trường ca Hội Trùng Dương

Có thể nói rằng âm nhạc Việt Nam, cho đến bây giờ, là âm nhạc ca khúc (chanson musique), các sáng tác nặng về thanh nhạc, mà nhẹ về khí nhạc… Chúng ta cũng có dàn nhạc hòa tấu (theo kiểu Tây phương hay kiểu cổ truyền), cũng có nhạc kịch… nhưng xét trong văn hóa số đông, phổ biến nhất vẫn là ca khúc. Đối với đa số các nhạc sĩ Việt Nam, sáng tác ca khúc ít công phu hơn và cũng dể đi vào lòng khán giả hơn. Nói như vậy không sai, nhưng chưa đủ.

Ngay cả trong ca khúc, cũng có nhiều điểm yếu cần phải đề cập tới. Ca khúc Việt Nam thừa hưởng cái thuộc tính ít sáng tạo “truyền thống”: cấu trúc đơn giản, kỹ thuật quen thuộc, tiết tấu ít thay đổi, âm điệu êm tai dễ dãi (gần như không bao giờ đi ra ngoài tonality), kết thúc vội vã, trở về chủ âm chóng vánh. Đi tìm một loại âm nhạc “dài hơi”, có chiều sâu hơn, chỉ thấy nổi bật lên một số bản Trường ca, tuy nhiên về số lượng lại không có nhiều, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay như sẽ liệt kê dưới đây.

Trường ca Hội Trùng Dương – Thái Thanh và hợp ca Thăng Long
1. Tiếng sông Hồng 
2. Tiếng sông Hương 
3. Tiếng sông Cửu Long 

Trường ca đầu tiên trong Tân nhạc, phải nói đến Hòn vọng phu. Lê Thương là tác giả đầu tiên sáng tác tác phẩm lớn theo âm điệu ngũ cung, ba bản Hòn vọng phu 1, 2, 3 đánh dấu giai đoạn trưởng thành của Tân nhạc, là tác phẩm “dài hơi” đầu tiên, vừa phong phú về âm nhạc, vừa đẹp về ca từ và chủ đề. Ngay cả Văn Cao và Phạm Duy, qua tác phẩm này, cũng phải thừa nhận Lê Thương là người anh, người thầy của mình trên con đường âm nhạc.

Một trường ca khác là Trường ca Dã tràng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhưng không hiểu vì lý do gì, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn luôn che giấu mọi thứ về Trường ca Dã tràng cũng như quãng thời gian ông sống ở Quy Nhơn. Thế nên nó mãi mãi là một nghi án với người yêu âm nhạc, chỉ có một số phần ca từ nhỏ được nhớ và nhắc lại, phần nhạc đã bị cố tình bỏ quên hoàn toàn. Nhạc sĩ Phạm Duy là người duy nhất đóng góp nhiều hơn 1 trường ca vào nền âm nhạc ca khúc nước nhà: Trường ca Con đường Cái quanTrường ca Mẹ Việt Nam, tôi sẽ còn trở lại với 2 trường ca này trong những post sau.

Có một số ca khúc cũng lớn và hay như Sông Lô (Văn Cao), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận), Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), nhưng thật khó xếp chúng vào thể loại trường ca vì nhiều lý do: nhạc thuật, ca từ, chủ đề… Không phải cứ là ca khúc dài thì gọi là Trường ca, nếu thế thì Đóa hoa vô thường của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có thể xem là Trường ca vậy.

Có một bản trường ca in đậm dấu ấn trong tuổi thơ tôi, đó là Trường ca Hội Trùng Dương của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Ngày ấy, nhà chỉ có cái cassette player hiệu Sony “một hộc băng” cũ kỹ, và những băng nhạc Maxwell gần như đã nhàu nát (có lúc tôi đã phải lấy băng keo nối lại những chỗ băng bị đứt). Đến với tôi là giọng hát Thái Thanh và những tiếng sông Hồng, tiếng sông Hương… những ca từ thật đẹp: gối đầu trên Lào Kay, Việt Trì, em nằm tóc xõa bãi cát dài, thả hồn mơ tới Thái Bình, qua Sơn Tây.

