiệm, chưa có các cơ sở khoa học hiện đại như ngày nay, người Trung Quốc đã biết cách tiến hành “chủng ngừa” cho phần lớn dân số, trình độ hiểu biết về y lý cao hơn hẳn phần còn lại của thế giới! So với thời hiện tại, ngay cả những nước văn minh phát triển, vẫn có đến khoảng 20% dân số mang tâm lý anti-vaccine… Dĩ nhiên, đánh vào những nỗi sợ hãi bản năng, tự nhiên của con người vẫn hiệu quả hơn là một sự tiếp cận lý tính!

e-ink display

Hiện tại, giá còn hơi chát, nhưng tương lai vài năm nữa, có một viễn cảnh thế này: máy tính của coder nên có hai màn hình, một LCD truyền thống, và một e-ink, trong ảnh là màn hình e-ink Dasung, cty trụ sở tại Bắc Kinh, TQ (đã có màn hình kích cỡ 25.3 inch). Tất nhiên, nhiều thao tác máy tính vẫn cần đến màn hình đầy đủ mầu sắc.

Nhưng với một coder – lập trình viên mà nói, một ngày có khi hơn 12 tiếng, phần nhiều chỉ edit text, thì màn hình e-ink không phát sáng, đúng nghĩa là “giấy trắng mực đen”, có thể bảo vệ mắt tốt hơn nhiều, càng tốt hơn nữa nếu có thể hiển thị 256 mức xám! Xứ sở phát minh ra giấy, đương nhiên sẽ làm giấy điện tử thật tốt!

ngôn hoài

Chọn nơi xa vắng sống thong dong,
Vui vẻ từng ngày thoả tính ngông.
Đôi lúc trèo ngay lên đỉnh vắng,
Hét dài một tiếng lạnh tầng không!

Trạch đắc long xà địa khả cư, Dã tình chung nhật lạc vô dư. Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư! (Không Lộ – Lý quốc sư). 倥路禪師 – 言懷 擇得龍蛇地可居,野情終日樂無餘。有時直上孤峰頂,長叫一聲寒太虛。

từ nguyên: tự do

Từ nguyên: Tự do – 自由 – Freedom, Liberty. Giải thích theo Hán ngữ thì tức là: “vì nguyên do tự thân”, “tự dàn xếp ổn thoả với các lý do nội tại”, “tự mình điều phối được suy nghĩ, hành động của bản thân”, hay nôm na nghĩa là “tự do mình mà ra”. Từ mang hàm nghĩa con người có được “tự do” khi có thể sống ổn thoả với chính bản thân mình, ngữ nghĩa hướng nội kiểu rất “duy tâm” nhé!

Giải nghĩa như thế hình như chẳng có liên hệ gì với “freedom – liberty” của phương Tây, những khái niệm mang hàm ý: con người thoát ra khỏi ràng buộc của môi trường, của xã hội xung quanh. Một đằng chỉ liên hệ ngoại giới, ngoại thân, một đằng chỉ nội tình nội tại bên trong, nhưng bị cưỡng ép về cùng một nghĩa. Vậy lâu nay, các anh dùng từ “tự do” nhưng có thật sự hiểu nghĩa nó không?

tử viết, tử viết…

Lại nói truyện chưởng Kim Dung, Thiên Long bát bộ, hồi 58, 59. Nguyên lai, Tô Tinh Hà của Tiêu Dao phái có 8 đệ tử gọi là Hàm Cốc bát hữu, 8 vị này tuy võ công không cao, nhưng mỗi người có những “tuyệt nghệ” riêng, người chơi đàn, kẻ đánh cờ, người đọc sách… Trong Hàm Cốc bát hữu đó, hàng thứ 3 gọi là Cẩu Độc, cái tên này có nghĩa là: bạ cái gì cũng đọc, đọc vô số sách vở, cứ mở miệng ra là: “Tử viết, Tử viết” (Khổng tử nói thế này, thế kia…), luôn mồm trích dẫn điển tích, tầm chương trích cú. Hai hồi này trong Thiên Long bát bộ có rất nhiều “Tử viết, Tử viết”, thật là một màn trào phúng, châm biếm rất thú vị!

Chuyện “Tử viết, tử viết” (子曰,子曰。。。 Khổng tử nói thế này, Khổng tử nói thế kia…) trước đã có nói đến nhiều, nay đến chuyện “Khổng tử không nói”… 子不語怪力亂神 – Tử bất ngữ: quái lực loạn thần – Khổng tử không bàn chuyện quái dị, bạo lực, phản loạn và thần quỷ. Nhiều lần, đã từng có nhiều người hỏi Khổng Ni về thần tiên, ma quỷ, về “thế giới bên kia”, tất cả đều được đáp rằng: chuyện người sống còn chưa biết rõ, bàn làm gì chuyện người chết! Tư tưởng của Khổng tử tập trung hoàn toàn vào vai trò, tư cách, đạo đức của con người trong cộng đồng và xã hội, ông ấy từ chối trả lời các vấn đề siêu hình, siêu nhiên…

thệ hải minh sơn

Đàn anh đã cho tôi trời xanh bao ước mơ tuổi thơ,
Đàn anh đã cho tôi dòng sông mang cánh buồm khát vọng…
Mặt trời bé con - Trần Tiến 

Facebook nhắc ngày này mấy năm trước… Nhiều lần xem phim, thấy cảnh trai & gái ngồi tự tình, đối diện biển xanh bao la, cảnh quan diễm lệ, tôi muốn kêu lên: 你门都傻了吧? – Nhĩ môn đô soạ liễu ba?

