tàu không số

Về chiến dịch Market Time (Mỹ) hay… các con tàu không số đã thất bại như thế nào. Chuyện các con tàu không số VN trong kháng chiến chống Mỹ thì mọi người đã biết nhiều rồi, vinh quang thì nhiều và đắng cay cũng không ít. Bài này nói về cách người Mỹ đã làm thất bại kế hoạch vận chuyển trên biển của VN. Nhưng trước tiên là một vài câu chuyện bên lề, như khi bắt đầu làm một chuyện gì đó, từ lúc sơ khai cho đến lúc lão luyện, đương nhiên sẽ có rất nhiều bài học đắt giá. Năm 1963, một con tàu không số chở quá tải, vừa xuất bến đã bị hiện tượng phá nước, có nguy cơ chìm, phải điện về sở chỉ huy điều tàu ra kéo vào, may mà đã kéo kịp. Cũng trong năm 1963, một tàu giao hàng xong trên đường trở ra thì mắc cạn ở Hoàng Sa, tàu không chở hàng, nhẹ mà vẫn không cứu được, đành phải cho nổ hũy tàu. Trừ những chuyến đầu tiên trong năm 1962 là đi bằng tàu vỏ gỗ, thì các con tàu xuất bến từ năm 1963 trở về sau đều là tàu vỏ sắt, tải trọng khoảng 100 tấn! Lưu ý đây là tải trọng tối đa, thực tế lượng vũ khí chở trên tàu chỉ khoảng 40~60 tấn mà thôi. Khi trở ra chạy tàu rỗng, kém ổn định nên các thủy thủ chặt nhiều cây dừa nước xếp vô trong khoang. Về đến bến K15 Hải Phòng thì vứt đại mấy cây dừa nước xuống biển.

Mấy cây dừa nước này nảy nở sinh sôi làm người dân địa phương sinh nghi vì họ biết rằng dừa nước là giống cây chỉ có ở miền Nam, miền Bắc không có. Mà bến K15 là tuyệt mật, ngay cả chính quyền tp. Hải Phòng chỉ biết là cơ sở quân đội chứ không biết bên trong làm gì. Sau vụ này, bến K15 cho người đi nhổ sạch mấy cây dừa nước và… tổ chức họp rút kinh nghiệm về công tác bảo mật! :D Năm 1963, đi 22 chuyến đều thành công, giao 1318 tấn vũ khí! Năm 1964, đi 55 chuyến đều thành công, giao 2971 tấn vũ khí! Năm 1965 đi 18 chuyến, 15 chuyến thành công, giao 810 tấn vũ khí, sau sự kiện tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô thì người Mỹ tăng cường các biện pháp phòng chống “cộng sản xâm nhập”, và phải nói các biện pháp này khá hiệu quả. Năm 1966 đi 8 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1967 đi 5 chuyến đều thất bại! Năm 1968 đi 8 chuyến đều thất bại! Năm 1969 tổ chức 4 chuyến có 2 chuyến thành công! Năm 1970 tổ chức 17 chuyến có 6 chuyến thành công. Năm 1971, tổ chức 15 chuyến có 2 chuyến thành công, Năm 1972, tổ chức 12 chuyến cũng chỉ 2 chuyến thành công. Như vậy, cho đến khi ký kết Hiệp định Paris và người Mỹ rút khỏi VN thì họ đã khá thành công trong việc ngăn chặn các con tàu không số.

Người Mỹ đã thử nghiệm nhiều cách thức khác nhau, nhưng đến cỡ năm 1965 thì họ đã hoàn thiện “quy trình làm việc”, dùng các con tàu “radar picket escorts” giám sát mặt biển, những loại “SC radar” lúc đó có tầm hoạt động không quá lớn, tối đa chỉ khoảng 120km. Khi phát hiện được những tàu khả nghi thì cho máy bay ra quan sát, chụp ảnh, và khi đã xác định là “đối tượng tình nghi” thì dùng các tàu khu trục cỡ nhỏ để theo dõi, đeo bám. Các con tàu không số của VN dùng chiến thuật phổ biến là lảng vảng ở ngoài vùng biển quốc tế, tìm cơ hội, chờ đối phương sơ hở là đâm thật nhanh vào bờ, dỡ hàng ngay trong đêm và rời đi vào sáng hôm sau. Phía Mỹ biết rõ quy luật nên tổ chức theo dõi, đeo bám rất sát sao. Ở đây có một điểm cần lưu ý, người Mỹ, dù biết rõ đó là các tàu VN chở vũ khí thâm nhập miền Nam, nhưng họ chỉ tổ chức đeo bám chứ không tấn công, cũng không đâm va. Chỉ khi nào tàu VN tìm cách xâm nhập vào gần bờ thì mới điều các tàu chiến cỡ nhỏ ven bờ ra vây bắt. Đây là một trong những “quy tắc giao chiến – rules of engagement” của người Mỹ, nếu tàu còn ở trong hải phận quốc tế thì… vẫn có quyền tự do đi lại. Đã có nhiều tình huống, các con tàu không số bị đeo bám, theo dõi quá sát sao…

Không đi tiếp được, phải quay trở ngược ra Bắc. Người Việt chúng ta thường ngạc nhiên trước các quy tắc giao chiến này, đã đánh nhau thì còn quy tắc gì nữa, thực ra không phải vậy! Chiến tranh cũng phải có luật lệ, quy tắc, điều đó rất thường khi là có lợi cho các bên tham chiến. Một điểm đáng lưu ý là, nếu lúc đó, chúng ta quay trở lại sử dụng các con tàu vỏ gỗ, thì cơ hội, xác suất thành công sẽ cao hơn rất nhiều, do vỏ sắt phản xạ radar tốt, trong khi vỏ gỗ hấp thu tín hiệu radar, làm cho đối phương rất khó dò tìm. Nhưng đáng tiếc là, và phải nói thẳng là, các con tàu vỏ gỗ đóng theo kiểu truyền thống VN (không có sống đáy) chỉ có thể làm tàu đánh cá mà thôi, không đủ độ cứng cáp, vững bền để chở đến 50, 60 tấn vũ khí và thực hiện các hải trình khó khăn, phức tạp. Và dù có nhiều thông tin về một vài con tàu 100 tấn vỏ sắt do chúng ta tự thiết kế, tự đóng ở Tam Bạc nhưng đọc các con số cũng luận ra được nhiều điều bất hợp lý, xài được hay không là một dấu chấm hỏi (đến tận ngày nay, các con tàu chúng ta tự đóng có xài được hay không cũng vẫn là dấu hỏi), và thực tế là, do Mỹ đánh phá bằng không quân ác liệt, nên các con tàu không số do Đoàn 125 sử dụng phần nhiều đều là do nước bạn TQ đóng!

“thảm sát mậu thân – 1968”

Chủng qua đắc qua,
Chủng đậu đắc đậu.
Thiên võng khôi khôi,
Sơ nhi bất lậu.

Nhân cái gọi là “thảm sát Bucha” (Bucha massacre) được cho là đã xảy ra gần đây trong cuộc chiến Nga – Ukraine, nói về một “vụ thảm sát” lớn hơn ít nhất 10 lần: Huế – Mậu thân – 1968. Về Bucha, chính quyền Nga chỉ đưa ra một thông báo bác bỏ ngắn gọn, gọi đó là tin giả, rồi im lặng không nói gì để mặc cho các hệ thống thông tin thân Tây phương hoành hành, tạo ra một rừng “thông tin, chứng cứ” như đúng rồi luôn. Thoạt đầu tôi không hiểu tại sao lại để cho sự việc như vậy, nhưng khi liên hệ lại với “vụ thảm sát” Huế năm 1968 thì luận ra được nhiều điều tương tự, chính quyền VN cũng đã im lặng, mà im đến mấy chục năm, không đưa ra một lời giải thích thỏa đáng nào. Vì sao lại có sự im lặng đáng sợ như vậy, đến mức người VN như tôi cũng có lúc đã nhầm tưởng rằng “vụ thảm sát” này là có thật.

Đầu tiên phải nói Huế là nơi duy nhất trong toàn bộ chiến dịch Mậu thân mà quân Giải phóng đã làm chủ hoàn toàn một thành phố trong 26 ngày, đây là một đòn chí mạng khi chỉ với binh lực chỉ khoảng 8000 người đã tạo ra được một thế trận nguy hiểm với người Mỹ. Thực sự là… đã có một số “giết chóc” xảy ra, chủ yếu là khi đã làm chủ thành phố, quân Giải phóng yêu cầu một số sĩ quan, viên chức VNCH phải ra trình diện, một số người đã chống lệnh, cố thủ từ trong nhà bắn ra! Còn các đơn vị dân quân địa phương, những người có nhiều người thân trong gia đình bị Mỹ – Ngụy bắt bớ, tra trấn, tù đày, thủ tiêu… nhân cơ hội này, chỉ chờ các quan chức VNCH chống lệnh là… nổ súng tiêu diệt. Sự căm phẫn của quần chúng lúc đó, các chỉ huy tại hiện trường không thể kiểm soát hết được!

Nên nói như ông Lê Tư Minh, bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên lúc đó, chính quyền nợ những “nạn nhân” này một lời xin lỗi, đó là sự “phẫn uất, tự tác” của một số thành phần. Nhưng thực ra số những vụ “giết chóc” này không nhiều, cùng lắm thì cũng chỉ vài trường hợp mà thôi. Nhưng sau đó thì người Mỹ đánh vào Huế với hỏa lực chưa từng có của hạm đội và phi đội, một hạm đội lớn với hơn 160 tàu chiến các cỡ, với những hải pháo cỡ nòng rất lớn và cả máy bay B-52 cũng được huy động để ném bom rải thảm vào thành phố! Không có những con số thống kê chính xác nhưng ước tính khoảng 80% các ngôi nhà trong thành phố bị phá hũy hoàn toàn, từ 5~10% dân số thành phố đã chết vì pháo kích và không kích của Mỹ, về số dân thường đã thiệt mạng, ước tính đâu đó khoảng 3~6 ngàn người.

