địa đạo

Đây là một trong số rất ít những phim mình ra rạp xem đàng hoàng, đầu tiên là “Hà Nội trong mắt ai”, phát hành 1983… ah, mà đó là chuyện của 40 năm trước! Nhìn chung với một phim Việt Nam thì Địa đạo rất ổn, từ các cảnh quay, ánh sáng, màu sắc cho đến hiệu ứng khói lửa, bom nổ, đường đạn bay… đều rất thực và đẹp mắt. Câu chuyện kể lại trong phim là sự thật lịch sử, được nói rõ trong phần giới thiệu, nhóm điệp báo H.63 của Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) và Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) trong nhiều năm, sử dụng nhiều couriers – liên lạc viên để chạy mật thư từ Sài Gòn ra Củ Chi, từ đây mật thư sẽ được gởi qua sóng radio ra Hà Nội.

Một nguồn phát sóng radio hiện diện suốt nhiều năm liền tại Củ Chi như một cái gai trong mắt người Mỹ và họ phải làm mọi cách để nhổ cái gai đó! Như Nguyễn Văn Thương, một liên lạc viên thường xuyên chạy xe Honda giữa Sài Gòn và Củ Chi, một hôm bị người Mỹ phát hiện và theo dõi! Viên phi công trực thăng vì nôn nóng muốn đổ quân xuống bắt sống nên đã phạm phải một sai lầm chết người, hạ thấp trực thăng xuống sát mặt lộ, từ khoảng cách rất gần, Hai Thương nổ liền 2 phát súng ngắn hạ trực thăng rơi! Không hiểu sao chi tiết đắt giá như vậy lại không được đưa vào phim, có lẽ vì số phận Hai Thương là một câu chuyện bi thảm khác!

Tình huống cảm động nhất trong phim theo mình là chuyện Út Khờ mang thai, nhưng chưa rõ ai là cha. Trước tình huống như thế, đội du kích đã quyết định tổ chức… một đám cưới giả giữa Út Khờ với… đội trưởng Bảy Theo! Một cái đám cưới giả được quyết định và tổ chức thành công sau… 5 giây, có cả hoa, cả bánh! Đã có người đứng ra “nhận trách nhiệm”, trước sự việc đã rồi, cấp trên không thể nói gì hơn được và theo thông lệ, phải rút Út Khờ ra khỏi vùng giao chiến, như thế hai mẹ con cô ấy sẽ có cơ hội sống! Đó chính là tâm tư, tình cảm của những người du kích, họ không có chức vụ, cấp bậc gì để mất và sẵn sàng bao che đồng đội như vậy!

Chuyện nhiều “giang cư mận” phê phán cảnh nóng trong phim, nói như đúng rồi luôn. Nếu đã xem phim thì sẽ thấy mấy cái “cảnh nóng” đó chỉ mang tính ước lệ, tượng trưng mà thôi, còn chưa lộ chút da thịt nào. Nếu đây là đơn vị quân đội chính quy thì chắc chắn sẽ có vài án kỷ luật từ trên rơi xuống. Nhưng đây lại là du kích, các căn hầm đào ngay dưới nhà của họ, hàng ngày họ vẫn chui lên trồng rau, nuôi gà, v.v.. đó chính là cuộc sống thường ngày của họ, nếu không thì rất nhiều những đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh ở Củ Chi từ đâu mà chui ra!? Nên kiểu có nhiều người không hiểu gì về thực tế lịch sử nhưng vẫn cứ ưa tìm chuyện để nói ra nói vào!

Những lời thoại trong phim có nhiều chỗ khá đạt, như đoạn một cô du kích, bị ép tập các bài võ cận chiến với dao găm quá nhiều đã than thở vì mệt: tụi em chỉ là du kích thôi, đâu có phải bộ đội đặc công đâu mà… Đội trưởng Bảy Theo quát: mày đi nói chuyện đó với tụi Mỹ á, có khi nó còn gắn cho mày huy chương! :D Cái băn khoăn xuyên suốt bộ phim của người anh cả, đội trưởng luôn là: tụi nó còn nhỏ quá, còn “xanh” quá, sợ “chơi không lại tụi Mỹ”. Tuy phần phụ đề tiếng Anh không tệ, nhưng vẫn phải nói là chưa thực sự được như ý tôi, chưa tìm được cách truyền đạt tốt sắc thái ý nghĩa của lời thoại gốc, nhiều chỗ vẫn kiểu… dịch cho có, rất khiên cưỡng!

