hiểu quá hương giang

十載掄交求古劍
一生低首拜梅花

Lâu không trở lại chủ đề thơ chữ Hán của Cao Chu Thần. Con người ông tính khí ngang tàng, tư tưởng xã hội chính trị không có gì mới lạ, nhưng văn tài thì đúng là lạ lùng. Một trường hợp nổi bật hiếm hoi trong cổ văn Việt Nam. Đôi câu thơ giáo đầu ở trên: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Mười năm giao du tìm bạn tri âm, khó như tìm cổ kiếm, Cả một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) vẫn thường được truyền tụng như chính cốt cách con người Mẫn Hiên – Cúc Đường vậy!

高伯適 – 曉過香江

萬嶂如奔繞綠田
長江如劍立青天
數行漁艇連聲棹
兩個沙禽屈足眠
塵路悠悠雙倦眼
遠情浩浩一歸鞭
橋頭車馬非吾事
頗愛南風角枕便

Hiểu quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên.
Kiều đầu xa mã phi ngô sự,
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Xin đọc thêm về thơ Cao Bá Quát trong những post trước của tôi: Trà giang thu nguyệt ca, Sa hành đoản ca, Trệ vũ chung dạ cảm tác.

the rain on the leaves

Some interesting recently – collected video documents: Phạm Duy with Steve Addiss on his song: Giọt mưa trên lá (the rain on the leaves) and Phạm Duy with the legendary Pete Seeger and the American folk song Clementine. Center image: the original poster of the song, and the original Vietnamese rendition (by the singer Thái Thanh) on the left.

Giọt mưa trên lá - Thái Thanh 
The rain on the leaves 
Steve Addiss & Phạm Duy

It’s not an abnormal thing to see church – music – influential songs like this to be the first to catch notices from Westerners (the Vietnamese – native pentatonic is harder to digest however). Indeed the song has been thought by some as a translation of a certain American folk song, which is absolutely not. The same is applied to several other Vietnamese songs, such as this Scents of Yesteryears, which easily touch the hearts of listeners outside VN.

ô ăn quan

Có 50 quân dân, và 2 quân quan, mỗi quan tương đương 10 dân. Người chơi có quyền chọn di chuyển theo hướng bất kỳ, những game Mancala khác chỉ được di chuyển theo một chiều nhất định.

Ăn quân ở ô kế tiếp trong lượt đi chứ không phải ở ô đối diện của đối phương. Khi đến lượt mình mà không còn quân để đi thì phải bỏ 5 quân đã ăn được vào 5 ô của mình để tiếp tục chơi. Trường hợp không có đủ 5 quân thì phải vay của đối phương và trả lại khi trò chơi kết thúc.

Trò chơi dân gian Việt Nam Ô ăn quan thuộc họ Mancala, có nguồn gốc châu Phi và có hàng chục biến thể khác nhau trên thế giới. Khi nhỏ, tôi có chơi trò này vài lần, gọi theo tên địa phương là Ô làng chứ không phải Ô ăn quan. Hôm nay thử nhìn cái game này dưới góc độ tin học xem sao! Ô ăn quan có một số luật khác với những game Mancala khác.

Những luật bên, nhất là luật thêm & mượn quân làm Ô ăn quan phức tạp hơn nhiều so với những biến thể Mancala khác. Viết một chương trình cho máy tính chơi Ô ăn quan không phải là quá dễ dàng, dùng những heuristic đơn giản (hill-climbing, min-max, hay brute-force đến một độ sâu nhất định…) không đủ bảo đảm máy tính sẽ thắng trong nhiều trường hợp.

Trên internet, tôi không tìm được game Ô ăn quan nào theo đúng luật Việt Nam. Một số là những biến thể gần giống Ô ăn quan, một số tác giả claim là đã viết Ô ăn quan nhưng không cung cấp được link download. Có vẻ như game này không dể như khi vừa mới nghĩ đến! Bạn nào có ý kiến về chiến thuật chơi game này xin được trao đổi để cùng phát triển một trò chơi hoàn chỉnh.