Những người chết được dân chúng và quân Giải phóng chôn cất vội vàng, tạm bợ do hoàn cảnh chiến tranh. Đến khi người Mỹ phản công, chiếm lại được thành phố thì là cả một đống hoang tàn như thế, quân GP hy sinh khoảng 2 ngàn, số người dân chết vì hỏa lực Mỹ thì nhiều gấp 2, 3 lần, thậm chí có thể hơn! Để tránh một bê bối truyền thông, để che dấu cái “collateral damage” quá lớn, thì người Mỹ cho đào các hố chôn lên, rồi dựng vở kịch Việt cộng đã thảm sát người dân vô tội, là VC chứ không phải là người Mỹ nhé! Bộ máy truyền thông được huy động, vô số bài được viết, cái chiêu “nói ngược” của đám lưu manh vẫn luôn như thế, kéo thêm vào vài đám “văn nghệ sĩ, bồi bút tay sai”, viết văn làm thơ, khóc lóc thảm thiết, như thế mới tạo ra được dư luận thuyết phục được đám đông.

Noam Chomsky, trong “Tài liệu về Kinh tế và Nhân quyền” tập 1, cho rằng vụ việc đã bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ nhằm mục đích tuyên truyền. “Đó là những thường dân bị chết do những trận bom pháo Mỹ đã san bằng thành phố Huế. Rồi sau đó khi Mỹ và quân đội Sài Gòn phản kích trả thù lại cũng giết chóc rất nhiều. Thứ nữa là lực lượng quân Giải phóng đã tử trận trong lúc chiến đấu. Tất cả đều là người Việt với nhau và Mỹ tính gộp vào hết. Tất cả những điều đó được Mỹ dựng thành một vụ thảm sát tưởng tượng!” Nhà báo Italy là Oriana Fallaci trong bút ký cho biết khoảng 1100 người đã bị giết khi quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ tái chiếm Huế, hầu hết người bị giết là giáo viên, giảng viên, sinh viên đại học, tu sĩ, trí thức và tín đồ tôn giáo!

Phía VN đương nhiên hiểu rõ đây là thủ đoạn tâm lý chiến của người Mỹ, nhưng họ im lặng, và đã im lặng suốt mấy chục năm, vì sao như thế!? Tội ác của Mỹ – Ngụy đâu phải chỉ có Mậu Thân đâu, vô số thành phần dân chúng, cộng sản có, không cộng sản có, các tín đồ Phật giáo bị hệ thống mật vụ VNCH và CIA Mỹ bắt bớ, tra tấn, thủ tiêu, sự giết chóc khủng bố có hệ thống! Như tên Nguyễn Phúc Liên Thành, chỉ một viên thiếu tá nhỏ nhoi, chỉ huy cảnh sát Huế, đã giết không biết bao nhiêu người, thủ tiêu cả thầy dạy học của mình (Ngô Kha), giết luôn cả người bạn thân nhất đã ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu từ nhỏ, rất nhiều vụ chỉ vì thù ghét cá nhân hay các động cơ đê hèn khác! Đến cả hội đồng Nguyễn Phúc tộc phải ra thông báo phủ nhận mọi liên quan đến tên giết thầy, giết bạn này!

Mà thủ đoạn của đám mật vụ thì để lại rất ít chứng cứ để có thể điều tra kết án! Phải im lặng, chấp nhận một cái “án oan” vô cùng lớn như thế trong suốt hàng chục năm, tạo ra cái ảo tưởng là chúng nó đã thành công trong việc tạo ra màn kịch “thảm sát”! Phải có một thời gian dài để có thể đối chiếu, kiểm tra, truy tìm án tích, và quan trọng là, giống hệt như trong các phim cổ trang TQ, dựng ra các màn kịch, các tình huống để những kẻ thủ ác tự để lộ thông tin, tự bộc lộ chính bản thân! Suy cho cùng, với quá nhiều tội ác mà chúng nó đã gây ra, thì sẽ không thể ngủ yên được trong nhiều thập kỷ sau đó, chúng nó sẽ tìm cách che dấu, lấp liếm, và thực tế là, tiếp tục tạo ra nhiều vụ việc mới để che lấp các vụ án cũ! Cuộc chiến qua đi khiến chúng ta hiểu hơn về con người, về lịch sử như thế!

Cứ như thế, đi qua hết thằng thực dân này đến thằng đế quốc khác, chúng ta đều bị “dắt mũi” trong những cuộc chiến thông tin, tâm lý. Từ thời Pháp, chúng đã tạo ra cả một màn “sương mù thông tin”, gieo rắc nghi ngờ và thù hận! Đến thời Mỹ lại càng bài bản hơn, xuất bản thành vô số sách vở, tài liệu, làm thành phim ảnh, “phổ cập tin tức” đến mọi người, lặp đi lặp lại trong suốt nhiều năm, người này “tham chiếu” người kia, đổi trắng thành đen, thị phi điên đảo, tất cả đều nằm trong những bài bản đã chuẩn bị trước! Đến tận ngày nay trên wikipedia, nhất là mục tiếng Anh vẫn chủ yếu là thông tin đơm đặt một chiều từ phía Mỹ. Những thủ đoạn đó đã vô cùng hiệu quả, cơ bản đối với một dân tộc không tự nhìn rõ được bản thân, không tạo dựng được niềm tin và giá trị cộng đồng!

hải chiến hoàng sa 1974

Trước đọc nhiều tài liệu bảo HQ VNCH đã chiến đấu anh dũng trong Hải chiến HS 1974, tôi cũng mém tin là thật. Nhưng, ngày càng có nhiều thông tin chi tiết để ta hiểu rõ hơn về diễn biến cuộc chiến này. Tóm tắt ngắn gọn, mỗi bên đều có 4 tàu, các tàu TQ đều nhỏ, cỡ 300~500 tấn, còn HQ VNCH có 2 tàu 2800 tấn (HQ-5, HQ-16), 1 tàu 1600 tấn (HQ-4), 1 tàu 650 tấn (HQ-10). Dù là tính về tải trọng hay tính về hỏa lực thì đều hơn gấp 4, 5 lần đối phương, tàu lớn hơn, nhanh hơn, nhiều pháo hơn, pháo lớn hơn, và riêng HQ-4 thì có radar dẫn bắn hiện đại. Các tàu TQ trong trận chiến đều chỉ là tàu săn ngầm, tàu quét mìn cỡ nhỏ, còn chưa được gọi là “chiến hạm”, pháo ít và nhỏ, không có radar dẫn bắn! TQ lúc đó chưa phải là TQ bây giờ, vẫn rất nghèo nàn và lạc hậu, còn Mỹ trang bị cho VNCH tuy không phải là hàng xịn nhất, nhưng so với các nước trong khu vực thì vẫn hơn hẳn.

Nhưng diễn biến trận đấu thì… HQ-4, HQ-5 bắn vu vơ 5, 7 phát rồi rút, đáng nói là có một phát bắn trúng ngay tàu “quân ta” là HQ-16! Một số sĩ quan VNCH về sau còn cho rằng ngoài HQ-16 bị trúng đạn của “đồng đội” thì có thể tàu HQ-10 cũng thế, đều bị 2 tàu “đồng đội” bắn thiệt hại nặng, mà pháo 127 ly sức công phá rất lớn, chỉ 1, 2 phát là đã có thể chìm tàu. Kết quả là tàu HQ-10 chìm, HQ-16 lết được về Đà Nẵng, còn HQ-4 và HQ-5 gần như không thiệt hại gì. Như thế là 2 tàu đã thực sự có đánh nhau với TQ thì… bị 2 tàu còn lại bắn, bắn rồi phao tin TQ đưa tàu tên lửa và máy bay ra HS (hoàn toàn không có việc này) để ngụy biện cho hành động bắn đồng đội, bỏ mặc và bỏ chạy! Chừng đó diễn biến là đã rõ, sau khi tham khảo ý kiến “quan thầy” Mỹ đã có ý nhắm mắt làm ngơ, thì HQ VNCH đâu dám làm trái ý, tự bắn người của mình và rút lui để cho TQ chiếm đảo!

Sự việc như thế, thứ nhất là tuân theo ý của ông chủ Mỹ, thứ nhì là “gắp cục than nóng” bỏ tay người, Bắc Việt lúc bấy giờ, dù xét về thế hay về lực, đều không ở vị trí tốt để bảo vệ được HS. Nhưng đó chỉ là một trong chuỗi những sự kiện “oanh liệt” của HQ VNCH. Năm 1956, Đài Loan điều tàu chiếm đảo Ba Bình, tt. Diệm ra lệnh rút, Đài Loan chiếm được đảo mà không cần nổ súng! Từ 1956 đến 1966, HQ VNCH để mất 6 đảo gần Phú Quốc vào tay Vương quốc Campuchia. Năm 1970, Philippines chiếm 7 đảo ở Trường Sa, VNCH không nói gì và cũng không làm gì cả! Và đến 1974 thì để mất Hoàng Sa theo cách rất “điếm lác” như thế! Và sau đó thì kéo cái chiến hạm lớp Các-tông (giấy) đi giễu binh, đòi phục quốc, tìm cách khủng bố cộng đồng! Dù là ở bất kỳ thể chế nào, nếu không loại trừ được những thành phần âm binh, âm hồn như thế thì xã hội không thể khá được!

biệt động sài gòn

Ngày càng có nhiều thông tin được giải mật, như vụ cướp máy bay trực thăng UH-1 ở Đà Lạt, trước đây chỉ xem như tin đồn, huyền thoại chưa biết có thật không thì giờ đã được chứng thực. Sự việc cướp máy bay hết sức ly kỳ này đã được “mượn” thành một tình tiết trong bộ phim “Cuộc chiến xa lạ” do người Nga làm cách đây vài năm!