Chúng mày khùng hết rồi hả? Còn không mau nhảy xuống biển, hoà mình vào cái không gian rộng lớn đó, còn ngồi đó mà ngôn tình cái gì, 誓海盟山 – thệ hải minh sơn – thề non hẹn biển, toàn nói ba lơn!

thanh bình lạc

Bộ phim đang “hot” thời gian gần đây, tuy hình thức cổ trang, ngôn tình, nhưng hàm lượng văn hoá không phải ít. Yếu tố căn bản đầu tiên, đó là Tống triều tìm cách du nhập giống lúa “100 ngày” từ Giao Chỉ (ngày nay là VN), giống lúa mau kết hạt, chịu sâu bệnh, thời tiết tốt này là cải cách rất căn bản và sâu rộng đối với nông nghiệp TQ đương thời, sản lượng lương thực tăng nhiều lần, lần đầu tiên trong lịch sử, lương thực dự trữ trong kho đủ ăn trong… 50 năm, điều này dẫn đến bùng nổ dân số, rồi lần lượt dẫn đến bùng nổ kinh tế, thương mại, KHKT. TQ bước vào một kỷ nguyên thịnh vượng chưa từng có, đời sống vật chất đầy đủ, các đô thị mở rộng, văn hoá, văn chương, tư tưởng đạt đến mức cực thịnh: Phạm Trọng Yếm, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Vương An Thạch, Trình Di, Trình Hạo, etc…

Đời sống vật chất cao như thế, XH chuyển biến thành những cấu trúc, tổ chức phức tạp đan xen nhau về lợi ích. Đời sống văn hoá tinh thần cao như thế dẫn đến một xã hội văn trị, văn nhân chữ nghĩa được coi trọng, mà võ bị bị coi thường. Võ tướng đời Tống được ưu đãi nhiều về tiền bạc và vật chất, nhưng bị từ chối sự công nhận về địa vị nơi miếu đường, bị xem thường về danh dự. Về việc binh, Tống triều nổi tiếng là… đánh đâu thua đó, chủ tướng trận vong, toàn quân tiêu diệt, cứ thế lặp lại! Hàng năm, để được yên ổn, Tống phải cống nạp cho Liêu hàng vạn lạng bạc và nhiều sản vật khác, thế nhưng trên tổng thể vẫn không thiệt vì cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Tống, còn phía Tây Hạ, Liêu cái gì cũng phải mua từ Trung Nguyên, từ lương thực, nhu yếu phẩm cho đến tơ lụa, hàng thủ công mỹ nghệ!

Ngay cả gây sự với VN cũng bị Lý Thường Kiệt đánh cho tan tành. Tống sử có cách giải thích “chữa thẹn” rất hài hước về chuyện đánh đâu thua đó, lý giải rằng Liêu, Tây Hạ là những bộ tộc du mục, “toàn dân vi binh” – 全民為兵 – già trẻ, trai gái ai cũng là lính, nên một “quân đội chuyên nghiệp” như Tống không thể địch lại được! Cái thành ngữ “toàn dân vi binh” này lại được thấy sử dụng một lần nữa năm 1979, khi hơn nửa triệu quân TQ không thể xuyên thủng hàng thủ của 80 ngàn dân quân VN ở biên giới phía bắc. Nói tới nói lui, cũng phải thừa nhận một thực tế rằng, năng lực sản xuất, trình độ văn hoá cao khiến xã hội TQ nghiêng hẳn về tổ chức quy mô, quy cũ, mà yếu hẳn về tinh thần võ bị, mà những sắc dân yếu kém hơn về kinh tế, văn hoá như Liêu, Tây Hạ, VN thì… ngoài cái mạng cùi ra, chẳng có gì để mất!

bắc đẩu

Hai bức “sơ đồ” chòm sao Bắc Đẩu, cái đầu vào nửa đêm, chòm sao thẳng đứng, cái sau ban ngày, chòm sao nằm ngang. Thơ của Từ An Trinh thời Đường: – Bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan, Sầu nhân ỷ nguyệt tứ vô đoan – Đêm tàn, Bắc đẩu quay sang, Người ngồi dựa nguyệt, ngổn ngang mối tình… Sao Bắc đẩu xoay ngang tức là trời sắp sáng…

徐安貞 – 聞鄰家理箏
北斗橫天夜欲闌
愁人倚月思無端