Mình thuộc dạng coi phim vô cùng lý tính và xét nét, nên không khó nhận ra một vài chỗ còn chưa được hợp lý hay có chút khiên cưỡng trong phim. Và những chỗ sai về vật lý đương nhiên nhìn ra khá nhiều, như cách nấu thuốc nổ dẻo (plastic explosive) trong phim thì hầu như chắc chắn là nó sẽ nổ, cuối phim có chiếu lại một đoạn tài liệu đen trắng cũ, chính trong đoạn phim tài liệu đó lại thể hiện cách thức tương đối đúng! Nhưng tóm lại đây là một phim rất đáng xem, dù các cảnh quay có hơi “rubato” (thuật ngữ âm nhạc), nói một cách gần đúng là nhịp độ không được chuẩn, các tình huống thắt nút, cao trào lý ra vẫn có thể làm cho hấp dẫn hơn!

Về chi tiết cuối phim, một người lính Mỹ trong đội quân “chuột chũi” chui vào trong địa đạo, bị thương và được cứu sống, cho nằm trên chiếc bè ven sông, nhiều người cho rằng chi tiết này “nhân văn” nhưng hơi “cường điệu”. Theo tôi thì, không có gì là “cường điệu”, thậm chí cũng chẳng có gì là “nhân văn” trong tình huống này, đó chỉ là sự thật thực dụng của chiến tranh. Nên nhớ một tù binh Mỹ còn sống dù thế nào cũng là một “tài sản đáng giá”, có thể dùng để “trao đổi” khá nhiều thứ, kể cả các quân nhân Việt Nam bị phía Mỹ bắt. Thế nên phía Việt Nam nhiều khi phải rất cố gắng để giữ cho tù binh còn sống để có thể làm món hàng trao đổi!

Trong thời gian 15 năm, từ 1961 đến 1975, chỉ riêng mạng lưới điệp báo H.63 đã sử dụng khoảng 45 couriers – liên lạc viên để truyền tin, 27 người trong số đó bị bắt, tra tấn… nhưng không một ai khai ra điều gì, mạng lưới vẫn đứng vững và thông tin không ngừng tuôn chảy. Nếu tính rộng ra cả số du kích, bộ đội đã hy sinh khi tham gia bảo vệ đường dây thông tin này, trực tiếp hay gián tiếp, có khi thiệt hại là không đo đếm được! Phim chỉ là một lát cắt nhỏ, chỉ vài tuần trên một dòng chảy thời gian nhiều chục năm, chỉ vài khoảnh khắc đại diện, ngắn gọn cho thấy cha ông chúng ta đã sống, đã chiến đấu chống ngoại xâm như thế nào!

thorn birds

Một góc làng chài ven biển, không biết từ lúc nào đã xuất hiện một cái nhà thờ nho nhỏ cùng với một cộng đồng giáo dân be bé, lúc tôi sinh ra thì nó đã có ở đó rồi. Đó là những năm đầu 198x, lâu đến mức tưởng đã quên luôn khúc nhạc trong phim “Theme from the thorn birds – Tiếng chim hót trong bụi mận gai” này. Phim gì đâu mà mô tả chuyện tình ngang trái, vụng trộm không thể che giấu giữa một cha xứ… cha Ralph de Bricassart và cô gái bé nhỏ mang tên Meggie, nhỏ đến mức giống như là Lolita vậy!