Nhiều thông tin vẫn phải “đọc giữa các dòng chữ – read between the lines”, như cô bé mồ côi ở Quảng Ngãi không phải vô tình mà đi SG làm người giúp việc, đều là do tổ chức xếp cả, hay “tình cờ” đọc lá thư cũng là bài test, nếu vượt qua được bài kiểm tra này thì xin chúc mừng, bạn đã trở thành ứng viên cho các đội Biệt động Sài Gòn!

Để trở thành thành viên các tổ điệp báo, bạn cần phải thông minh, gan dạ hơn người, ngoại ngữ giỏi, thậm chí có thể được gởi đi nước ngoài học làm “quân bài dự phòng” về sau! Để trở thành thành viên các đội biệt động, phần đông đó là những đứa trẻ đã bị “traumatized” vì chứng kiến các tội ác của người Mỹ, họ chỉ một ám ảnh là phải báo thù…

hư ảo

Các câu hỏi đặt ra phần lớn là những “câu hỏi thông minh”, hỏi tức là gợi ý vấn đề, và mục đích là để kiểm tra xem người khác thông minh thế nào. Nhưng cũng có loại câu hỏi đặt ra chỉ để kiểm tra người khác có… bị ngu hay không? Điển hình là cái câu: “làm sao bỏ một con voi vào trong tủ lạnh” nổi tiếng trong ngành CNTT ấy, ngày trước tôi ghét cái câu đó vô cùng, và ghét luôn bất kỳ ai hỏi câu đó! Vì nó không truyền tải bất kỳ một ý tứ hay nghĩa lý nào, chỉ là kiểm tra xem bao nhiêu thằng đủ máy móc để lặp lại câu trả lời: “thì mở cửa tủ ra, bỏ con voi vào”! Nguyên là một kiểu nói đùa, đùa thô đến mức phải tự thọc lét thì mới cười được, vậy mà cũng có những loại thiểu năng đem câu hỏi đó đi kiểm tra IQ.

Nhưng các “sử gia internet” VN thì có vô số dạng câu hỏi ngu như thế, một số trường hợp là… kết nối 2 sự việc chẳng có liên quan gì với nhau, bịa ra tin giả từ… không khí, ví dụ như: Trần Hữu Lượng ở TQ là con của Trần Ích Tắc nhà Trần VN chạy sang! Một số trường hợp nữa, vì mặc cảm nhược tiểu, thua kém nên đã… nói ngược, ví dụ như: Hồ Nguyên Trừng đã đem nghề đúc súng của VN truyền bá vào TQ, được xem là ông tổ nghề đúc súng ở TQ. Một dạng khác là cường điệu thực tế lên cả chục lần, kiểu như bảo nhà Tây Sơn có 9 chiến hạm được trang bị 60 súng đại bác! Các khẩu thần công còn sót lại ở VN chỉ có một số rất ít (đếm trên đầu ngón tay) là súng bắn đạn 24 pound, loại dài đến 3m và nặng khoảng 2.5 tấn.

Tất cả súng này đều đặt ở những vị trí phòng thủ cố định trên bộ. Hiện chưa có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy VN đã đặt được súng nặng từ 1 tấn trở lên trên thuyền, vì di chuyển và điều khiển 1 tấn đó không hề đơn giản chút nào, khi dây thừng tốt còn chưa làm được, và chưa biết cách xài ròng rọc cho rành! Mà súng cỡ 1 tấn là tương đương với loại bắn đạn 9 pound, là loại súng được dùng trên… các tàu buôn châu Âu thời bấy giờ, còn súng trên tàu chiến phải từ 12 pound (khoảng 1.5 tấn) trở lên kia! Phần lớn các súng thần công tìm được ở vùng biển VN cho đến ngày nay là loại 6 pound hay nhỏ hơn, thường chỉ nặng dưới 500~600 kg. Nói cho đúng thì VN lúc bấy giờ còn chưa có Hải quân theo đúng kiểu châu Âu!

Lại càng chưa thể nói về nói những con tàu 60 súng, mỗi súng bắn đạn 24 pound, những loại như thế phải hơn 1000 tấn. Cũng có thể đó là một kiểu “léo lận ngôn từ” trong các giấy tờ, sách vở xưa, khi xem một khẩu pháo tép (swivel gun) nặng cỡ 100kg (hay một khẩu “hỏa hổ” do 2 người vác vai) như “một khẩu súng”, “lập lờ đánh lận con đen” nó với các loại “hải pháo” thật sự nặng nhiều tấn. Rất nhiều người chỉ đọc thông tin trên giấy chứ hoàn toàn không hiểu thực tế nó như thế nào, ví dụ như nói về các con “tàu đồng, tàu bọc đồng”, nhiều người nghĩ về nó như một loại “giáp”, “nồi đồng cối đá”, thực ra lớp bọc đồng này chỉ dày có 1~3mm và bọc từ mực nước trở xuống để bảo vệ gỗ chống lại các loại hà, hàu.

Lớp bọc đồng này hoàn toàn không có tác dụng như lớp giáp bảo vệ tàu trước các loại đạn, những kiểu “tiến sư – giáo sĩ, sử gia – giả sư” này đọc được đúng một từ “bọc đồng” rồi ngồi tưởng tượng ra các loại “thiết giáp hạm”. Dạng thiểu năng này nhiều vô kể, hoàn toàn không hiểu gì thực tế, chỉ “tán láo” mà thôi! Một dạng câu hỏi ngu khác là vẽ ra những điều hư ảo, xàm xí, kiểu như sau chiến tranh Nha phiến thất bại, TQ muốn dựa vào VN để học hỏi công nghệ đóng tàu. Đã đến thời hiện đại rồi, không lừa được ai với những kiểu xàm xí này đâu, cứ ôm mãi những điều hư ảo, không có năng lực thực tế thì rồi cuối cùng cũng chỉ có… “hư ảo” mà thôi! Có bộ phận rất lớn cứ suốt ngày ngồi bịa ra những chuyện như vậy!

Dùng một câu chuyện “tiếu lâm” để mô tả cách người Việt tìm hiểu quá khứ và tự nhận thức về bản thân, nó giống như một khoảng trống hoác vậy! Các nhà khảo cổ Nga, sau một thời gian đào bới, khai quật đã tìm được một cọng dây đồng, họ nghiên cứu kỹ lưỡng và đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Nga đã dùng mạng cáp đồng! Người Mỹ cũng không chịu kém, sau một thời gian đào bới cũng tìm được một mẩu thủy tinh giống hình sợi cáp, họ nghiên cứu chán chê rồi đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Mỹ đã dùng mạng cáp quang! Một số người Việt cũng bắt chước đào bới như vậy, nhưng đào mãi mà không thấy gì, bèn kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên chúng ta đã xài mạng không dây! :D

huyền sử

Tại sao ghi chép thời Nguyễn Ánh – Tây Sơn lại có quá nhiều thứ xàm xí, tào lao như vậy!? Trước hết là vì người Việt không có thói quen làm tài liệu một cách chính xác, còn chính sử của nhà Nguyễn (viết bằng chữ Hán) cũng có những vấn đề của riêng nó. Những gì chúng ta biết bây giờ, đa số là biết thông qua các thư từ, ghi chép của những người Pháp, người phương Tây từng phục vụ cho chúa Nguyễn, mà những ghi chép của họ rất rất có vấn đề. Điểm qua một số người nước ngoài phục vụ trong biên chế chúa Nguyễn: Philippe Vannier: thuyền trưởng, chỉ huy tàu Phụng Phi, nhưng các tài liệu Pháp thì ghi ông ta là… Đô đốc(!!!) Jean-Marie Dayot: đại úy hậu cần, chỉ huy 2 tàu của Chúa, phụ trách vẽ bản đồ và huấn luyện.

Olivier de Puymanel: có lẽ là người quan trọng nhất trong số những người phương Tây phục vụ Chúa, giám sát thi công thành Bát Quái. Jean-Baptiste Chaigneau: thuyền trưởng tàu Long Phi, được phong tước Hầu. Laurent André Barisy: thuyền trưởng, phụ trách mua sắm vũ khí với các nước Nam Á, cũng được phong tước Hầu. Hầu hết những người này được phong chức Chưởng cơ! Nói theo ngôn từ ngày nay thì Chưởng cơ tương đương với cỡ Trung tá, nhưng theo quan chế thời đó, thường chỉ chỉ huy khoảng 500 ~ 600 quân chính quy. Nhưng đó chỉ là danh nghĩa, trên thực tế, những người Pháp này chỉ được giao 50 ~ 100 lính cho có hình thức mà thôi. Về các tước Hầu, đây là vấn đề của thời Gia Long tẩu quốc!

Để tranh thủ sự giúp đỡ của nhiều người, nhà Chúa đã phong Hầu… một cách vô tội vạ, chỉ là những tước Hầu hữu danh vô thực! Phần lớn những người phương Tây hỗ trợ chúa Nguyễn là thuộc loại mà bây giờ chúng ta gọi là những kẻ phiêu lưu, cơ hội – adventurist, như Barisy nhờ được giao phụ trách mua sắm vũ khí nên đã biển thủ, gom góp được một số tiền kha khá. Thư của Barisy kể về quân Tây Sơn như đúng rồi luôn: chúng tôi đã chiến đấu với quân Tây Sơn, họ có 9 tàu loại 60 súng, mỗi tàu 700 lính, 5 tàu loại 50 súng, mỗi tàu 600 lính, 40 tàu loại 16 súng, mỗi tàu 200 lính, etc… và chúng tôi đã chiến thắng! Trận Thị Nại, Barisy chỉ được đứng sau quan sát mà thôi! Dễ dàng nhận thấy ông ta (Barisy) chỉ phét lác!