Bên đây là screenshot của một Java applet tôi vừa viết trong vài tiếng đồng hồ, cho phép 2 người chơi với nhau (máy tính chỉ kiểm luật, chưa phải là một chương trình cho máy tính chơi thực sự). Những hiệu ứng đồ họa: di chuyển quân, ăn quân nhìn rất giống thật, graphics được vẽ bằng Photoshop: những viên sỏi và bàn chơi được vẽ bằng phấn trên mặt sân xi-măng… gợi lại những kỷ niệm thủa nhỏ.

old house

自嘆年來刺骨貧
吾廬今已屬西鄰
殷勤說向園中柳
他日相逢是路人

Ngôi nhà này, tôi chỉ ở thường trực trong thời gian khoảng 3, 4 năm, nhưng trở lại thường xuyên mười mấy năm sau đó. Sơn trắng, ốp gạch đỏ, nền xanh, ngôi nhà thân thương này nay đã thuộc về người khác, giờ thì: tha nhật tương phùng thị lộ nhân – ngày sau gặp lại xem như người qua đường rồi! Những bức hình này (hơi mờ do scan từ ảnh giấy) đều được thực hiện bởi “phó nháy” danh tiếng Hồ Xuân Bổn (chủ tịch hội nhiếp ảnh tp. Đà Nẵng).

for whom the bell tolls

Men of five still alive through the raging glow.
Gone insane from the pain that they surely know.

(Metallica)

Excerpts from the 1943 film following Hemingway’s novel. In some aspects, this is a great film, highly symbolic and dramatical, beautiful staging and casting, but still nowhere closed to the book. So read the book here (zipped text file)! It’s said that Hemingway handpicked the actors and actresses himself for the roles, but he greatly disliked the film due to it’s political content removal.

Excerpt 1: The old guerilla man of El Sordo and his last four men make their last stand on a dead-end hilltop. They’re waiting for their fate to come, and the young Joaquin does the praying when the Russian machine gun barrel turns hot on his shoulder as the planes approach: Holy Mary, Mother of God, pray for us sinners now and at the hour of our death, Amen!.

…Dying was nothing and he had no picture of it nor fear of it in his mind. But living was a field of grain blowing in the wind on the side of a hill. Living was a hawk in the sky. Living was an earthen jar of water in the dust of the threshing with the grain flailed out and the chaff blowing. Living was a horse between your legs and a carbine under one leg and a hill and a valley and a stream with trees along it and the far side of the valley and the hills beyond…

Excerpt 2: Robert Jordan, severely wounded on the way retreat after the mission, says farewell to his lover María. He stays behind to cover the enemy for others to safely escape. The scene removes the detail of Agustín asks if Jordan need a shot or he can manage himself once left behind. Counting the last minutes of his life, in such moment, one can hear the bell tolling for his soul!

Lieutenant Berrendo, watching the trail, came riding up, his thin face serious and grave. His submachine gun lay across his saddle in the crook of his left arm. Robert Jordan lay behind the tree, holding onto himself very carefully and delicately to keep his hands steady. He was waiting until the officer reached the sunlit place where the first trees of the pine forest joined the green slope of the meadow. He could feel his heart beating against the pine needle floor of the forest.

Robert Jordan, as illustrated on this Vietnamese translate book cover, using a Lewis gun, or just called a mácquina as in the book.

songs for free men

…The reasoning behind his persecution centered not only on his beliefs in socialism and friendship with the peoples of the Soviet Union but also his tireless work towards the liberation of the colonial peoples of Africa, the Caribbean and Asia, his support of the International Brigades…

Listening to Paul Robeson’s album: Songs for free men… a very lovely basso profondo concert singer (he was one of the few true basses in American music), performing spirituals. Despite being a very famous and successful singer & performer, the man was kept under strict surveillance by US and UK governments for his international activities in Labor and Anti – Colonialist movements. It’s believed that he was unsuccessfully murdered by the CIA while in Moscow. He is now deserved a position in mainstream history by various posthumous recognitions.

The USSR anthem - Paul Robeson 

In the background video above (1945 victory parade in Moscow), Robeson presents the Soviet Union’s national anthem with a translated English lyric (let read the verses). I think, though it’s a very subjective idea, the song is the best anthem in the world, much more impressive than French’s La Marseillaise. The music’s still used as national anthem in Russia now, with a new lyric.

Don’t know why, but the music reminds me of spaces in the mesmerized text of Ernest Hemingway’s For whom the bell tolls (yet another American activist). As a child, I adored Hemingway’s writing style, and remembered many excerpts from his novel by heart, the spirits of International Brigades! The paragraph quoted on the left had been given a wonderful Vietnamese translation, it describes El Sordo’s final fighting on a hill, his thoughts on life and death, yet another picturesque Song for free men!

minesweeper

Two more hours of work and I’ve added this hexagonal tiles to my MineSweeper! Anyone interested in the game can found the tiny binary and source code (450 LOC) here. Mine sweeping with hexagons is quite a different experience! More about MineSweeper, a simple game?

