cổ nhạc

Trích đoạn “đẹp nhất, hay nhất” trong Hoàn Châu cách cách đám cưới của Hạ Tử Vy và Tiểu Yến Tứ, xem đi xem lại hàng trăm lần ko biết chán! Chính là từ phút 1:20 đến phút 2:20, một điệu múa và một điệu nhạc cổ, các cô nương áo hồng, vũ đạo trên nền nhạc kèn & trống.

Tuy chưa truy ra đc nguồn gốc của nhạc & vũ này, cảm thấy có đôi phần đã “cải biên, hiện đại hoá”, nhưng có thể nhận định phần lớn là “nguyên bản”! Film truyền hình dĩ nhiên không thể “chất lượng” như film điện ảnh, nhưng thi thoảng vẫn nhặt ra được vài “viên ngọc” từ kho tàng văn hoá cổ!

“trần” thời minh nguyệt

Hình chụp trong một quán cafe cũ kỹ, gần như là đồng nát, thị trấn Sao Đỏ, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, 2017, một đêm không gian u ám, tối tăm: “Trần” thời minh nguyệt “Lý” thời quan, Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn… Vẫn (còn đây) là vầng trăng sáng đời Trần, vẫn còn đây là miền quan ải thời Lý, mà người chinh nhân vạn dặm đi vẫn chưa thấy về…

王昌齡 – 出塞

秦時明月漢時關
萬里長征人未還
但使龍城飛將在
不教胡馬渡陰山

bộ bộ kinh tâm

Bữa xem 1 trích đoạn “Bộ bộ kinh tâm” – thường ko thích ngôn tình, kiếm hiệp, những thi thoảng vẫn xem để “học chữ”. 2 chị em Nhược Lan, Nhược Hy nhận được thư nhà, ngồi chờ viên thái giám đến đọc thư giúp. Xem đến đây lấy làm lạ, vì phụ nữ quý tộc xưa, tuy ko “thông kim bác cổ” như các trang nam nhi “luận bàn chính sự”, nhưng học vấn cũng ko phải là tầm thường, đều có ít nhất mười mấy năm học chữ. Cổ văn, Đường thi, Tống từ… thảy đều thông thạo, làm sao có chuyện ko đọc được thư nhà!?

Mở thư ra mới biết chữ viết lối bán thảo, học 10 năm cũng chưa chắc đã đọc được (tôi cũng ko đọc được, vậy mà biết có người ở làng Đường Lâm, Hà Nội, mới học 3 năm đã đọc / viết thảo thư thông thạo). Như nhân vật chính Nhược Hy trong phim tự nói về bản thân: ta ở thời hiện đại dù sao cũng có 16 năm đèn sách, chữ nghĩa, thế mà “xuyên không” quay ngược về quá khứ, lại trở nên người nửa mù chữ! Cái sự học ngày xưa cực kỳ khó khăn, học 10, 15 năm vẫn chưa biết gì, từng câu, từng chữ, thảy đều có ý nghĩa thâm sâu.

Không như “quốc ngữ” ngày nay, ngu lắm chỉ 6 tháng là có thể đọc viết tương đối. Vì dể dàng như thế nên trên đường dài, hại nhiều hơn lợi! Đây là vấn đề rất lớn của tiếng Việt: ngôn từ cạn cợt, ngữ pháp lỏng lẻo, nội dung ít ỏi… sinh ra nhiều người với “lổ hổng tư duy”. Từ những năm 20 tuổi, bằng cách so sánh ngôn ngữ học (comparative linguistics), đem cách suy nghĩ, hành văn trong tiếng Anh, Pháp, Hoa… đối chiếu vào tiếng Việt, tôi có thể phát hiện nhiều “lổ hổng tư duy” trong nhiều người nói chuyện với mình.