Nếu cộng các con số của Barisy lại, thì nhà Tây Sơn sẽ có đến… 6 ~ 7 vạn Thủy quân, con số mà ngay cả Hải quân Việt Nam thời giờ cũng chưa có! Ngoài Barisy, nhiều người khác cũng thế, cái đám phiêu lưu đi tìm cơ hội làm giàu này không gì là không dám nói, dù trong số những người Pháp làm việc cho chúa Nguyễn cũng có 1, 2 người không tham lam, gian dối và được Chúa tin tưởng! Vấn đề không dừng lại ở đó, sau nữa, những người Pháp khác, các thừa sai, linh mục, các “nhà nghiên cứu”, các “sử gia” giả danh… đã tìm cách “hợp thức hóa” quá trình Pháp can thiệp vào VN, dùng vô số chiêu thức lộng giả thành chân, các “thuyền trưởng – Chưởng cơ” này đều được phong khống lên thành “Đô đốc – Tướng quân” cả!

Tất cả nằm trong một mưu đồ gieo rắc “sương mù thông tin”, nghi ngờ và thù hận, chia rẽ người Việt, và cũng là một kế hoạch “kêu gọi đầu tư” từ Pháp! Ngay trong chuyện chúa Nguyễn trả thù nhà Tây Sơn một cách vô cùng dã man tàn bạo, có nhiều chi tiết có thể được xem là bịa đặt! Các vị ấy đã “vẽ rắn thêm chân” vô số chuyện hoang đường mà ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra! Rồi sau nữa, nhiều “tri thức” căn cứ vào những ghi chép đó, không biết có suy nghĩ gì không mà lặp lại như vẹt vậy, đẩy sự “vô tri” lên một tầm cao mới! Nếu nói rằng làm cho ngu dốt để dễ cai trị thì người Pháp đã vô cùng thành công! Những ghi chép của giai đoạn này cần phải được đọc với sự phân tích chi li và thận trọng tối đa!

thủy quân, p2

Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hoả mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.
Tùng tùng trống đánh ngũ liên,
Chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa.

Bài toán lớn nhất thời Nguyễn Ánh – Tây Sơn chính là giao thông vận tải. Nước VN có hình dạng dài và hẹp, chủ yếu là các làng mạc dọc theo bờ biển, bị chia cắt mạnh bởi núi non và sông ngòi. Bài toán vận tải thực sự rất nan giải, trong điều kiện ngày xưa không thể xây dựng hệ thống cầu đường xuyên suốt, rộng khắp được. Cứ thử tưởng tượng vận chuyển những khẩu pháo 1, 2 tấn đi hàng ngàn km bằng đường bộ qua đồi núi xem, chuyện không thể làm được! Trong cuộc hành quân Kỷ Dậu – 1789, một giáo sĩ đã kể lại rằng quân Tây Sơn, sau 15 ngày đêm hành quân liên tục, trông như một băng đảng rách rưới, ốm đói, bệnh tật! Nên việc vận tải trong chiến thắng Kỷ Dậu vẫn phải dựa phần lớn vào thuyền!

Trong nhiều thế kỷ, các triều đại VN đều dựa nhiều vào đường thủy, như hệ thống kênh Nhà Lê xây dựng suốt mấy trăm năm. Hay xa hơn, Hưng Đạo vương thắng được quân Nguyên cũng chỉ với cách di chuyển quân bằng thuyền, xích tới xích lui, loanh quanh trong phạm vi không quá lớn của châu thổ sông Hồng, nơi hệ thống sông ngòi rộng khắp khiến cho kỵ binh Nguyên Mông khó vượt qua và không phát huy được sức mạnh! Đến thời Nguyễn Huệ – Nguyễn Ánh, đất nước trãi dài ra như vậy, cả 2 bên đều hiểu rằng phải tổ chức phần lớn quân đội dạng… thủy quân lục chiến! John Barrow trong hồi ký của mình đã dùng chữ “Marine” (chứ không phải “Navy”) là rất đúng khi nói về Thủy quân của chúa Nguyễn..

Những điều này thì một vị vua tài ba như Quang Trung dĩ nhiên hiểu rõ, nhưng tiếc là ông ta… đoản mệnh, qua đời khi mới 40 tuổi, chưa kịp thực hiện các ý tưởng của mình! Mà các tướng lĩnh Tây Sơn không có ai hiểu rõ vai trò của thủy quân, không dự trù được các hình thức tác chiến dựa vào thuyền. Còn một vị vua như Nguyễn Ánh, tuy không tài giỏi bằng, tầm nhìn cũng hạn hẹp hơn, nhưng ông ta đủ thông minh để hiểu rõ cách thức tiến hành chiến tranh, và quan trọng là sống đủ lâu, đủ kiên trì để biến những hiểu biết đó thành chiến thắng! Tình hình phân tranh ở VN trong các thế kỷ 17, 18, 19 giống hệt như các sứ quân – Daimyo đánh nhau ở Nhật Bản, như mô tả trong tiểu thuyết Shogun (James Clavell) vậy.

Nhật cũng là một đất nước toàn đồi núi, việc chuyển quân phần lớn trên bộ, nhưng hậu cần là gần như dựa hoàn toàn vào vận tải biển! Điển hình như sau thủy chiến đầm Thị Nại, Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu rút quân về phía Bắc để hội quân với vua Quang Toản, nhưng phải đi bằng “thượng đạo – đường rừng” chứ không thể đi đường ven biển. Sau khi đã mất thủy quân, mất khả năng cơ động, thì nhà Tây Sơn liên tục rơi vào thế bị động, không có đường thủy thì không thể vận tải quân lính, súng đạn, lương thực thuận tiện được. Và chúa Nguyễn đã nắm thế chủ động khi có thể, chỉ trong vài ngày, đổ bộ quân bất kỳ đâu dọc theo bờ biển để ngăn chặn các tướng Tây Sơn! Sự việc sau đó diễn ra đúng như vậy!

Sau khi đi đường thượng đạo từ Quy Nhơn ra Quảng Nam thì 2 tướng Tây Sơn bị thủy quân nhà Nguyễn đổ bộ, chặn lại ở Hội An. Không còn súng đạn, lương thực, lại buộc phải rút lên theo đường rừng, sang đất Lào ra bắc, đến nơi thì không còn bao nhiêu người! Mất đi quân bài chiến lược, nhà Tây Sơn sụp đổ nhanh chóng trong 2 năm! Từ nhiều ghi chép trong lịch sử, có thể thấy rằng: các thuyền chèo tay – galley là một lực lượng đáng gờm nếu: #1. tập trung đủ số lượng, #2. có các pháo hạm (thuyền mành kiểu TQ hay pháo hạm kiểu Tây phương) hỗ trợ hỏa lực, và #3. tác chiến ven bờ, không đi ra vùng biển xa, và chiến thắng chẳng qua là dùng số lượng lớn, vận động linh hoạt trong không gian không quá rộng!

Lịch sử thời Nguyễn ghi lại nhiều lần thủy quân đã đánh thắng Hải tặc, thậm chí đã có lần hiếm hoi chiến thắng cả hải quân Tây phương, đó là khi có đủ 3 điều kiện này. Ngược lại, các thuyền chèo tay galley này sẽ là “miếng mồi ngon” cho các thuyền mành nếu ra vùng biển mở, có không gian rộng để vận động, vì thuyền mành có pháo lớn, tầm bắn xa hơn! Lịch sử nhà Nguyễn cũng ghi lại nhiều trường hợp, các đội thuyền galley thất bại trước các nhóm hải tặc Quảng Đông, do đi xa bờ và không có súng lớn hỗ trợ. Do đó, không nên ảo tưởng về khả năng tác chiến xa bờ của “Hải quân” Tây Sơn cũng như nhà Nguyễn! Thủy chiến đầm Thị Nại (1801) và cửa Tư Hiền (1802) là những ví dụ rõ ràng về tác chiến đổ bộ ven biển!

Sau khi Nguyễn Huệ qua đời, nhà Tây Sơn đã mắc phải sai lầm chiến lược, đặt phần lớn thủy binh ở đầm Thị Nại, không nắm bắt được sự phát triển vượt trội của thủy quân chúa Nguyễn, không có các hình thức tác chiến chủ động, còn sự hỗ trợ của cướp biển Quảng Đông thì chỉ chừng mực, suy cho cùng họ là lính đánh thuê chứ không phải quân triều đình! Các tay cướp biển Quảng Đông thừa hiểu rằng họ không thể địch lại “hạm đội” thuyền chèo đông đảo của chúa Nguyễn, nhất là khi phải tác chiến trong các vùng đầm phá ven bờ, dù đi xa bờ thì hạm đội của chúa Nguyễn không thể đối chọi lại cái “Liên đoàn cướp biển Quảng Đông” khá là lớn mạnh đó. Có quá nhiều bài báo, tài liệu giật tít rất kêu, “nổ” tận mây xanh!

Nào là người Việt chinh phục đại dương, tự đóng được tàu hơi nước, có nhiều pháo hạm 60 súng, và nhiều sự hoang đường, vĩ cuồng khác! Những tài liệu này đều có câu cú lủng củng, văn viết không thông, ngoại ngữ Anh, Pháp đọc không hiểu, sai vô số chỗ, nhưng vẫn nói như đúng rồi vậy! Tác chiến ven bờ hoàn toàn khác với hải quân “nước xanh” (blue water), loại sau đòi hỏi một trình độ kỹ thuật cao hơn hẳn! Còn cái đầu cơ bản chỉ là một hạm đội đông đảo thuyền chèo tay mà thôi, qua các tài liệu đương thời, có thể nhận định rằng người Việt lúc bấy giờ vẫn còn chưa nắm được hết các kỹ thuật điều khiển buồm, càng không nên nói đến một nền “công nghiệp quốc phòng” đủ khả năng đóng tàu to, súng lớn!

thủy quân, p1

Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai!
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng?