On the left: Minesweeper with hexagonal tiles

virtualization

MineSweeper running in DOSBox

Click the demo page below (jpcapplet.jar – 1.8 MB in size), it would take some times to load, embedded in it is a DOS image (floppy.img) of a floppy’s size (1.4 MB). In Linux, using dd to create a blank image file, launch JPC app, mount the empty image, fdisk to give it a partition structure, format to give it a bootable FAT12 file system, copy the files over, edit autoexec.bat to have the game run at startup, and voila – there you are, the classic DOS game of MineSweeper on the web!

Beside is screen-shot of my very first programming, the classic MineSweeper, an exercise I did first year at university. After getting started with Borland C++ 3.1, I began to write numerous toys like this; small games, graphics, animation, 3D… are among the things I was very fond of. We still had not had Internet in Vietnam then, lacking of information, we’d reinvented many wheels, including a package for displaying 3D objects (in form of polygon mess), a complete GUI for DOS with window, menu, toolbar, all kinds of controls: combo, list, button… But as they say: don’t reinvent the wheel, unless you plan on learning more about wheels, the reason we did all that fun stuff.

Back to my MineSweeper, it’s tiny, about 350 LOC (Line Of Code), using BGI (Borland Graphics Interface), C/C++ and some ASM. Yesterday, just want to check the old source, but didn’t have a Windows machine at hand, I needed to run the Borland C++ 3.1 compiler on my Linux box. Wine is good for many Windows applications, but it simply won’t work with pure DOS programs. Then I found DOSBox, you start it up in form of a console, mount a directory in local file system, have BC 3.1 installed and compiles flawlessly, and MineSweeper runs well on this virtual DOS on top of Linux!

That’s some layers of virtualization, say I want more, I want to show MineSweeper on the web, but don’t want to make change to the code, or even to the compiled binary. Could it be possible? The answer is: YES! You would need JPC, a pure Java IBM-PC emulator, it runs where there is Java: x86, RISC, mobile phone… On top of it, you can run a bundle of different OS: DOS, Linux, Windows… Then comes the delicate distinction between virtualization and emulation, hardwares, softwares, all can be virtualized to some great extent. Imagine you would run some games & utilities on a virtual DOS (or Linux) running inside JPC, hosted in Firefox browser, which in turn runs on Windows (or Linux)!

JPC can only bring about 20% power of the native machine, and even a tiny game like this is overkill to it, and mouse functioning is really crappy too. But that’s suffice to demonstrate the idea, JPC could be improved I believe. More games would be added to this Web DOS console later on! Anyone still remember Tetris, Croix-Zero, Snake, Mario…? So, what’s the points for JPC? Demonstrating the fractal principles in hardware, software evolution? Too much “nostalgia” for the “good old days” – DOS games? Anything else or just reinventing the wheel? The answer may be so, but I love this idea of cultivating the past, and pop out new things for the future!

otp (one-time-pad)

OTP takes a security problem and changes it into a
distribution problem. Modern cryptography takes a
distribution problem and changes it into a security problem.

Chuỗi khoá được in trên một cuốn sổ bé xíu, để dễ cất dấu hay tiêu huỷ khi cần thiết. Mỗi lần mã hoá dùng một (hay nhiều) tờ trong cuốn sổ, những tờ đó sẽ bị huỷ sau khi dùng, do vậy mà có cái tên one-time-pad

Hình bên: một cuốn sổ OTP của KGB, được in trên giấy phim để dể cháy khi đốt

đĩa Vigenere

Tôi đến với Computer Science khá trể, nhớ lại hồi năm nhất đại học, khi lần đầu tiên học về toán tử XOR (bit-wise operator XOR), tôi đã nghĩ ngay đến phương pháp mã hoá đơn giản và hiệu quả: thông điệp cần gửi được XOR với một chuỗi ký tự ngẫu nhiên (chuỗi khoá), ở đầu nhận, người ta XOR chuỗi đã được mã hoá với chuỗi khoá lần nữa để giải mã thông điệp. Đây chính là biểu diễn máy tính của phương pháp mã hoá cổ xưa OTP (one-time-pad) được dùng từ thời đệ nhất thế chiến.