Cũng qua ca khúc này, dù lúc ấy còn rất nhỏ, tôi đã thấy rằng: tuyệt đỉnh của ca hát là trở lại với lời ăn tiếng nói hàng ngày, hát như hơi thở, như giọng nói tự nhiên cha sinh mẹ đẻ. Chưa ra khỏi cửa nhà, tôi đã nghe hết giọng nói đặc trưng các miền đất nước; miền Trung: ai là qua thôn vặng (vắng), nghe sầu như mùa mưa nặng (nắng); miền Nam: chẻ tre bện sáo cho dài (dày), ngăn ngang sông Mỹ có ngài (ngày) gặp em.

Hội Trùng Dương là câu chuyện ẩn dụ tuyệt vời bằng âm nhạc, mở đầu bằng phần intro trong Tiếng sông Hồng: Trùng dương, chốn đây ngàn phương, có ba dòng sông cuốn xuôi biển Đông nhắc câu chờ mong và kết thúc với phần outtro trong Tiếng sông Cửu Long: Ba chị em là ba miền, nhưng tình thương đã nối liền, gặp nhau bên trời biển Đông thắm duyên. Nếu bầu chọn bản nhạc hay nhất nói về tình tự dân tộc, phiếu đầu tiên hẳn phải dành cho Hội Trùng Dương.

Trường ca Hội Trùng Dương 
Ánh Tuyết và ban nhạc ATB

Không có tên trong cái gọi là Danh mục bài hát được phép lưu hành của Bộ Văn hóa – Thông tin (làm sao được phép nếu có phần lời: Hội Trùng Dương, tay tay xiết chặt cùng hô: dựng mùa vinh quang, hứa đời tự do), nhưng Tiếng sông Hương là một ngoại lệ. Tôi để ý thấy, cứ như năm nào có thiên tai: bão Xangsane, lũ lụt ĐBSCL… là lại thấy ca sĩ Ánh Tuyết lên truyền hình quốc gia hát Tiếng sông Hương để vận động xin tiền cứu trợ, ủng hộ đồng bào bị nạn: hò ơi… ai là qua thôn vắng, nghe sầu như mùa mưa nắng, cùng em xót dân lều tranh chiếu manh… Có lẽ Bộ Văn hóa – Thông tin chỉ nhìn thấy được cái giá trị “ăn xin” từ bản nhạc.



et si tu n’existais pas

Dạo này chẳng biết sao lại thích những bài hát nhịp trung bình, với trống và bass không cần phải lắt léo lắm, nhưng thể hiện thật rõ ràng, chân phương những đoạn báo, chuyển, dằn… Như trong bài này, cái nhịp điệu trầm ổn bên dưới góp phần rất lớn vào việc truyền tải nội dung tha thiết của bài hát, bên cạnh giọng hát thật tốt của Joe Dassin. Thường là nam giới thì có xu hướng thích giọng nữ hơn, nhưng cũng phải thừa nhận một số giọng nam cũng thật hấp dẫn (không biết như thế các khán giả nữ sẽ còn cảm nhận thế nào nữa nhỉ?).

Et si tu n'existais pas - Joe Dassin 
Nếu không có em trong đời - Ngọc Lan 

Cứ y như là mỗi bài nhạc Pháp nổi tiếng đều có phần lời Việt tương ứng (cả với nhạc Hoa chắc cũng thế). Bài này phần lời Việt không sát nghĩa lắm, nhưng đại để cũng diễn đạt được ý của lời gốc.

les gitans

Et toi, vieux gitan, d’où viens-tu?
Je viens d’un pays qui n’existe plus!

Một trong những bài nhạc Pháp tôi yêu thích: Les gitansNhững người digan – nhạc Ý, lời Pháp, trình bày bởi giọng ca vàng Dalida. Một pattern quan trọng trong văn hóa Âu – Mỹ, vẫn thường xuất hiện như một chủ đề quan trọng và cô đọng. Gọi họ là gì cũng được: les gitans, les bohémians; the gipsy hay chung chung hơn: the vagabond, the wanderer, the nomad… (hãy nhìn title của blog này).

Les gitans - Dalida 

– Này hỡi anh bạn digan, anh từ đâu đến? – Tôi đến từ xứ Bohême. – Này cô cái digan xinh đẹp, cô từ đâu đến? – Từ vùng Andalousie. – Còn cụ, hỡi cụ già digan? – Tôi đến từ một xứ sở xa xưa đã không còn tồn tại nữa…

– Này hỡi anh bạn digan, anh sẽ đi đâu? – Tôi về lại xứ Bohême. – Còn cô, cô gái digan xinh đẹp, cô sẽ đi đâu? – Về lại vùng Andalousie. – Này ông bạn già digan, ông sẽ đi về đâu? – Tôi, tôi già quá rồi, tôi ở lại đây thôi.