Đọc về Hải quân thời Nguyễn Ánh – Tây Sơn phân tranh, có thông tin về các con tàu đến 50~60 súng, tương đương với chiến hạm hạng 4 (fourth rate ship) ở châu Âu. Tôi cho rằng đây là những thông tin không thực, có thể do chính người Pháp trong cuộc đương thời bịa đặt ra để kích động cuộc chạy đua vũ trang giữa 2 phe, cũng có thể là một kế hoạch “kêu gọi đầu tư” từ Pháp! Vì tàu 50~60 súng là rất lớn, khoảng 1000~1200 tấn, thường có 2 boong (tầng), loại súng lớn đặt ở tầng dưới, loại nhẹ ở trên, đóng những con tàu lớn như vậy rất phức tạp, sợ là với sự giúp đỡ hạn chế của người Pháp đương thời thì chúa Nguyễn không thể làm nổi. Còn cái gọi là “Định Quốc đại hiệu” của Tây Sơn đến 50~60 súng…

Có thể cũng chỉ là những “floating battery”, bè nổi chứa pháo, dùng để phòng ngự ở những vị trí bán cố định, không phải là những con tàu di động thật sự. Qua thông tin từ 2 cuốn hồi ký cùng mang cái tên: “A voyage to Cochinchina”, một của John Barrow, đến VN năm 1800 và một của John White, đến VN năm 1819 thì một bức tranh toàn cảnh hiện ra về Thủy quân lúc đó. Điều đáng nói, 1800 là chỉ 1 năm trước trận thủy chiến đầm Thị Nại, thời điểm có thể ước đoán là thủy quân Nguyễn Ánh đã đạt mức phát triển cao nhất, và 1819, gần 20 năm sau, là chỉ 1 năm trước khi vua Nguyễn Ánh qua đời và các chiến thuyền đã đóng còn chưa mục nát để tác giả John White có thể đến tận nơi quan sát và kể lại.

Dựa trên thông tin của John Barrow, có thể thấy Thủy quân Nguyễn Ánh có tổng cộng 26800 người, thuộc về 4 hạng mục sau: #1. 8000 thủy thủ trên 100 thuyền chèo tay dài 20~30m, mỗi thuyền khoảng 50~80 tay chèo, được trang bị các dạng pháo nhỏ bắn đạn 3~4 pounds (1~2 kg). Đây là loại mà phương Tây gọi là “galley”, thuyền chèo tay tác chiến ven bờ. Chức năng chính yếu của galley là vận chuyển hàng vạn bộ binh! #2. 8000 thủy thủ trên các ghe bầu lớn đóng theo kiểu truyền thống VN, kết hợp giữa buồm và chèo, đây đa số là các thuyền có nhiệm vụ vận tải! Đương nhiên galley và ghe bầu khó có thể đi biển xa, dài ngày được, và cũng rất hạn chế về hỏa lực! Để bù đắp cho sự thiếu hụt hỏa lực này là:

#3. các thuyền mành (junk) kiểu TQ, thủy quân của Chúa Nguyễn có 1600 người trên khoảng 20~30 thuyền mành, mỗi thuyền được trang bị 6~12 khẩu pháo loại bắn đạn 9~12 pounds (4~6 kg). Việc chế tạo các tàu này không quá khó về kỹ thuật, hoặc có thể mua trực tiếp từ người TQ. Và ở lớp trên cùng là: #4. 4 chiến hạm do người Pháp viện trợ (e là những tàu này không đóng tại VN), phối hợp nhiều nguồn thông tin, có thể suy đoán tương đối chính xác rằng 4 tàu này còn chưa đạt đến cỡ chiến hạm hạng 6 (6th rate ship), mỗi chiếc có tải trọng khoảng dưới 300 tấn, được trang bị khoảng dưới 20 súng, thủy thủ đoàn chừng 300 người (tổng cộng 1200 người trên 4 chiếc)!

Như thế có thể thấy, nhà Chúa có một tư duy thực dụng về thủy chiến. Đó không phải là tàu to, súng lớn như mọi người thường nghĩ, mà chỉ là một “hạm đội” các thuyền lớn chèo tay chở bộ binh, làm sao vận chuyển binh lính + hàng hóa đi xa, hàng trăm người chia phiên, thay nhau chèo có thể đi cả trăm km mỗi ngày. Đội tàu này được bổ sung thêm vài chục “pháo hạm” kiểu thuyền mành TQ, và trên cùng của lưới hỏa lực là 4 con tàu kiểu Tây phương, 4 chiếc này chỉ mới được gọi là “sloop-of-war”, còn chưa đạt đến cỡ tàu chiến hạng 6! Ngoài ra nhà Chúa còn có một đội 8000 thợ thủ công đóng thuyền, và dĩ nhiên là các ngành “công nghiệp hỗ trợ” khác như xẻ gỗ, đúc pháo…

Những thông tin này trùng khớp với những gì John White ghi nhận gần 20 năm sau đó khi đến Huế, hàng trăm “chiến thuyền” chèo tay – galley, vài chục thuyền mành kiểu TQ, nhưng tại thời điểm đó, chỉ còn thấy có 2 tàu kiểu Pháp, ngoài ra tác giả John White nhấn mạnh rằng không có dấu hiệu cho thấy có thuyền lớn hơn! Một năm sau thì nhà Vua băng hà, người kế vị chỉ tập trung vào học hành, thi cử, quan chế… bỏ bê võ bị, các con tàu kéo lên bờ, đưa vào trong các căn nhà có mái che, và nằm đó mục nát theo thời gian! Hình dung tổng thể về thủy quân giai đoạn đó như thế, không nên “tán láo” những thứ “hư ảo” kiểu: thuyền chiến 60 súng, 300 pháo hạm, tự đóng tàu hơi nước, hải pháo 24 pounds, etc…

Sử sách các triều đình xưa có cách dùng từ ngữ vô cùng “gian manh”, ví dụ như nói về đội quân 18 ngàn người, 1200 thuyền chiến, 300 pháo hạm, 600 pháo, nói như vậy thì một chiếc “thuyền chiến” chở… 18K/1200=15 người hóa chẳng phải chỉ là một chiếc xuồng nhỏ hay sao? Hay 18K quân mà 600 pháo thì trung bình 30 người có xoay nổi một khẩu pháo nặng 1, 2 tấn hay không, chưa nói đến chuyện vận chuyển khẩu pháo đó đi hàng ngàn km, từ đó suy ra cái gọi là “pháo” đó chẳng qua là những loại hỏa khí vác vai cỡ nhỏ. Suy luận tương tự thì cái gọi là “pháo hạm” đó chẳng qua là một chiếc xuồng có gắn 1, 2 khẩu pháo tép (swivel gun) mà thôi. Nên các mô tả trong sách sử xưa, mới nghe thì có vẻ “đúng” về ngôn từ…

Nhưng thực ra rất sai nếu đặt trong các hệ quy chiếu khác, sợ là so với Cướp biển Quảng Đông còn chưa được chứ chưa nói so với Hải quân phương Tây. Phần đầu của bài viết sơ lược như vậy để nói rằng: cái gọi là Hải quân Tây Sơn, Hải quân Nguyễn Ánh thực chất là lực lượng lính thủy đánh bộ ven bờ, được xây dựng để giải quyết bài toán giao thông vận tải (vận chuyển người và hàng), trong điều kiện nước VN bị chia cắt về địa hình, đường sá kém phát triển, đi lại rất khó khăn và các loại ngựa, xe vận tải rất ít. Phần sau sẽ nói kỹ hơn về cái gọi là hải chiến thời đó, thực chất là những cuộc chiến đổ bộ và chống đổ bộ, diễn ra trong các đầm phá ven biển, không phải là “hải chiến” theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay!

WhangHo junk

Tàu buồm TQ WhangHo, tàu hàng, buôn lậu và cướp biển, được đóng năm 1753 và có một cuộc đời rất dài, đến 162 năm, gồm nhiều hoạt động phong phú. Con tàu đổi chủ nhiều lần, bị cướp qua cướp lại giữa Hải quân Thanh triều và cướp biển Nam Trung Hoa, có giai đoạn tàu phục vụ trong biên chế của khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc, và cuối cùng, đến năm 1913 thì người Mỹ mua xác tàu về trưng bày hội chợ. TQ thế kỷ 18 đã có khả năng đóng những con tàu lên đến 3000 tấn, nên về kích thước, WhangHo không phải là lớn! Một con tàu như thế thường được trang bị khoảng dưới 10 súng, nhỏ và nhanh nhẹn, phù hợp với vai trò… cướp biển! Và phần lớn những con tàu cướp biển của Trịnh Thất, Trịnh Nhất, Trịnh Nhất tẩu…

Trương Bảo, Trần Thiêm Bảo, Mạc Quan Phù, Ô Thạch Nhị, Vương Quý Lợi, v.v… cái “Liên đoàn cướp biển Quảng Đông” này là một lực lượng đáng kể, gồm hàng vạn người, hàng trăm tàu, phần lớn những tàu nhỏ cỡ dưới 300 tấn, trang bị 6~12 súng (loại súng “tiêu chuẩn” lúc bấy giờ là hải pháo nặng khoảng 1 ~ 1.5 tấn, bắn đạn 9 ~ 12 pounds). Khi nhà Thanh dần ổn định phương Nam, các nhóm hải tặc TQ mất địa bàn, mất căn cứ và phải dạt sang Việt Nam. Trên danh nghĩa, họ vẫn mang cái chiêu bài “phản Thanh phục Minh” và được vua Quang Trung thu dụng làm lính đánh thuê, vì các con tàu luôn cần home port – cảng nhà để sửa tàu, cứu người bị thương, cung cấp vật tư hậu cần và… tiêu thụ tài sản cướp được!

Chính sử về mặt này thường tránh nói, hay nếu có nói cũng chỉ nói vô cùng sơ sài, về vai trò của Hải quân chính quy và Hải tặc đánh thuê trong chiến thắng Kỷ Dậu – 1789. Một cuộc hành quân lớn như thế, thần tốc như thế, cả chục vạn quân đi liên tục 15 ngày từ Phú Xuân ra đến Nghệ An, đâu phải chỉ đi có người không, còn phải có lương thực, vũ khí… muốn vận chuyển nhanh một khối lượng lớn vật chất, là bắt buộc phải đi bằng đường biển. Chưa kể các cánh quân vu hồi tấn công bên sườn quân Thanh ở Hải Dương, Lạng Giang chắc chắn phải đi từ biển vào theo ngã sông Hồng, sông Lục Đầu! Lịch sử là như thế, ấy thế mà nay không còn mấy ghi chép, chứng cứ, để cho con cháu suy đoán!