Những lỗi tư duy đó khiến cho người Việt rất dể bị xúi giục, lừa gạt. Đáng tiếc lỗi có tính chất cố hữu nên phần lớn không tự nhận ra. Cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng XH Việt như ngày nay, không thể tự phản tỉnh để biết mình thiếu chỗ nào. Chưa kể đến vô vàn những thể loại “tỉnh để chi oa”, vì đã ngồi đáy giếng, không muốn xem trời bằng vung cũng không được! Sâu xa hơn, ngôn ngữ ko phải chỉ là cái vỏ của tư duy, nó hàm chứa trong đó nhân sinh quan và thế giới quan của một con người, một dân tộc…

điện ảnh

Căn bản, cách làm phim của Trung Hoa đại lục và Hồng Kông, Đài Loan rất khác nhau. Với Đài Loan, HK, diễn viên thường được chọn từ các cuộc thi sắc đẹp, dĩ nhiên là có ngoại hình. Còn ở Đại lục, đa số diễn viên, nhất là các thế hệ đầu, và đến tận bây giờ, thường chọn ở các đoàn ca kịch: Kinh kịch, Bình kịch, Xuyên kịch, Tương kịch… Các thể loại Kịch đại lục có bề dày lịch sử lâu đời, công phu đáng nể, diễn viên không chỉ học diễn xuất, mà còn học vũ đạo, võ thuật, nhiều trò tạp kỹ, và nhất là văn thơ cổ. Nên về ấn tượng ngoại hình, trang phục thì HK, Đài Loan có thể có chút ưu thế, nhưng về chiều sâu văn hoá, tâm lý, thì không thể qua mặt Đại lục.

Thế nên mới có chuyện “diễn vai nào là chết vai đó”, nhiều diễn viên cả đời chỉ đóng một vai: Hoàng hậu (độc ác), Hoàng thượng (lăng nhăng), Phi tần (hiền từ), Hoàng thái hậu (ba phải), Công chúa (nghịch ngợm), etc… Đó là mô thức truyền thống của Kịch nghệ, vốn đã chuyên sâu như thế, có giỏi đến đâu cũng khó lòng vượt qua. Làm phim hiện đại căn bản là nhiều chiêu trò nhảm nhí để lôi kéo khán giả. Nhưng đại lục làm phim, luôn luôn lồng ghép trong đó nhiều văn hoá cổ, phải là người dụng tâm tinh tế mới nhận ra và thưởng thức được, đôi khi là những chi tiết rất nhỏ, ví dụ như nghệ thuật cắt giấy trang trí cổ truyền TQ trong hình dưới đây.

ban chỉ

班指

Xem phim kiếm hiệp, cổ trang thường thấy một loại nhẫn khá lớn, đeo ở ngón tay cái, thoạt tiên nghĩ đó là một loại trang sức, nhưng thấy có điểm không ổn, vì ngón tay cái làm rất nhiều việc, đeo chiếc nhẫn lớn như thế rất vướng víu. Suy nghĩ và “google” một lúc thì biết đó không phải là chiếc nhẫn, tiếng Trung gọi là: ban chỉ – 扳指. Nguyên là dụng cụ kéo cung, bảo vệ ngón tay khi giương những chiếc cung to và nặng, nhất là khi phải bắn nhiều phát liên tục.

Dần dà, với những nhà quyền quý, công cụ này trở thành vật mang tính chất trang sức, biểu tượng, không còn tính thực dụng ban đầu, và được làm bằng những vật liệu quý như vàng, ngọc. Trích đoạn phim: Kỷ Hiểu Lam kiến nghị mắt đã khỏi bệnh, có thể phục chức làm quan, Càn Long chưa muốn KHL trở lại, làm bộ kiểm tra mắt, đưa bàn tay ra hỏi có bao nhiêu ngón (指-chỉ-ngón tay). Dĩ nhiên là câu đố mẹo này lừa được KHL vì CL đếm có 6 ngón (chỉ), kể cả cái “ban chỉ”!

thò lò

Công cụ hiện đại khiến cho ai cũng có thể trở thành “nhà ngôn ngữ học”, đôi khi cũng muốn tập làm một “cụ An Chi”, người phụ trách chuyên mục “Chuyện đông chuyện tây” trên bán nguyệt san “Kiến thức ngày nay” một thời đã khá xa xưa. “Thò lò” – 陀螺, âm Hán Việt đọc là “đà loa”, “đà” tức là quán tính, “loa” là con ốc.