Rồi trước khi lên đường, bắt đầu một chuyến viễn du mới, vẫn còn lưu lại những khoảnh khắc của giấc mơ du mục, trên con đường biến ảo đi về phía hư vô. Rồi trong đêm tối, vang lên những giai điệu lạ kỳ. Rồi trong đêm tối, thoảng tiếng bập bùng chiếc đàn guitar. Đó là bài hát về những kẻ lang thang qua thời gian, qua không gian, không biên giới…

tình khúc cho em

Như đã rao trong bài trước, hôm nay xin được tiếp tục post nhạc của Lê Uyên Phương. Như mỗi bài hát, mỗi câu ca đều có thể liên hệ tới một phần đời nào đó đã qua của mình. Một lần, đã lâu lắm rồi, một mình đứng trên chuyến đò ngang về làng, ngày giáp Tết rét mướt, mưa phùn rải rác bay, trên bầu trời vẫn trong và xanh, đỉnh Bạch Mã sừng sững in bóng rõ nét. Cảnh núi non sông nước diễm lệ, một dãi đầm Lập An, suốt từ Lăng Cô, Bạch Mã đến Chân Mây, mùa này trong năm, thật là chốn mê hoặc lòng người.

Tình khúc cho em - Lê Uyên Phương 

Trong đám sương mờ mờ giăng ngang mặt sông, văng vẳng đâu đây câu hát: …Vì đâu mê say phồn hoa, như áo gấm sáng lóng lánh, ôm rách nát không tâm linh, ôm tiếng hát không hơi rung nghèo nàn, còn yêu chi hoa ngày xanh… Lòng thầm nghĩ: trong chốn vạn đò này cũng có người biết nhạc hay, nghĩ rồi lại tự cười mình: nhạc hay thì tự khắc có người nghe và hát, hà cớ gì phân biệt nguồn gốc, thân phận. Rồi lại giật mình, lời hát ôm tiếng hát không hơi rung nghẹn ngào bắt đầu nhắc nhở từ đó.

Đến nay trải đã nhiều năm, trên con đường tình ta đi cũng đã đến lúc như hoa đem tin ngày buồn, như chim đau quên mùa xuân… Ngoảnh đầu lại, lời hát trên bến sông năm nào vẫn còn như nhắc nhở. Đi tìm lại công thức và những gia vị cần thiết cho một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc, xin đi lại từ đầu bằng xin cho thương em thật lòng, còn có khi lòng thôi giá băng…

fingerprint sensor & ubuntu

My right index finger scanned and correctly identified

Too much literature, too much music lately, now some technical to line up thoughts in my head. Fingerprint reader has been out for quite a long time, but has only come to my hand recently on this HP 6910p laptop. The machine has an AuthenTec AES2501 fingerprint sensor built in, and using it is quite straight – forward under Hardy Heron:

1.   Install fprint-demo, libfprint-dev, libfprint0 and libpam-fprint from the ppa.launchpad.net/madman2k repo.

2.   Use fprint_demo to enroll some fingers. Identification and verification is good for thumb and index fingers, but really bad for middle, ring and litte ones.

3.   Configure pam module to make use of fprint, add the two lines: auth sufficient pam_fprint.so & auth required pam_unix.so nullok_secure to your /etc/pam.d/common-auth file. Remember to enable still password login since fprint is quite preliminary.

Now restart your machine and enjoy! At login prompt, you would need to enter username, then enroll a finger for authentication. If enrolling fails, normal password login would then be applied. In KDE, screen-locking and gksudo work seemlessly with fprint.

I observe for a while the fingers’ scanned images, to find out how they did all the identification and verification tasks. It’s quite clear that they are using some control points (called minutiae). You can see red dots in the image on the left (binarized from raw scanned image): they are either end points or branching points (point at which vein separates into more veins). They don’t need to match all veins of fingerprints, they only need to do some pattern – matching on the set of minutiae. Given two sets of minutiae, some Cartesian measures on points’ position may be enough for matching two fingerprints.