Khi còn nhỏ, đọc những dòng giải thích kiểu: chia quân thành nhóm 3 người, 2 người võng 1 người thay nhau đi và nghỉ, liên tục suốt ngày đêm, ấy thế mà tin sái cổ chứ phải! :D Lớn lên rồi, chỉ cần có chút vận động vật lý là biết những lời giải thích đó nó xàm xí, phản khoa học! Nên “sử gia” xưa thực ra có vô số người cũng chỉ biết “chỉ thượng đàm binh – 纸上谈兵“, hoàn toàn không hiểu các hoạt động thực tế diễn ra thế nào! Đến thời hiện đại rồi, cần lắm những cách giải thích khoa học, để cho mọi người hiểu rõ những yếu tố kỹ thuật, công nghệ nền tảng bên dưới! Hiểu để biết rằng trong tất cả các vận động lịch sử, bên cạnh yếu tố quan trọng là con người, thì kinh tế, vật chất và khoa học kỹ thuật vẫn là quyết định!

địa đạo

Đây là một trong số rất ít những phim mình ra rạp xem đàng hoàng, phim đầu tiên là “Hà Nội trong mắt ai”, phát hành 1983… ah, mà đó là chuyện của 40 năm trước! Nhìn chung với một phim Việt Nam thì Địa đạo rất ổn, từ các cảnh quay, ánh sáng, màu sắc cho đến hiệu ứng khói lửa, bom nổ, đường đạn bay… đều rất thực và đẹp mắt. Câu chuyện kể lại trong phim hoàn toàn là sự thật lịch sử, được nói rõ trong phần giới thiệu, nhóm điệp báo H.63 của Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) và Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) trong nhiều năm, sử dụng nhiều couriers – liên lạc viên để chạy mật thư từ Sài Gòn ra Củ Chi, từ đây mật thư sẽ được gởi qua sóng radio ra Hà Nội.

Một nguồn phát sóng radio hiện diện suốt nhiều năm liền tại Củ Chi như một cái gai trong mắt người Mỹ và họ sẽ làm mọi cách để nhổ cái gai đó! Như Nguyễn Văn Thương, một liên lạc viên thường xuyên chạy xe Honda giữa SG và Củ Chi, một hôm bị người Mỹ phát hiện và theo dõi! Viên phi công trực thăng vì nôn nóng muốn đổ quân xuống bắt sống nên đã phạm phải một sai lầm chết người, hạ thấp trực thăng xuống sát mặt lộ, từ khoảng cách rất gần, Hai Thương nổ liền 2 phát súng ngắn hạ trực thăng rơi! Không hiểu sao chi tiết đắt giá như vậy lại không đưa vào phim, có lẽ vì số phận Hai Thương là một câu chuyện bi thảm khác!

Tình huống cảm động nhất trong phim theo mình là chuyện Út Khờ mang thai, nhưng chưa rõ ai là cha. Trước tình huống như thế, đội du kích đã quyết định tổ chức… một đám cưới giả giữa Út Khờ với… đội trưởng Bảy Theo! Một cái đám cưới giả được quyết định và tổ chức thành công sau… 5 giây, có cả hoa, cả bánh! Đã có người đứng ra “nhận trách nhiệm”, trước sự việc đã rồi, cấp trên không thể nói gì hơn được và theo thông lệ, phải rút Út Khờ ra khỏi vùng giao chiến, như thế hai mẹ con cô ấy sẽ có cơ hội sống! Đó chính là tâm tư, tình cảm của những người du kích, họ không có chức vụ, cấp bậc gì để mất và sẵn sàng bao che đồng đội như vậy!

Chuyện nhiều “giang cư mận” phê phán cảnh nóng trong phim, nói như đúng rồi luôn. Nếu đã xem phim thì sẽ thấy mấy cái “cảnh nóng” đó chỉ mang tính ước lệ, tượng trưng mà thôi, còn chưa lộ chút da thịt nào. Nếu là đơn vị quân đội chính quy thì chắc chắn sẽ có vài án kỷ luật từ trên rơi xuống. Nhưng đây là du kích, các căn hầm đào ngay dưới nhà của họ, hàng ngày họ vẫn chui lên trồng rau, nuôi gà, v.v.. đó chính là cuộc sống thường ngày của họ, nếu không thì rất nhiều những đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh ở Củ Chi từ đâu mà chui ra!? Nên kiểu có nhiều người không hiểu gì về thực tế lịch sử nhưng vẫn cứ ưa tìm chuyện nói ra nói vào!

Những lời thoại trong phim có nhiều chỗ khá đạt, như đoạn một cô du kích, bị ép tập các bài võ cận chiến với dao găm quá nhiều đã than thở vì mệt: tụi em chỉ là du kích thôi, đâu có phải bộ đội đặc công đâu mà… Đội trưởng Bảy Theo quát: mày đi nói chuyện đó với tụi Mỹ á, có khi nó còn gắn cho mày huy chương! :D Cái băn khoăn xuyên suốt bộ phim của người anh cả, đội trưởng luôn là: tụi nó còn nhỏ quá, còn “xanh” quá, sợ “chơi không lại tụi Mỹ”. Tuy phần phụ đề tiếng Anh không tệ, nhưng vẫn phải nói là chưa thực sự được như ý tôi, chưa tìm được cách truyền đạt tốt sắc thái ý nghĩa của lời thoại gốc, nhiều chỗ vẫn kiểu… dịch cho có!

Mình thuộc dạng coi phim vô cùng lý tính và xét nét, nên không khó nhận ra một vài chỗ còn chưa được hợp lý hay có chút khiên cưỡng trong phim. Và những chỗ sai về vật lý đương nhiên nhìn ra khá nhiều, như cách nấu thuốc nổ dẻo (plastic explosive) trong phim thì hầu như chắc chắn là nó sẽ nổ, cuối phim có chiếu lại một đoạn tài liệu đen trắng cũ, chính trong đoạn phim tài liệu đó lại thể hiện cách thức tương đối đúng! Nhưng tóm lại đây là một phim rất đáng xem, dù các cảnh quay có hơi “rubato” (thuật ngữ âm nhạc), nói một cách gần đúng là nhịp độ không được chuẩn, các tình huống thắt nút, cao trào lý ra vẫn có thể làm cho hấp dẫn hơn!

Về chi tiết cuối phim, một người lính Mỹ trong đội quân “chuột chũi” chui vào trong địa đạo, bị thương và được cứu sống, cho nằm trên chiếc bè ven sông, nhiều người cho rằng chi tiết này “nhân văn” nhưng hơi “cường điệu”. Theo tôi thì, không có gì là “cường điệu”, thậm chí cũng chẳng có gì là “nhân văn” trong tình huống này, đó chỉ là sự thật thực dụng của chiến tranh. Nên nhớ một tù binh Mỹ còn sống dù thế nào cũng là một “tài sản đáng giá”, có thể dùng để “trao đổi” khá nhiều thứ, kể cả các quân nhân Việt Nam bị phía Mỹ bắt. Thế nên phía Việt Nam nhiều khi phải rất cố gắng để giữ cho tù binh còn sống để có thể làm món hàng trao đổi!

Trong thời gian 15 năm, từ 1961 đến 1975, chỉ riêng mạng lưới điệp báo H.63 đã sử dụng khoảng 45 couriers – liên lạc viên để truyền tin, 27 người trong số đó bị bắt, tra tấn… nhưng không một ai khai ra điều gì, mạng lưới vẫn đứng vững và thông tin vẫn không ngừng tuôn chảy. Nếu tính rộng ra cả số du kích, bộ đội đã hy sinh khi tham gia bảo vệ đường dây thông tin này, trực tiếp hay gián tiếp, thì có khi thiệt hại là không đo đếm được! Nên phim chỉ là một lát cắt nhỏ, chỉ vài tuần trên một dòng chảy thời gian nhiều chục năm, chỉ một vài khoảnh khắc đại diện, ngắn gọn cho thấy cha ông chúng ta đã sống, đã chiến đấu chống ngoại xâm như thế nào!

tinh thần bất ổn

Tinh thần bất ổn, một trăm năm trước, Phạm Quỳnh đã viết một bài như vậy, nguyên văn bằng tiếng Pháp, đã được dịch đăng trên tạp chí tiasang.com.vn năm 2008. Thực ra, chẳng cần phải là học giả hay là nhà văn hóa gì gì mới có thể nhận thức về thực trạng xã hội như vậy! Như cá nhân tôi, phải sau 30, 35 tuổi, khi đã trãi qua một số biến cố nho nhỏ trong cuộc đời, cũng mới có thời gian suy ngẫm để nhìn lại cho rõ… Và thế rồi, một trăm năm sau, cái “tinh thần bất ổn” đó đã được khuếch đại lên, đã trở thành những kiểu… “tâm địa bất ổn”!

Không chỉ là sự bất ổn đã biến thành những vụ án mạng gây rúng động dư luận, mà còn là vô số những sự bất ổn nho nhỏ, thường trực, có thể quan sát thấy hàng ngày với một số lượng rất lớn những người xung quanh! Thậm chí có những loại bất ổn đã được “ngụy trang, nhân danh” một cách khéo léo, đã trở thành những kiểu lưu manh có tổ chức bài bản. Khi “cái tôi” ích kỷ, manh động, dốt nát đã bị đẩy đến giới hạn cùng cực, gây ra vô số vấn đề xã hội nan giải. Người Việt chúng ta bất ổn, hay có một bộ phận lớn là như vậy.

tiasang.com.vn – Tinh thần bất ổn

Sự bất ổn trong tính cách, trong đạo đức cá nhân, trong suy nghĩ, hành xử và trách nhiệm! Nói “không chịu lớn” vẫn là một cách nói nhẹ nhàng, thậm chí là đã nói giảm, nói tránh đi rất nhiều. Thực chất, đó là những bất ổn nội tâm, sự xung đột không định hình được các thang giá trị, sự tự mâu thuẫn đến mức độ “đa nhân cách”, đó là những “cái tôi” lưu manh lặt vặt đã đến mức méo mó, bệnh hoạn! Thật “may mắn” khi sinh ra trong bối cảnh như vậy, mới cỡ 40 có dư mà đã “nhìn thấu hồng trần – khán phá hồng trần – 看破红尘” rồi!?