Tình tiết trong phim thì không còn nhớ mấy, nhưng điều tôi còn nhớ rất rõ là, trong cái xóm chài đó, khi truyền hình đang chiếu phim này, thì giáo dân nhiều người đã… đập TV! Nhiều TV bị đập nát đến mức không dùng được, mà tại thời điểm đó, TV là cả một tài sản! Không thể chấp nhận được một chuyện tình vừa trái cả đạo lý, vừa trái cả giáo lý như thế! :D Nét nhạc có phần đơn giản nhưng tươi sáng, đã di cư đến Úc đến cả mấy trăm năm rồi, nhưng chất nhạc dân ca Scotland và Celtic vẫn không lẫn đi đâu được!

Làm tôi nhớ đến một ông “tiến sư giáo sĩ” người đã dạy tôi hồi còn ở Đại học: đẹp trai như các anh chị ngồi đây, hay xấu trai như tôi, từ quan điểm của môn xác suất thống kê thì… khả năng lấy được vợ đẹp là như nhau! Ông ấy lại tiếp tục: tôi khuyên các anh lo học hành đi, thời bây giờ đàn ông lấy vợ kém 10, 15 tuổi là chuyện tương đối bình thường, nên ngay lúc này đây, đừng có tập trung quá nhiều cho việc yêu đương, luyến ái, hẹn hò làm gì, vì vợ tương lai của các anh, ngay lúc này, còn đang đi học mẫu giáo kìa! :D

penicillin

Cứ hễ phim mà có Trương Tịnh Nghi là mình lại xem :) ! Phim có nhiều sạn, dù diễn xuất theo tôi khá là đạt! Về Penicillin: được tìm ra một cách tình cờ năm 1928 bởi Alexander Fleming, nhà vi sinh vật học người Scotland, được áp dụng chữa bệnh trên người lần đầu năm 1930, nhưng mãi đến 1943 mới sản xuất được ở quy mô lớn và có ứng dụng rộng trong chiến tranh. Cỡ năm 1943, Liên Xô cũng đã có những nghiên cứu, phát hiện về Penicillin nhưng vẫn chưa đạt đến quy mô ứng dụng đại trà! Penicillin thật sự là một phát minh vô cùng quan trọng đã làm thay đổi lịch sử! Giải Nobel Y – Sinh năm 1945 đã trao cho Alexander Fleming và hai tác giả khác!

Và năm trước đó, 1944, Fleming đã được phong tước hiệp sĩ – “Sir” như một sự ghi nhận về đóng góp của ông, về vai trò của Penicillin – gần như là loại kháng sinh đầu tiên đã giúp cứu vô số mạng người trong Thế chiến 2! Nên tại thời gian trong phim là năm 1930, địa điểm là Thượng Hải, Trung Hoa dân quốc… thì cơ bản người ta vẫn còn chưa biết Penicillin là cái gì! Xem phim Trung Quốc, nhiều khi ta thấy toát lên một cái dáng vẻ “cấp tiến” rất đáng sợ! Thực sự thì văn hóa Trung Quốc trên một số mặt là rất “cấp tiến”, nhất là trong các vấn đề quốc kế dân sinh, nhưng dĩ nhiên lịch sử không đơn giản, ngây thơ và hàm hồ như kiểu mô tả trong phim ảnh!

kiểm soát vũ khí

Xem phim cổ trang Trung Quốc, một vị hoàng đế mặc thường phục vi hành… Trong ảnh có thể thấy mấy người thị vệ cầm đoản đao, dài chưa đến 5 tấc kể cả cán. Nghĩ bụng: cẩm y vệ mà không sắm được trường đao cho nó đàng hoàng hay sao!? Nhưng nghĩ lại, đây là thời Tống, vũ khí được kiểm soát chặt chẽ!