This machine, HP 6910p, is designed for medium performance, but for advanced security: the machine has TMP chip inside, with a smart card slot, and a fingerprint sensor. That would be quite sufficient to protect your privacy.

elle imagine

Em mang trong đôi mắt đen cả một câu chuyện dài, những nẻo đường lưu đày, bóng mặt trời nhiệt đới, những buổi sáng tháng Tư nào đó xa xưa… Trong sự lãng quên, em biết mình đã đến từ phương Nam, từ những thành phố trắng toát với cái nóng bất động. Em tưởng tượng và nhớ lại, tiếng trẻ con cười trong con phố, những bàn tay vẫy chào, những giọt lệ trong ánh mắt chia tay ngước lên trời xanh…

Lời Việt: Tàn phai - Ngọc Lan 

Đã có quá nhiều tiếng cười và nước mắt, đã có quá nhiều hy vọng mong manh. Em tưởng tượng ra, trong tấm gương thời gian kia, đã từng có một thời giản đơn, nơi người ta đã sống êm đềm và hạnh phúc…

Elle imagine ou J’imagine?

nghìn trùng xa cách

Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi. Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người. Trả nốt đôi môi gượng cười. Nghìn trùng xa cách, người cuối chân trời. Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.

Nghìn trùng xa cách, đây có thể nói là bản nhạc tuyệt vời nhất cho những cuộc tình tan vỡ. Bài nhạc không còn là tiếc thương, vương vấn mà là thổn thức cầu nguyện cho những tâm hồn khổ đau lầm lạc. Đây phải nói là lần yêu thương chân thành nhất và đau khổ thực sự của con người đào hoa Phạm Duy. Cứ mỗi lúc tình cảm trào dâng đến chỗ tột bậc thế này, ông lại trở về với cái nguồn sacred music – âm nhạc phụng sự cho những tình cảm thiêng liêng. Nghìn trùng xa cách là một điểm son trong âm nhạc Phạm Duy.

Nghìn trùng xa cách - Thái Thanh 
Nghìn trùng xa cách - Lê Dung 

Không cần phải nói về phần lời rất đẹp, phần nhạc là một sự đơn giản lạ kỳ. Cấu trúc một bài hát thông thường phải là ABAB hay ABA (A: khúc dẫn, B: khúc điệp), Nghìn trùng xa cách chỉ có cấu trúc 2 đoạn AB, và sử dụng nhiều gam nhạc lặp đi lặp lại: mi mi fa sol, sol sol la si hay do do mi mi, la la re re. Điểm đặc biệt nhất của bản nhạc là cách chuyển giọng (modulate) từ đoạn 1 sang đoạn 2, và rất nhiều kỹ thuật tinh tế khác, với mục đích không ngoài việc làm cho lời và nhạc ăn khớp vào nhau, để vẽ nên một nét gượng cười bằng âm thanh.

Ai đã cảm được nhạc Phạm Duy rồi mới thấy nhận xét sau đây của nhạc sĩ rất đúng: âm nhạc hiện nay kém sang trọng, thiếu sự cuốn hút và rung động lòng người. Riêng tôi thì muốn nói thêm rằng: âm nhạc hiện tại còn thiếu cả sự… tử tế!.

không nhìn nhau lần cuối

Trong bao kiếp hoang vui chưa tìm thấy, xin em hãy tin mai đây là lúc sum vầy. Đâu có ai biết mai sau. Đâu có ai mãi thương đau. Đâu có ai phải muôn kiếp xa nhau.

Tôi sẽ lần lượt post nhạc của Lê Uyên Phương, mỗi lần một bài thôi. Thứ nhất là nhạc Lê Uyên Phương cũng không có nhiều, thứ hai phần lớn là những bài thật hay cả. Nhìn nhận về nhạc của Lê Uyên Phương, nhạc sĩ Phạm Duy có viết như thế này trong hồi ký (tập 3 – chương 12):

Không nhìn nhau lần cuối - Lê Uyên Phương 

Tôi nghĩ nhạc sĩ Phạm Duy nói vậy cũng không đúng lắm, đành rằng nhạc của Lê Uyên Phương không có tham vọng lớn, không theo đuổi những vấn đề mang tính cách dân tộc hay lịch sử, mà chỉ đơn thuần là nhạc của đôi lứa yêu nhau, tình yêu của họ là thứ tình điên dại, yêu cuồng sống vội, nhưng lãng mạn hóa dục tính hay trần tục hóa tình yêu thì cũng chỉ là hai mặt của một tình yêu. Ám ảnh về bệnh tật, cái chết, những suy tư trăn trở mang tính thời cuộc vẫn hiện diện trong nhạc của họ đấy thôi.