Lincolnshire Poacher (MI6 ?) 
Magnetic Fields (Deuxième Bureau?) 

OTP được các điệp viên CIA, KGB, MI6… dùng phổ biến trong hai cuộc thế chiến. Lý do thứ nhất là vì nó đơn giản: mã & giải mã chỉ cần dùng đến tính nhẩm (có thể dùng thêm bút chì và giấy), lý do thứ hai là nó rất an toàn. Tuy đã được dùng rất lâu từ trước nhưng mãi đến khoảng năm 1940, phương pháp này mới được chứng mình bằng lý thuyết về tính an toàn tuyệt đối của nó. Chứng minh được đưa ra đồng thời và độc lập bởi Claude Shannon (nhà toán học Mỹ, cha đẻ lý thuyết thông tin) và Vladimir Kotelnikov (viện sĩ khoa học Liên bang Nga, kỹ sư chế tạo rađa).

Mã & giải mã với OTP rất đơn giản, tương đương phép XOR, ta định nghĩa phép biến đổi như sau. Mã hoá = (text T(19) + khoá X(23)) mod 26 = Q(16). Giải mã = (Q(16) – khoá X(23)) mod 26 = text T(19), với 26 là kích thước bản chữ cái (phép XOR thực chất là phép cộng và modulo cho 2, với 2 là kích thước bảng chữ cái nhị phân: 0 & 1). Những người không giỏi tính nhẩm có thể dùng “thiết bị” sau (gọi là đĩa Vigenere), đĩa gồm 2 vòng giấy đặt đồng trục. Mã hoá text T với khoá X: gióng (xoay) vị trí [X] của vòng trong với vị trí [A] của vòng ngoài, tìm [T] tại vòng ngoài, ví trí tương đương [Q] tại vòng trong chính là kết quả. Giải mã là quá trình ngược lại: gióng [Q] của vòng trong với [A] của vòng ngoài, tìm [X] tại vòng trong, vị trí tương đương [T] tại vòng ngoài là văn bản gốc.

Có một cách sử dụng OTP đặc biệt gọi là chia xẻ bí mật (secret splitting), sau khi mã hoá, văn bản gốc bị huỷ thay vì khoá, sau đó khoá và văn bản mã hoá được đưa cho hai người khác nhau cất giữ. Chỉ khi hai người này cũng đồng ý nối hai “khoá” lại với nhau thì mới giải mã ra được văn bản gốc. Tương tự, có thể chia xẻ bí mật cho 3, 4,… người bằng cách sử dụng 2, 3,… khoá. Đây là cách bảo vệ các tài nguyên đặc biệt quan trọng, trách nhiệm bảo vệ đó được chia xẻ cho nhiều người, tuy nhiên lưu ý rằng nếu chỉ một phần của bí mật bị mất đi, thì bí mật đó cũng sẽ mất đi vĩnh viễn.

OTP là phương pháp mã hoá tuyệt đối an toàn nếu được sử dụng đúng cách, và là phương pháp tuyệt đối an toàn duy nhất cho đến thời điểm hiện tại. Văn bản được mã hoá với OTP không cho biết bất kỳ thông tin gì về văn bản gốc, ngoại trừ độ dài. Với một văn bản đã mã hoá cho trước, chúng ta có thể nghĩ ra các chuỗi khoá để “giải mã” nó về bất kỳ văn bản nào chúng ta muốn! Các phương pháp mã hoá mới sau này như DES (Data Encryption Standard), AES (Advanced Encryption Standard), PGP (Pretty Good Privacy), PKI (Public Key Infastructure)… tuy tiện dụng và có nhiều ưu điểm khác, nhưng về mặt lý thuyết không phải là không phá được. Nhưng trong sử dụng thực tế, có những lý do sau khiến OTP trở nên không an toàn:

  • Chuỗi khóa OTP không thực sự ngẫu nhiên (các nhân viên thư ký của KGB tạo ra OTP bằng cách gõ ngẫu nhiên lên máy đánh chữ, nhưng xu hướng gõ phím của tay người vẫn có những pattern nhất định).

  • Việc cất giữ và tiêu huỷ OTP có quá nhiều yếu tố rủi ro (đã có tình huống CIA giải được mã nhờ một cuốn sổ OTP đã bị đốt nhưng chưa cháy hết).