Mang trường đao thì khác nào tự để lộ thân phận lính triều đình!? Thời Tống, xã hội dân sự có trình độ phát triển cao, có rất nhiều quy định kiểm soát vũ khí rõ ràng và chặt chẽ! Ví dụ quy định dân thường được xài đao dài tới bao nhiêu, quy cách thế nào!? Ấy thế mà thời hiện đại, chờ mãi cũng chưa thấy quy cách nào!

sở hữu yếu

Xem phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc thấy được vài điều… Điều gì khiến cho triều Thanh trở nên mạnh mẽ, chiếm được “thiên hạ” và hoàn toàn khác biệt so với các triều đại khác của TQ? Nếu chỉ xem lướt lướt các phim thì có vẻ như triều đại phong kiến nào cũng giống nhau! Nhưng thực ra, so với thể chế chính trị cực kỳ hủ bại và tàn ác của triều Minh trước đó, thì triều Thanh “ngoại tộc” thực sự có những yếu tố mới mẻ và lấy được lòng dân! Ít nhất là ở giai đoạn đầu, yếu tố cơ bản khiến Thanh triều khác biệt chính là cái mà tôi gọi là “quyền sở hữu yếu”.

Nhưng như thế nào là “quyền sở hữu yếu”!? Đầu tiên, vì gốc gác là dân tộc du mục, người Mãn không có khái niệm sở hữu đất đai, không phân phong cho ai quyền cai quản đất đai vĩnh viễn. Nên dùng chữ “phong kiến” ở đây chỉ đúng một nữa, vì tuy có “phong vị” nhưng lại không có “kiến địa”. Xã hội Mãn châu nguyên thủy được tổ chức thành các đơn vị cơ bản, một mô hình dân – quân hợp nhất gọi là “Tá lĩnh”, mỗi Tá lĩnh bao gồm khoảng 300 chiến binh cùng với gia đình, vợ con, cha mẹ của họ. Toàn Thanh triều lúc cực thịnh có tổng cộng khoảng 664 Tá lĩnh.

Một người có thể được giao cho quản lý một hoặc nhiều Tá lĩnh, tùy theo địa vị, công trạng, nhưng quyền quản lý này có thể bị thu hồi thông qua quyết định của một hội đồng, hay qua mệnh lệnh trực tiếp từ Khả Hãn. Việc thế tập (cha truyền con nối) là phổ biến, nhưng không phải là hiển nhiên, các thế hệ sau muốn duy trì quyền kiểm soát này thì phải cố gắng tạo dựng công trạng! Như xem trong các phim cổ trang thì các Kỳ nhân đều xưng hô với Kỳ chủ là “nô tài” này nọ, thực chất đó chỉ là khiêm xưng, bản thân Kỳ nhân hoàn toàn không phải là nô tài, nô tì.

Họ là những lương nhân tự do, chỉ bị ràng buộc với Chủ từ qua các quan hệ lao động. Những Kỳ nhân này làm việc cho Chủ tử theo những chế độ lương, thưởng được quy định rõ ràng! Và các Kỳ nhân cũng được luật pháp bảo vệ, Chủ tử không thể giết hại họ tùy ý được! Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra, và nếu xảy ra thì Chủ tử sẽ bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc! Như thế, “sở hữu” một Tá lĩnh thực chất không phải là quyền sở hữu đất đai, cũng không phải là quyền sở hữu con người (nông nô, nô lệ), mà gần như chỉ là quyền “quản lý” tài sản và lao động!

Luật pháp Thanh triều quy định phân biệt rõ ràng giữa tài sản riêng và tài sản chung. Như xem trong các phim cung đấu thì khi một phi tần được sủng ái, họ sẽ được ban cho cung điện, châu báu, tài sản, người hầu hạ này nọ. Nhìn thì có vẻ xông xênh, ra ngoài được khiêng kiệu, che lọng, tiền hô hậu ủng, nhưng tất cả những “tài sản” đó đều chỉ là… cho mượn, khi bị giáng vị, thăng vị, huyền vị… thì toàn bộ đều phải trả lại! Thế nên mới có tình huống hoàng đế, vì sủng ái một vị thê tử nào đó, mới xuất tiền túi ra cho riêng, để vị nương nương này có chỗ dựa khi về già!