…Những ca khúc Nỗi Buồn Dâng Hiến, Buồn Đến Bao Giờ, không còn là tình sầu của họ Trịnh mà là tình điên. Nhìn đôi uyên ương này hát với lối diễn tả rất khêu gợi thì càng thấy được chất nhục tính trong nhạc của họ. Tuổi trẻ quá đau khổ chỉ còn một cách phản ứng là vùi đầu vào ái ân. Từ trong Vũng Lầy Của Chúng Ta, đôi Lê Uyên, Phương đưa ra những bài hát ngây ngất như đôi người tình vừa ôm ấp nhau, hay chán chường như họ vừa buông nhau ra sau một trận ân ái. Chúng ta cho nhau lần cuối nhưng cũng không nhìn nhau lần cuối!

Khác chăng là cách nói, Phạm Duy viết nhạc tình dù nồng nàn đến bao nhiêu vẫn có chút bóng gió, tế nhị: Tôi xây lại mộng mơ năm nào, bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau (Nha Trang ngày về), Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối. Rước em lên đồi, hẹn với bình minh (Cỏ hồng), nhạc Lê Uyên Phương chỉ nói rõ hơn một chút, và cũng nói rõ mọi mặt của một tình yêu hoàn hảo, một cuộc sống lứa đôi, mà nào có đâu dung tục? Nhạc Lê Uyên Phương là thứ thuốc phiện kinh khủng cho những ai đã, đang và sẽ yêu.

dạ khúc cho tình nhân

…Thương em khi yêu lần đầu. Thương em lo âu tình sau.
Dù gương xưa không được lau. Soi lấy bóng mối duyên sầu.
Cho tôi yêu em nồng nàn. Dù biết yêu tình yêu muộn màng.

(Tình khúc cho em – Lê Uyên Phương)

…Không thể nào quên được những đêm thật tuyệt vời của Ðà Lạt vào những năm của thập niên 60. Chúng tôi, như phần đông những người trẻ lúc đó, thường hay la cà khắp các quán cà phê ở Ðà Lạt, nhất là cà phê Tùng gần chợ Hòa Bình. Cái phòng vuông vức với những hàng ghế liền bọc plastic đỏ, những chiếc bàn thật thấp, trên tường có một bức tranh lớn vẽ một người chơi guitar theo lối nửa lập thể, nửa ấn tượng, và cái không gian đầy khói thuốc trộn lẫn với âm nhạc nhẹ phát ra từ chiếc loa không lớn lắm đặt trên cao, tất cả đã trở thành một thứ ma túy đối với chúng tôi…

Tôi đã nghe nhạc của Lê Uyên Phương từ lâu, những câu nhạc quen thuộc, cứ hát nhưng không biết là nhạc của ai: em ơi, xin em, xin em nói yêu đương đậm đà, để rồi ngày mai cách xa, như hoa đem tin ngày buồn, như chim đau quên mùa xuân… Mãi về sau khi một người bạn hát cho nghe bài Dạ khúc cho tình nhân, tôi thấy rất hay bèn hỏi là nhạc của ai, bạn tôi trả lời… của Tuấn Ngọc. Bắt đầu tìm hiểu về Lê Uyên Phương từ đó, những album, bài hát, từ cái tiêu đề, ca từ cho đến nhạc, nhất là nhạc, đã phảng phất vẻ khác người, đứng riêng một đôi trai gái thắm thiết yêu nhau trên bầu trời ca nhạc.