  • Mỗi trang OTP chỉ được dùng một lần (đã có lúc trong tình hình khẩn cấp, nhân viên KGB bất cẩn dùng một trang OTP cho nhiều lần mã hoá, dẫn đến việc CIA giải được khoảng 1% trong số những thông điệp gửi bởi KGB trong những năm 1945 ~ 1950).

Điểm yếu nhất của OTP nằm trong quá trình trao đổi khoá (key exchange), đó là một trong những lý do hình thành phương pháp public key rất tiện dụng sau này. Đến bây giờ, khi những phương tiện mã hoá và truyền thông đã quá hiện đại, người ta vẫn còn tiếp tục dùng OTP cho những kênh thông tin thuộc loại top secret (như đường dây hotline Washington DC – Moscow, liên lạc với tàu ngầm…) vì tính tuyệt đối an toàn đã được chứng minh lý thuyết của nó. Có thể kiểm chứng dấu vết của việc sử dụng OTP trong thực tế:

Các Number Station nổi tiếng bí ẩn, là những đài phát thanh không rõ nguồn gốc, phát trên băng tần sóng ngắn (shortwave) những bản tin toàn chữ số, được xem như những hoạt động tình báo của nhiều nước. Trên internet, những Numbers Relay Pages như nrp.write2me.com là hình thức mới của Number Station, cho phép mọi người gửi đi những thông điệp bí mật. Tất cả đều dưới hình thức những bộ 5 chữ số của mã hoá OTP (e.g: 41888 42037 89537 55295 14846 82981 63440…).

xăm hường

Xăm hường

Tứ sắc

Trò chơi ni người mô gốc Huế hay Hội An xưa thì mới biết: xăm (xâm) hường. Bi chừ không mấy ai còn nhớ và chơi trò ni nữa! Khi nhỏ, ba ngày Tết không gì vui hơn là đổ xăm hường hay gầy sòng tứ sắc (ba mẹ tôi còn nói chưa biết chơi tứ sắc thì chưa phải là người Huế). Trong các trò bài bạc “truyền thống” VN, miền Trung và miền Nam thường chơi tứ sắc và bài tới, ở miền Bắc hay chơi tổ tôm (hơi giống bài tới) và tam cúc (hơi giống tứ sắc).

Riêng ở một số đô thị cũ như Huế hay Hội An, bài giấy thì có tứ sắc và bài tới, bài thẻ thì có thêm xăm hường và mạt chược. Như người ta hay nói: đi xoè tức là đi đánh tứ sắc, đi xoa tức là đi đánh mạt chược. Tiếc là khi nhỏ tôi không được dạy bài tới và mạt chược, chỉ còn biết hai món ăn chơi chụp ảnh dưới đây.

Chụp lại ảnh bộ xăm hường của nhà post lên đây để bà con biết mặt mũi trò chơi thế nào (cùng với ảnh xáo bộ bài tứ sắc). Xăm hường gồm có: một thẻ trạng anh (trạng nguyên – 32 điểm), hai trạng em (bảng nhãn & thám hoa – mỗi thẻ 16 điểm), 4 thẻ hội nguyên (8 điểm), 8 thẻ tiến sĩ (4 điểm), và các thẻ con tương đương 1 điểm (tú tài), 2 điểm (cử nhân).

1 mặt tứ trên bộ xúc xắc ăn được quân một điểm, 2 mặt tứ ăn được quân hai điểm, 3 mặt tứ ăn được thẻ hội nguyên, 4 mặt tứ ăn thẻ trạng nguyên, 5 mặt tứ thì ăn cả 3 thẻ trạng, 6 mặt tứ (lục phú hường) thì ăn được tất cả các thẻ (kể cả thẻ đã thuộc về người khác). Đây được xem là tột đỉnh may mắn! Ngoài ra còn có các luật tứ tự (4 mặt giống nhau), ngũ tử (5 mặt giống nhau), lục phú (6 mặt giống nhau), phân song (2 nhóm, mỗi nhóm có 3 mặt giống nhau), và suốt (đủ 6 mặt 1, 2 , 3, 4, 5, 6) và nhiều luật lẻ khác…

Thức thâu đêm suốt sáng, tiếng của 6 hột xí ngầu leng keng leng keng trong lòng chiếc tô sứ, những song phân, nhất hường, suốt, giật trạng… những bất ngờ, hồi hộp như tiên đoán vận may trong năm mới…