Để rõ hơn, mở trang translate . google . com, nhập 陀螺 và bấm nút phát âm, nghe hầu như là giống âm Việt “thò lò”. Vậy đã rõ “thò lò” trong thành ngữ “quay tít thò lò” nghĩa làm sao (con quay, con vụ). Và cũng có thể đoán thêm, từ này du nhập VN mới sau này, nên âm đọc của nó gần với âm Bắc Kinh hiện đại hơn là âm Hán Việt cổ!

phí & giá

Dĩ nhiên không nên đổi “học phí” thành “học giá”. Về mặt từ nguyên mà nói: giá (): giá cả, hầu như là quy thành tiền, phí (): khoản hao tổn, không nhất thiết có thể quy thành tiền. Ngày xưa, đi học chữ với thầy, ít khi phải trả bằng tiền, thầy thời xưa thường được đền đáp bằng tiền, gạo và nhiều dạng lễ vật khác, vì nhiều lý do khác nhau. Một mặt, người ta không muốn biến nó thành một giao dịch thương mại thẳng thừng.

Mặt khác, muốn biến nó thành một món nợ ân tình, mà tình nghĩa thì có cách hoàn trả khác biệt. Ngày nay, đi học chữ với thầy, không nhất thiết chỉ cần tiền. Còn phải nói ngon nói ngọt, dẫn thầy đi nhậu, vận động từ hành lang cho tới tận đâu, hao phí rất nhiều công sức! Nên nói “phí” nó nặng hơn “giá”, không thể quy thành tiền được. Dù là hiểu theo nghĩa nào, xưa hay nay, thì “phí” nó vẫn khác với “giá”, đâu cần phải đổi!?

quy khứ lai, 5

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Phải mất rất lâu Thư Triệt mới chấp nhận được điều này, dù anh ta đã luôn phản đối phương cách hành động và làm ăn của cha mình từ rất sớm. Và cũng phải mất rất lâu nữa Thư Triệt mới vượt qua được ranh giới giữa yêu thương và thù hận để trở lại với Tiêu Thanh, cô gái mà anh thực sự yêu. Về phía gia đình Mậu Doanh, vốn chỉ đơn thuần kinh doanh, không có xu hướng chính trị, họ chấp nhận điều này dễ dàng hơn, và vì thế, tình bạn giữa Mậu Doanh và Tiêu Thanh nhanh chóng được nối lại. Sâu bên trong, tất cả đều hiểu rõ những nguy cơ tiềm ẩn trong cung cách làm ăn của xã hội Trung Quốc, và tất cả đều hướng đến những phương pháp minh bạch, thượng tôn pháp luật mà họ đã học được ở Mỹ.

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Tình cảm giữa Ninh Minh và Mậu Doanh vốn dĩ là điều đến sau, không phải là cái mà người ta thường cho là “trời sinh hoàn hảo”. Mối quan hệ đó chứa đựng rất nhiều điểm khác biệt, rất nhiều điểm không thực sự “ăn ý”, căn bản xuất phát từ gốc gác, tầng lớp xã hội khác nhau của họ. Ninh Minh tôn thờ Mậu Doanh như một “công chúa”, nhưng anh ta không phải đã thực sự hiểu hết những điểm tế nhị trong tâm tư của cô gái này. Còn Mậu Doanh trời sinh đã là “quý tộc”, cô ấy có tầm nhìn và sự nhạy cảm của một người thuộc tầng lớp cao, cô ấy cảm động với sự kiên trì và tận hiến của Ninh Minh và do đó tiếp nhận tình cảm của anh ấy. Căn bản giữa hai người là tìm kiếm và chia xẻ với nhau những điều khác biệt.

Còn giữa Thư Triệt và Tiêu Thanh, mối quan hệ được phát triển theo một hướng khác, không phải tìm kiếm những điều khác biệt, mà ngược lại, chia xẻ những chí hướng, những giá trị chung. Căn bản Thư Triết quá cứng rắn với những nguyên tắc, giá trị sống của mình, khó lòng tìm được ai chấp nhận được sự cứng rắn quá độ đó. Chỉ có Tiêu Thanh cũng chia sẻ những giá trị đó, nên họ mới có thể cùng đi trên chặng đường đến với nhau. Những người xem phim sẽ nghĩ rằng cả hai câu chuyện tình yêu đó đều có một chút dáng dấp của câu chuyện Cô bé Lọ Lem – Cinderella, khi hai người thuộc hai tầng lớp xã hội rất xa nhau lại đến được với nhau, nhưng thực ra, kịch bản phim không hề nhấn mạnh về điều đó!