Dạ khúc cho tình nhân 
Hãy ngồi xuống đây 
Vũng lầy của chúng ta 

Những tên album: Khi loài thú xa nhau, Tình như mây cõi lạ, Nỗi buồn dâng hiến…, những tên bài hát: Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta, Ngồi lại trên đồi, Bài ca hạnh ngộ, Loài hươu đa cảm, Tình khúc cho em… phảng phất nét hiện sinh chủ nghĩa phổ biến trong giới văn nghệ sĩ trước 1975, mà vẫn có nét ái tình, u buồn, khát khao riêng biệt. Nếu như miền Nam lúc đó, đã có một Phạm Duy & Thái Thanh, với gốc gác Hà Nội xưa, đã có một Trịnh Công Sơn & Khánh Ly mang màu sắc Huế trầm mặc, hai phong cách lớn trên khung trời âm nhạc, thì bỗng dưng xuất hiện một đôi trai gái yêu nhau, họ đã mang khí trời Đà Lạt thổi vào đời sống văn nghệ lúc đó.

Về tầm vóc, thật khó so sánh Lê Uyên Phương với Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy. Trịnh Công Sơn có một khối lượng tác phẩm lớn với ngôn từ uyên áo. Phạm Duy có một lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú và sáng tạo hơn nhiều về mặt âm nhạc. Lê Uyên & Phương thì chỉ có những bài hát về cuộc tình của họ, dường như ngoài hai con người yêu nhau kia ra, chẳng gì khác tồn tại: chiến tranh, chết chóc, cuộc sống khốn cùng… Nhưng xét từ một khía cạnh khác, Lê Uyên Phương có chỗ đứng ngang hàng với những “đại gia” âm nhạc kể trên. Nếu như nhạc Phạm Duy không tách rời cái số nhà 54 Hàng Dầu, nơi tác giả sinh ra: Nhà tôi ở phố Hàng Dầu, Số nhà năm bốn đứng đầu… du côn, không tách rời các làn điệu ngũ cung ba miền đất nước; nhạc Trịnh (phải nói là khá đơn điệu) là nhạc thất cung (ảnh hưởng nặng nề của giáo dục âm nhạc Pháp), thì Lê Uyên Phương, có lẽ là người đầu tiên tiếp nhận ảnh hưởng rock, blue, jazz Mỹ mà đem vào âm nhạc của chính mình, biến nó thành của mình không có chút nào ngượng ngập, khiên cưỡng.

Nhạc Lê Uyên Phương trong khổ đau chân thực vẫn luôn tiềm ẩn sức sống và khát vọng rất riêng, như chính một lời hát: trong đau đớn điên cuồng đó, vun kiếp sống không ngơi. Họ sinh ra là để yêu nhau và ca hát, như mỗi lần từ Sài Gòn (nơi họ biểu diễn để kiếm sống), trở về Đà Lạt, để tiếp tục bên nhau và có những sáng tác mới về cuộc tình của chính mình. Xin gửi đến các bạn ba bài hát trong album Khi loài thú xa nhau, album ghi dấu cuộc tình lãng mạn Lê Uyên & Phương. Có nhiều bản thu âm (của những ca sĩ khác) có thể ấn tượng hơn, nhưng nhạc của Lê Uyên Phương, xin nghe trình bày từ chính Lê Uyên & Phương.

Một cuộc tình như thế cuối cùng lại có một kết cục (theo tôi) là tầm thường. Âu cũng là số phận và căn cơ con người chỉ đến thế, cũng là một bài học về cái cơ địa (đáng buồn) của nhiều (đa số) người Việt chúng ta, cũng là một dạng định mệnh, đến và đi, không thể khác được. Nhưng ít nhất họ cũng đã có 15 năm chung sống, một tình yêu thật đẹp, và một sự nghiệp âm nhạc đầy mầu sắc, họ chẳng có gì để tiếc nuối.

tầm dương giang đầu

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận,
Anh lụy đời quên bến khói sương.
Năm tháng, năm cung mờ cách biệt,
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương?

君不見黃河之水
天上來奔流到海不復回

勸君更盡一杯酒
西出陽關無故人

醉臥沙場君莫笑
古來徵戰幾人回

潯陽江頭夜送客
楓葉荻花秋瑟瑟

抽刀斷水水更流
舉杯消愁愁更愁
人生在世不稱意
明朝散髮弄扁舟

Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời. Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi. Long lanh tiếng sỏi vang vang hận. Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người… (Xuân Diệu)

Chiều thu nhớ nhung vì đâu, thắm đôi dòng châu, tiếc thay tại sao đành lỡ làng. Man mác khói hương bay dịu dàng. Như tóc mây vương dáng liễu mơ màng, cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương. Ai đó tri âm biết cùng