điệp báo

Xem các phim Trung Quốc xoay quanh chủ đề “Dân quốc” thấy có rất nhiều phim hấp dẫn, đây là giai đoạn có nhiều sử liệu để có thể làm phim hay! Nam – Bắc phân chia, Quốc – Cộng tranh đấu, cuộc chiến thông tin, gián điệp và phản gián. Phim Việt Nam trong mảng này khá ít, và chưa khai thác được hết sự sống động của lịch sử, mà lịch sử Việt Nam giai đoạn này lại vô cùng sống động, nhiều sự kiện, biến cố khốc liệt, nhiều chuyện nằm ngoài sức tưởng tượng của nhiều người! Thế nhưng vẫn do kiểu suy nghĩ cũ, hay vì những lý do khác nào đó, mà lại tránh nói tới, tránh đề cập sâu, không lột tả hết được sự biến động phức tạp của thời cuộc!

Những điệp viên bị bắt, cột đá thả sông, những cậu bé bán báo, đánh giày làm trinh sát cho Biệt động thành! Hay một tình huống vô cùng hy hữu, một giao liên bắn rơi trực thăng bằng… 2 phát súng ngắn, những điệp báo viên đánh ma-níp gởi vô tuyến điện nhưng không biết chữ, vì điện đã được mã hóa thành các con số, chỉ cần học đủ 10 chữ số với một ít mã Morse là làm được! Cả những tình huống trớ trêu, điệp viên vào vai thầy giáo dạy toán, nhưng đưa bài toán cấp 2 không giải được, hay dùng căn cước giả qua trạm kiểm soát bị phát hiện nhưng lại được thả: về làm lại giấy đi, giấy kiểu này đi chỉ có chết! :D Tất cả đều là sự thật lịch sử!

catamaran, 1

Hai thân thuyền: đều dài khoảng 16m, một rộng 1.95m và một rộng 2.05m, nhưng đây chỉ là số đo sau khi đã bị vùi lấp và biến đổi theo thời gian! Từ quan điểm của một người có kinh nghiệm đóng xuồng, với độ sâu đáy đến 1.8m và mạn thuyền dốc như vậy thì độ ổn định sẽ rất thấp nếu đứng riêng lẻ. Hơn nữa tỷ lệ rộng / dài lên đến 1/8, dài khá là bất thường, lại có dấu vết đấu nối ở 2 mũi thuyền. Tổng hợp chừng đó thông tin lại, ta có thể khẳng định hầu như chắc chắn…

Đây là 2 thân của một chiếc catamaran, được liên kết lại với nhau để bảo đảm độ ổn định tổng thể! Nếu có một chiếc buồm càng cua – crab-claw sail nữa thì sẽ có thêm bằng chứng Vịt tộc thực sự có một phần nguồn gốc Austronesian, tộc người đi khắp Thái Bình Dương với đặc trưng là thuyền nhiều thân và buồm càng cua! Phần còn lại, các bạn có thể tự tưởng tượng ra, chàng Lạc Long Quân cao – to – đen – hôi đã gặp nàng bạch – phú – mỹ Âu Cơ như thế nào nhé! :D

công phu “đá bèo”

Trước làm việc và quen một ku người Pháp, thỉnh thoảng vẫn trao đổi với nó, bằng cái loại tiếng Pháp “école primaire – tiểu học” han gỉ vì đã lâu không xài đến của mình! Như khi bắt đầu một mối tiếp xúc thì cả hai bên đều có những thao tác rào đón, khách sáo, đãi bôi nhất định. “Mày biết không, người Pháp chúng tao có một cái rất dở, là đi đến đâu thì đều phá đến đó, chỉ có ăn hại, phá nát chứ không làm được gì, từ Việt Nam cho đến Algeria…” Đương nhiên mình hiểu đây là những câu xã giao, nhưng nghĩ lại, e cũng là một cách diễn đạt rất là lắt léo, xỏ xiên… Trở lại với việc học ngoại ngữ, cũng như 2000 năm trước tổ tiên chúng ta học chữ Hán vậy…

Đọc được vài cuốn kiểu Kinh dịch, Hoàng đế nội kinh, blabla, vội cho đó là chân lý, rồi bắt đầu “Âm dương, ngũ hành, kim mộc thủy hỏa thổ”, dùng cái loại “huyền học” đó đi lòe bịp người. Chỉ mới đọc ABC như thế chứ đâu hiểu rằng, từ hàng trăm năm trước, người TQ đã biên soạn những bộ sách như Cổ kim đồ thư tập thành, 10 ngàn quyển, 100 triệu chữ, hay Vĩnh Lạc đại điển, 11 ngàn tập, 50 triệu chữ, nhiều gấp 3, 4 lần nội dung Wikipedia hiện đại (!!!), bao quát vô số vấn đề từ thiên văn, địa lý, sinh học, kinh tế, võ bị… Học tiếng Anh như hiện tại thì cũng như 2000 năm trước học chữ Hán thôi, kiểu công phu “đá bèo” này không biết rồi sẽ đi về đâu?!

bình xuyên, bình khang

Không sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, tôi không có những ký ức đẹp đẽ như nhiều tác giả đã và đang viết, ca ngợi, đánh bóng, tô hồng, cố tình tạo ra một cái tâm trạng nào là “hoài cổ”, nào là “vang bóng một thời”… và cũng rất thường khi vẽ nên những điều không thật. “Ký ức” của tôi về vùng đất này có được là do tìm hiểu lịch sử, mà theo lịch sử thì.. mới chỉ gần đây thôi, một thời còn chưa xa lắm, vùng đất này được biết đến chủ yếu nhờ 2 cái địa danh lừng lẫy mang chữ Bình: một là Bình Xuyên và hai là Bình Khang!

Bình Xuyên là khu giang hồ, trộm cướp khét tiếng, cướp cạn, cướp sông, bảo kê bến xe, sòng bạc… và Bình Khang là khu nhà thổ, đĩ điếm, cả hai phải nói là đều đã đạt đến quy mô… đại công nghiệp với hàng mấy chục ngàn “lao động”! Ối, thế thì khác nào bảo: “trai giang hồ, gái làng chơi”, nói thế có phải là vỗ mặt phũ phàng không?! Đôi khi cứ phải nói thẳng ra như thế, để tự nhận ra mặt bằng văn hóa chung đang ở đâu, dân trí đang ở mức nào so với người khác, chứ bốc thơm, hoang tưởng mãi không ổn chút nào!

gopro13

Con GoPro13 được bỏ trong hộp chống nước, nhưng giữa biển mà thay pin là rất khó, sơ sảy một chút dính tí nước biển vào là có chuyện ngay! Nên đã cải tiến để chạy GoPro trực tiếp từ nguồn 12V có sẵn trên xuồng. Đầu tiên là cần có một cục “biến áp” từ 12V xuống 5V-3A nhỏ bằng ngón chân cái. Sau đó là cập nhật lên firmware “GoPro Lab” (có nhiều tính năng phức tạp mà firmware chính hãng không hỗ trợ). Cứ bật nguồn là con cam tự khởi động, tự quay, tắt nguồn dĩ nhiên là dừng quay (dừng đột ngột nên có thể mất vài khung hình cuối). Cáp nguồn được nối bằng connector chống thấm nước, chỉ 2 dây âm – dương cấp nguồn qua cổng USB-C!

Nhưng con GoPro13 rất là kén, nếu nguồn không đủ 2.5A là nó không chịu khởi động, mà cổng USB 2 dây âm – dương chỉ cấp nguồn cơ bản, tối đa 1A. Lò mò tìm hiểu một chút, hàn thêm 2 con điện trở 5.1K – 1% vào 2 chân CC1 và CC2 nối với dây âm (GND), đây là tín hiệu để cho cổng USB-C biết có thể lấy thêm dòng! Nếu có 2 con điện trở này sẽ cấp dòng lên đủ 3A để con cam hoạt động được mà không cần gắn pin! Như thế, thay vì phải đem theo lỉnh kỉnh rất nhiều pin và thay pin giữa chừng, thì với cục nguồn 12V – 20 Amph đã có sẵn, có thể quay hàng vài chục tiếng, chỉ cần bật công tắc (từ) là quay, tắt là dừng, rất tiện lợi và nhanh chóng! :)

từ nguyên: ấn loát

In ấn, đã in sao lại còn ấn? Thực chất “in” là âm hiện đại của “ – âm Hán Việt: ấn”, cả hai chỉ là một chữ mà thôi. Kỹ thuật in đầu tiên chính là khắc gỗ, về hình thức, không khác gì với ấn – triện, như thế có thể xác định là khi kỹ thuật in truyền vào VN thì âm của nó đã là “in” chứ không còn là “ấn” nữa. Tiếng Việt có rất nhiều trường hợp như thế, chỉ một chữ viết nhưng âm có nhiều hơn một, do du nhập vào VN tại nhiều thời điểm khác nhau!