Cái tâm lý bất ổn thường trực thường thấy trong những xã hội Á Đông không phải là một yếu tố mang tính “tạm thời”, ngược lại, nó mang tính “di truyền”, con người ta phải chuẩn bị cho mình nhiều giá trị khác nhau, đề phòng những biến đổi khác nhau trong cuộc sống. Chính vì thế nên mới có chuyện trong một xã hội rất coi trọng hôn nhân “môn đăng hộ đối”, thì tình yêu thật sự chân thành lại phá vỡ, đi ngược lại hoàn toàn cái quy ước xã hội đó. Những con người từ các giai tầng xã hội rất khác nhau lại đến được với nhau, cơ bản cũng vì họ tìm thấy trong người kia những giá trị sống mà họ không có, điều đó được tính như một giải pháp dự phòng, khi những điều kiện chính trị, xã hội thay đổi hay đảo lộn!

Phim hay không phải chỉ vì nó phản ánh được khoảng cách lớn giữa các thế hệ già trẻ, sự khác biệt rất lớn giữa cung cách vận hành của các hệ thống xã hội, các hệ thống pháp lý, luân lý khác nhau. Phim còn rất hay ở chỗ miêu tả chi tiết những khó khăn của lớp người trẻ chật vật tìm lối đi riêng cho mình, những vấn đề rất hiện thực, sống động. Giới trẻ, đối diện tình yêu và vô vàn những mối quan hệ xã hội phức tạp khác, những trăn trở băn khoăn về giá trị của cá nhân và giá trị của cộng đồng, những suy tư, toan tính trong học hành và khởi nghiệp. Những so đo trong tình bạn, tình yêu, những mâu thuẫn, đấu tranh giữa nguyên tắc công bằng chung và lợi ích cá nhân riêng tư, tất cả đều được minh hoạ rất rõ.

Những bạn trẻ Trung Quốc, họ nhìn nhận thực tế và có rất nhiều suy nghĩ, băn khoăn với nó! Phim thừa nhận thẳng thắn rất nhiều vấn đề hiện hữu với hệ thống chính trị, pháp lý và kinh doanh của Trung Hoa lục địa. Và mặc dù văn hoá Mỹ bị “phê bình” khéo ở một số điểm, hệ thống luật pháp Mỹ được đề cao và thắng thế tuyệt đối! Phim đặt ra nhiều câu hỏi về giá trị của cá nhân trong cuộc sống, đâu là những “tố chất” mà chúng ta cần, đâu là những “phẩm hạnh” phải có để xây dựng tình yêu và lòng tin. Khác biệt nằm ở chỗ, các bạn trẻ Trung Quốc thẳng thắn đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời, chứ không chết chìm trong những vấn đề tủn mủn, lặt vặt, muôn thủa không thể tự giải quyết được như trong xã hội Việt!

quy khứ lai, 4

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Nhiều khán giả xem phim sẽ nhận định, nhân vật như Ninh Minh căn bản là rất khó có thể có thực. Yêu đơn phương một người suốt 4 năm đại học, âm thầm dõi theo người ấy suốt nhiều năm sau đó, không hề có một lời bày tỏ, không trông mong hồi đáp. Vì với anh ta, tình yêu là một hành động “self – completion”, yêu để tự hoàn thiện mình, yêu tự nó đã là hạnh phúc, không cần phải có một kết cục rõ ràng nào. Nhưng tôi biết Ninh Minh là hoàn toàn có thật, trong số những người bạn của tôi, cũng đã có những mối tình câm lặng suốt 4 năm đại học, rồi lại tiếp tục đau khổ, trăn trở cả chục năm tiếp theo. Mậu Doanh, Ninh Minh làm tôi sống lại những năm tháng tuổi trẻ của mình, vì chính tôi cũng đã từng như thế!