Quý tộc thế tập thời Thanh, dù vẫn là cha truyền con nối, nhưng đa số là “Thế tập đệ giáng”: qua một đời thì giáng xuống một cấp, như Trấn quốc công thì giáng thành Phụ quốc công, và cứ thế tiếp tục, điều này giúp làm giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Vì quyền thừa kế không phải là nguyên vẹn và vĩnh viễn, nên con cháu đời sau vẫn phải cố gắng nếu muốn duy trì gia tộc hưng thịnh! Những điều này dần thay đổi khi Mãn tộc chung sống và bị đồng hóa bởi người Hán, nhưng ít nhất ở giai đoạn đầu, “sở hữu yếu – không có gì là vĩnh viễn” là ưu điểm rất lớn của thể chế!

chính danh

Mỗi nền văn hóa đều có những mặt mạnh, yếu riêng, những mặt yếu thường khi là dễ thấy, nhưng những mặt mạnh đôi khi lại khó thấy hơn, dù nó… ở ngay trước mắt! Ví như Trung Quốc, từ hàng ngàn năm nay, tính “chính danh” là một yếu tố quan trọng, xuyên suốt. Xem phim cổ trang thấy rất nhiều: tù nhân là phải mặc áo có chữ “tù – “, rõ ràng không sai được, binh lính đương nhiên phải mặc áo có chữ “binh – “, người của nha môn, cơ quan công quyền thì mặc áo có chữ “nha – “. Cảnh sát điều tra, truy nã tội phạm mặc áo có chữ “bộ – ” (bộ có nghĩ là truy bắt, như trong “bộ đầu”). Mặc áo có chữ “hà – ” chính là cơ quan quản lý đường sông, đê điều… Xem phim cổ trang, giai đoạn Thanh triều thì thấy:

Mặc áo có chữ Binh – tức là lính triều đình, hàng ngũ Bát Kỳ giai đoạn đầu là những chiến binh chuyên nghiệp, thế tập, được tổ chức và trang bị tốt, nhờ sức mạnh đó nên lấy được “thiên hạ”. Nhưng tiếc thay, chưa đến 3 thế hệ chung sống với người Hán, bị đồng hóa đến mức quên luôn Mãn ngữ, và mất luôn sức chiến đấu ban đầu! Dũng – là thành phần tinh nhuệ, thiện chiến trong số binh, kiểu như đặc nhiệm, đặc công vậy! Tốt – về danh nghĩa cũng là binh sĩ, nhưng là lính địa phương, thường chỉ tham gia bảo đảm an ninh trật tự, hiếm khi bị điều động cho chiến tranh. Còn Đinh – đơn giản là thành phần phu phen khuân vác, hỗ trợ chiến đấu, lấy thẳng từ dân lên, không phải là binh sĩ chính thức.

Quan viên các triều Minh, Thanh trên triều phục đều có một hình ô vuông phía trước ngực (gọi là bổ tử – 補子, chữ bổ trong “bổ nhiệm”) thêu nhiều chi tiết trang trí khác nhau nhưng đều có ý nghĩa rất rõ ràng: chim hạc tức là quan văn nhất phẩm, chim trĩ vàng tức là quan văn nhị phẩm, chim công là tam phẩm, thêu hình nhạn (ngỗng trời) là tứ phẩm, v.v… Với quan võ, thay vì các loài chim, ô vuông này thêu các loài thú: kỳ lân tức là nhất phẩm, sư tử là nhị phẩm, báo là tam phẩm, hổ là tứ phẩm, v.v… Còn riêng con rồng (năm móng, bốn móng) thì dành riêng cho các thành viên Hoàng gia! Và ý nghĩa của tính chính danh là như thế: người nào, vật nào, chỗ đó; có trật tự, thứ bậc, có danh phận và trách nhiệm rõ ràng!

như nguyện

Ca khúc: Như nguyện – Vương Phi, nhạc nền phim “Tôi và cha ông chúng ta” (我和我的父輩 – Ngã hòa ngã đích phụ bối), 2021, phim nặng tính tuyên truyền, thích hay không tùy mỗi người. Phim tóm tắt một quá trình dài 3 thế hệ, từ những ngày đầu “chinh chiến sa trường”, cho đến lúc Trung Quốc chuyển mình từ một nước lạc hậu nhất…