Còn ấn loát – 印刷, loát là cái bàn chải, động từ nghĩa là lau, xoa… Dùng chữ “ấn loát” vì ngày xưa khi in mộc bản, thạch bản, họ dùng cái bàn chải/cọ lớn để xoa, vỗ lên mặt giấy cho mực ăn đều! Vậy tại sao là “ấn loát” mà không phải là “in loát”!? Hình: lấy từ cuốn “Giới tử viên họa phổ”, một công trình đồ sộ nhiều tập, xuất bản năm 1679, in mộc bản 5 màu, được xem là cẩm nang lý luận và thực hành mà tất cả họa gia (cổ điển) TQ phải học!

sở hữu yếu

Xem phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc thấy được vài điều… Điều gì khiến cho triều Thanh trở nên mạnh mẽ, chiếm được “thiên hạ” và hoàn toàn khác biệt so với các triều đại khác của TQ? Nếu chỉ xem lướt lướt các phim thì có vẻ như triều đại phong kiến nào cũng giống nhau! Nhưng thực ra, so với thể chế chính trị cực kỳ hủ bại và tàn ác của triều Minh trước đó, thì triều Thanh “ngoại tộc” thực sự có những yếu tố mới mẻ và lấy được lòng dân! Ít nhất là ở giai đoạn đầu, yếu tố cơ bản khiến Thanh triều khác biệt chính là cái mà tôi gọi là “quyền sở hữu yếu” của nó.

Nhưng như thế nào là “quyền sở hữu yếu”!? Đầu tiên, vì gốc gác là dân tộc du mục, người Mãn không có khái niệm sở hữu đất đai, không phân phong cho ai quyền cai quản đất đai vĩnh viễn. Nên dùng chữ “phong kiến” ở đây chỉ đúng một nữa, vì tuy có “phong vị” nhưng lại không có “kiến địa”. Xã hội Mãn châu nguyên thủy được tổ chức thành các đơn vị cơ bản, một mô hình dân – quân hợp nhất gọi là “Tá lĩnh”, mỗi Tá lĩnh bao gồm khoảng 300 chiến binh cùng với gia đình, vợ con, cha mẹ của họ. Toàn Thanh triều lúc cực thịnh có tổng cộng khoảng 664 Tá lĩnh.

Một người có thể được giao cho quản lý một hoặc nhiều Tá lĩnh, tùy theo địa vị, công trạng, nhưng quyền quản lý này có thể bị thu hồi thông qua quyết định của một hội đồng, hay qua mệnh lệnh trực tiếp từ Khả Hãn. Việc thế tập (cha truyền con nối) là phổ biến, nhưng không phải là hiển nhiên, các thế hệ sau muốn duy trì quyền kiểm soát này thì phải cố gắng tạo dựng công trạng! Như xem trong các phim cổ trang thì các Kỳ nhân đều xưng hô với Kỳ chủ là “nô tài” này nọ, thực chất đó chỉ là khiêm xưng, bản thân Kỳ nhân hoàn toàn không phải là nô tài, nô tì.

Họ là những lương nhân tự do, chỉ bị ràng buộc với Chủ từ qua các quan hệ lao động. Những Kỳ nhân này làm việc cho Chủ tử theo những chế độ lương, thưởng được quy định rõ ràng! Và các Kỳ nhân cũng được luật pháp bảo vệ, Chủ tử không thể giết hại họ tùy ý được! Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra, và nếu xảy ra thì Chủ tử sẽ bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc! Như thế, “sở hữu” một Tá lĩnh thực chất không phải là quyền sở hữu đất đai, cũng không phải là quyền sở hữu con người (nông nô, nô lệ), mà gần như chỉ là quyền “quản lý” tài sản và lao động!

Luật pháp Thanh triều quy định phân biệt rõ ràng giữa tài sản riêng và tài sản chung. Như xem trong các phim cung đấu thì khi một phi tần được sủng ái, họ sẽ được ban cho cung điện, châu báu, tài sản, người hầu hạ này nọ. Nhìn thì có vẻ xông xênh, ra ngoài được khiêng kiệu, che lọng, tiền hô hậu ủng, nhưng tất cả những “tài sản” đó đều chỉ là… cho mượn, khi bị giáng vị, thăng vị, huyền vị… thì toàn bộ đều phải trả lại! Thế nên mới có tình huống hoàng đế, vì sủng ái một vị thê tử nào đó, mới xuất tiền túi ra cho riêng, để vị nương nương này có chỗ dựa khi về già!

Quý tộc thế tập thời Thanh, dù vẫn là cha truyền con nối, nhưng đa số là “Thế tập đệ giáng”: qua một đời thì giáng xuống một cấp, như Trấn quốc công thì giáng thành Phụ quốc công, và cứ thế tiếp tục, điều này giúp làm giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Vì quyền thừa kế không phải là nguyên vẹn và vĩnh viễn, nên con cháu đời sau vẫn phải cố gắng nếu muốn duy trì gia tộc hưng thịnh! Những điều này dần thay đổi khi Mãn tộc chung sống và bị đồng hóa bởi người Hán, nhưng ít nhất ở giai đoạn đầu, “sở hữu yếu – không có gì là vĩnh viễn” là ưu điểm rất lớn của thể chế!

xuân vận, p2

Xuân vận – 春运 – vận động nhẹ nhàng ngày xuân… Con người mình yếu nhất là mặt kỷ luật, rất dễ bị xao nhãng bởi vô số lý do! Lại thêm công việc kiểu… thời gian cao su, không hạn định lúc bắt đầu, kết thúc, chỉ cần thức khuya vài tiếng là hôm sau dậy trễ. Mà cái này trễ sẽ kéo theo cái khác trễ, hiện tại mới tập ở mức mỗi ngày 2 tiếng, đã liên tục được hơn 2 tháng, nếu tăng lên nữa không biết có giữ được nhịp độ không?!

Gym – corner, góc tập gym đã đầy đủ thiết bị, máy móc, tập xong phải dựng máy lên xếp vô góc tường cho nó bớt chiếm diện tích! Thực ra bao nhiêu đó là quá đủ rồi, chỉ sợ là không giữ được lịch trình thôi! Thời tiết năm nay khác hẳn mọi năm, đã qua tiết Nguyên tiêu rồi mà thời khí vẫn còn khá mát, tập không thấy mệt. Mùa xuân trở lại, lòng người cũng đổi mới, gặp ai cũng muốn nói: “Chào em nhé, nụ cười tươi thế…” :)

gà và thóc

Nếu nghĩ kỹ sẽ thấy các hệ thống trí tuệ nhân tạo – AI có một khuôn mặt “nhị trùng” ẩn kín đằng sau. Như nhân viên các công ty VN, rồi cả các quan chức chính phủ, vì “trí năng hữu hạn”, nên hở cái gì cũng lên hỏi ChatGPT, khác nào nói cho người ta biết mình đang suy nghĩ, dự tính những gì!? Rồi các bí mật kinh doanh, những kế hoạch hành động, vì “năng lực suy nghĩ có hạn” nên cứ “thoải mái tâm sự” với ChatGPT hết, khác nào vạch áo cho người xem lưng!? Tung hô vạn năng, vạn tuế, không khéo lại là một chiêu bịp, tưởng mình là khách hàng, hóa ra chỉ là món hàng, ai là gà, ai là thóc!? Gì chứ những loại suy nghĩ vấn đề logic nhỏ không được, viết câu đơn giản không thông, “tâm” lúc nào cũng đầy “nhiễu sự”, những loại đó nhiều vô kể, không hiểu giáo dục thế nào lại tạo ra những kiểu như thế!

Bên trong không tự vận động được, nên tự biến mình thành công cụ của AI. Hiện còn quá sớm để nhận định về DeepSeek, mới là một chiêu “nhá hàng”, “ta đây cũng làm được nhé!” Nhưng để đối lại với sự độc quyền, bảo hộ thì cũng chỉ có cách dùng “open source” như thế! Mã nguồn mở, an toàn, giá thành rẻ, những phương thức vô cùng XHCN nhé! Chưa gì Hoa Kỳ đã cấm nhân viên, nhất là ở BQP sử dụng DeepSeek vì lo ngại về “an ninh quốc gia”, hơn ai hết, họ hiểu rõ bản chất loại công cụ đó, vì họ là người nghĩ ra đầu tiên mà! Suy cho cùng, chỉ bằng cách nâng cao năng lực vận động tư duy của bản thân thì mới thoát được những cái bẫy “phản khách vi chủ – 反客为主” như thế!

Từ một góc nhìn sâu xa hơn, diễn đạt theo một cách khá là “Phật giáo”, thì người ta ngộ ra sự thay đổi nhân quả từ trong tính “không”, không ai đi tìm chân lý trong sự “có”, nhất là một cái “có – làm sẵn, ăn ngay” như vậy! :D Về lâu dài, “giá rẻ” sẽ không còn mang hàm nghĩa “chất lượng thấp” nữa, mà sẽ mang ý nghĩa “hiệu quả cao”! Còn các định chế bảo hộ, độc quyền sẽ chết dần vì luôn tìm cách “nâng giá”, và trong cái nỗ lực “làm giá” đó, vô hình chung đánh mất đi tính hiệu quả, nếu không muốn nói, trong nhiều trường hợp là “tạo khống giá trị”, “tạo ra quá nhiều bánh vẽ”. Đương nhiên cái gọi là “giá rẻ” này không phải ai cũng làm được, vẫn phải là “dân trí” cao! Một xã hội vận hành hiệu quả không chỉ dựa trên chất lượng con người, mà sâu xa hơn, là làm sao đào luyện, khống chế được cái “tâm” con người, bằng văn hóa, giáo dục, bằng luật pháp!

Suy cho cùng, với hàng tỷ con người đang sinh sôi, và với tài nguyên ngày càng cạn kiệt, thì ai tối ưu, hiệu quả hơn thì sẽ có cơ hội sinh tồn tốt hơn! Nên một mặt, phương Tây vẫn đang dẫn đầu với xu hướng “tự do, khai phá”, luôn luôn thử nghiệm, tìm kiếm ý tưởng mới của họ! Nhưng mặt khác, việc giải quyết vấn đề sinh kế cho nhiều tỷ con người chen chúc trong cái vòng tròn Valeriepieris đó vẫn phải cần có một cách tiếp cận “down – to – earth”, làm sao thực tế và hiệu quả nhất, chứ ăn “bánh vẽ” mãi thì chỉ có… “cạp đất…”! Và cứ như thế, chỉ đến khi nào xử lý được cái “tâm” của con người thì cuộc cách mạng mới được xem là hoàn tất!