Về những tác phẩm Đường thi quan trọng, ai chỉ từng tham khảo những cuốn cơ bản như Đường thi nhất bách thủ (100 bài), Đường thi nhất thiên thủ (1000 bài), cũng đã thấy đó là cả một gia tài văn chương đồ sộ, ảnh hưởng của chúng đến đời sau thực không cần phải nói tới. Những ông bạn già ba tôi, những người quen của gia đình tôi, mỗi khi ngồi lại ăn nhậu với nhau, thế nào cũng có một vài câu Đường thi được đọc, ví dụ như:

Anh có thấy sông Hoàng Hà, Con sông vĩ đại nước sa lưng trời. — Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy, Thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Xin vơi một chén quan hà, Dương quan chốn ấy ai là cố nhân. — Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Sa trường say ngủ ai cười, Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu. — Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.Tầm Dương giang đầu dạ tống khách, Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.

Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, Nâng chén tiêu sầu sầu không vơi. Người đời nếu chẳng được như ý, Sớm mai xõa tóc cỡi thuyền chơi.Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu, Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu. Nhân sinh tại thế bất xứng ý, Minh triêu tản phát lộng biên châu.

Lúc nhỏ, tự học đọc và viết được Hán tự, thuộc vài ngàn bài Đường thi, Tống từ, tôi đã lấy làm tự phụ rằng còn thuộc nhiều thơ hơn cả mấy ông già bạn ba tôi. Chỉ sau này mới thấy cái vốn Hán học của mình bé như hạt cát, chỉ mới là dạng đọc mau nhớ thôi. Tuy vậy vài năm lúc tuổi nhỏ cũng đủ để nhận được cái hồn cổ văn lồng lộng, những u tình sâu kín, cũng đủ thấy cốt cách người xưa… Lớn lên, tôi dần cảm thấy thích âm nhạc hơn, mà xa rời văn chương, có lẽ vì âm nhạc dễ tiếp thu hơn, mà văn chương thì đòi hỏi quá nhiều công phu hơn.

Nguyệt cầm – Cung Tiến - Thái Thanh 
Tiếng xưa – Dương Thiệu Tước - Thu Hiền 
Tình cầm – Phạm Duy - Tuấn Ngọc 

Tuy vậy, ảnh hưởng của cổ văn, cổ thi, nó bàng bạc khắp nơi, không dễ gì thoát ra được. Ảnh hưởng lên văn học Việt Nam sâu đậm nhất, có lẽ không tác phẩm nào khác ngoài Tỳ Bà hành – Bạch Cư Dị. Không kể đến trong cổ văn (mà dấu vết của Tỳ Bà hành có thể được tìm thấy nơi nơi), ngay trong Thơ mới, dấu vết của nó cũng không ít. Câu chuyện của tác giả và người kỹ nữ đánh đàn tỳ bà tình cờ gặp lúc đêm khuya trên bến sông Tầm Dương để lại cho hậu thế biết bao nhiêu mối hoài cảm. Cả một áng thơ dài, câu nào cũng đầy tình ý:

Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.
Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu, mang hận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng lẽ bây giờ càng hay…
Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Tần ngần dường cảm lời ta,
Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.
Nghe não ruột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

Nguyên bản Hán văn, phiên âm cũng như bản dịch thơ nổi tiếng của Phan Huy Vịnh, xin đọc ở đây. Đọc Tỳ Bà hành rồi dễ liên tưởng đến tác phẩm có phần tương tự của thi hào Nguyễn Du: Long thành cầm giả ca龍城琴者歌, tuy nhiên bài này lại nặng về tính thế sự hơn là về tình cảm cá nhân, nên sự xúc động gây ra trong lòng người thiết nghĩ cũng không sâu sắc bằng:

Thành quách suy di nhân sự cải, Kỷ độ tang điền biến thương hải. Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong, Ca vũ không lưu nhất nhân tại城郭推移人事改幾度桑田變蒼海西山基業盡消亡歌舞空留一人在. Ảnh hưởng trong văn thơ thì đã quá nhiều rồi, hôm nay tôi xin đưa một vài ví dụ nhỏ, ảnh hưởng của Tỳ Bà hành trong Tân nhạc, bằng trí nhớ lu mờ của mình, xin chép tặng các bạn một vài bài nhạc hay mang âm hưởng của bến Tầm Dương năm xưa.