Lên tầm hiện đại, lớn mạnh nhất thế giới! Truyền thông TQ bắt đầu dùng chữ “thịnh thế – 盛世“, như xưa từng nói “Khang – Càn thịnh thế”, thời thịnh trị của Khang Hy, Càn Long. Không có con đường tắt nào, trừ khi tính cách quyết liệt đến mức điên cuồng như ku Nga, còn không thì “đi tắt, đón đầu” chỉ là ngôn từ của phường cường đạo!

niệm niệm bất vong

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响

trà mã cổ đạo

Trong Minh Lan Truyện, Thịnh lão thái thái có một câu thoại: ở đời nếu chỉ nói đằng mồm mà được, thì Yên Vân thập lục châu đã lấy lại được lâu rồi! Yên Vân thập lục châu – Mười sáu châu Yên Vân là vùng đất rộng lớn, ngày nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây và một phần Nội Mông, đất đã mất từ cuối thời Đường, các triều Tống, Minh nhiều lần tìm cách lấy lại nhưng chưa bao giờ thành công. Không chỉ có tài nguyên phong phú, đây còn là vùng thảo nguyên rộng lớn, cần thiết để nuôi ngựa, mà ngựa là phần vô cùng quan trọng của quân đội, xuyên suốt lịch sử, chưa bao giờ TQ có đủ lực lượng kỵ binh để đối chọi lại với các bộ tộc phương Bắc. Nên một trong những mối quan tâm hàng đầu của các triều đại TQ là… ngựa!

Ngựa Trung Nguyên vừa thiếu lại vừa yếu, chỉ những giống ngựa sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt mới mạnh mẽ, lì lợm, mới sử dụng được trong chiến tranh! Để có được ngựa tốt, họ mua bán trao đổi với Tây Tạng! Tây Tạng là vùng cao nguyên, khí hậu lạnh giá, khắc nghiệt, không trồng được rau quả, mà dân thì sống theo lối du mục, khẩu phần ăn bao gồm thịt, sữa là chủ yếu nên thiếu rau nghiêm trọng, từ chuyện thiếu rau đâm ra… nghiện trà, vì trà bổ sung một lượng vitamin đáng kể! Nắm được điều đó, người TQ đem trà đổi ngựa, tạo nên mạng lưới đường sá giao thương kéo dài hàng ngàn cây số! Từ xưa, họ đã viết nhiều cuốn sách khảo cứu, chỉ chuyên về đề tài thương mại Trà – Mã, làm sao đổi trà lấy ngựa!

ngưu bất hát thủy

Đoạn này phụ đề Việt ngữ ghi như vậy, nói một câu nôm na đơn giản cho nó nhanh chóng dễ hiểu, nhưng nguyên văn tiếng Trung lại là: Ngưu bất hát thủy, ngạnh án đầu a!? – 牛不喝水硬按头啊, dịch nghĩa tức là: Trâu đã không muốn uống nước, có ấn đầu nó xuống được không!? Câu thoại hàm chứa một ý phản kháng mạnh mẽ hơn rất nhiều, thể hiện đúng cá tính của nhân vật Thịnh Như Lan: đơn thuần, ngay thẳng, si ngốc, đáng yêu… Hiếm thấy phim nào chú tâm xây dựng các tuyến nhân vật phong phú, đa dạng và phản ánh muôn mặt của cuộc sống thực tế sinh động đến như thế!

Xem phim, thưởng thức văn hóa, phải soi từng câu, từng chữ, hiểu cho tường tận điều người ta muốn diễn đạt! Nhưng đa số khán giả Việt thì chỉ muốn “ta hiểu”, “ta biết rồi”, “ta được quyền đánh giá”, một cách nhanh chóng nhất! Cũng vì vậy mà xuất hiện vô số dạng “review”, những dạng mì ăn liền, không chịu tìm hiểu điều gì cho thấu đáo, tường tận, chính là nhắm vào cái “ta biết”, một kiểu “nhận dạng, so khớp mẫu” thiểu năng, máy móc như đứa trẻ lên 3 vậy. Xem, học mà cứ như thế thì ngoài “cái tôi” trống hoác của chính bản thân mình ra, vĩnh viễn không thấy được điều gì khác!