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Tiêu Thanh, người cùng học tại Đại học Stanford với các nhân vật nêu trên, có xuất thân gia đình cũng không mấy khá giả. Bố Tiêu Thanh là một công tố viên liêm chính, luôn nói không với những món tiền hối lộ, hoàn cảnh bắt buộc Tiêu Thanh phải làm rất nhiều việc để tự kiếm tiền trang trải cuộc sống. Đã có rất nhiều tai nạn cũng như hiểu lầm xảy ra, cũng như khoảng cách giàu nghèo làm cho tình bạn giữa Tiêu Thanh, Mậu Danh và Thư Triệt phát triển rất chậm chạp. Tuy vậy, qua nhiều ngã rẽ khó khăn của cuộc sống, họ dần nhận ra giá trị trong nhau và phát triển những tình bạn bền vững. Tiêu Thanh mơ mộng về một tình cảm với Thư Triệt những không dám thổ lộ, vì vẫn còn đó tình bạn với Mậu Doanh.

Một cá tính có phần nguyên tắc thường thấy ở những người học luật, Tiêu Thanh không muốn phải sứt mẻ tình cảm dành cho cả hai người, mãi cho đến khi những biến động của cuộc sống tách Mậu Doanh và Thư Triệt rời xa nhau và đưa Mậu Doanh lại gần Ninh Minh và đưa Tiêu Thanh lại gần tình yêu của mình. Thư Triệt nhận Tiêu Thanh vào làm cố vấn pháp lý cho công ty của mình, công việc giúp họ có cơ hội hiểu nhau hơn, hiểu những toan tính ngấm ngầm của 2 ông bố Thư Vọng và Thành Vĩ. Ninh Minh sống một cuộc sống trôi nổi vô định, cho đến khi số phận trớ trêu xui khiến anh quen biết Thành Nhiên, em trai của Mậu Doanh. Phải mất rất lâu, Thành Nhiên mới biết được vì sao Ninh Minh lang thang ở Mỹ.

Nhưng những oái ăm của cuộc sống chưa dừng lại ở đó. Tiêu Thanh lại nhận một công việc trong một công ty luật phụ trách điều tra tham nhũng cho chính phủ Mỹ, và qua đó, biết rất rõ từng chi tiết điều tra nhắm vào hai gia đình Mậu Doanh và Thư Triệt. Lại thêm rất nhiều mâu thuẫn, dằn xé giữa tình bạn, tình yêu và lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, Tiêu Thanh không thể tiết lộ bất kỳ bí mật điều tra nào cho cả hai người, cô ấy cảm thấy mình phải sống một cuộc sống “hai mặt”. Qua nhiều chuyện sóng gió, cuối cùng Ninh Minh nhận được học bổng cho phép anh theo học cao học ở Mỹ, và do đó có thể tiếp tục ở bên cạnh tình yêu của đời mình là Mậu Doanh, người sau nhiều đau khổ, đã đón nhận anh!

Một cộng đồng bạn bè Trung Quốc sống chung một thành phố, luôn có rất nhiều mâu thuẫn chồng chéo trong tình bạn, tình yêu, nhưng bằng một cách nào đó, họ vẫn tìm cách ở bên nhau, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau những khi cần thiết. Cha của Tiêu Thanh là công tố viên điều tra tham nhũng, phụ trách vụ án của Thư Vọng và Thành Vĩ. Ông phát hiện ra một điều, Lưu Thái Kỳ là “bồ nhí” của Thư Vọng, do mang thai với vị thị trưởng này, nên được thu xếp để sinh sống ở Mỹ nhằm dấu nhẹm sự việc. Nếu tin tức một quan chức có con ngoài giá thú lộ ra ngoài thì sự nghiệp chính trị của ông ta xem như chấm dứt. Sự việc lại tiếp tục phát triển khi Lưu Thái Kỳ muốn tố cáo mối quan hệ bất chính của Thư Vọng.

Ông chủ Thành Vĩ như thường lệ, lại nhận chỉ thị từ Thư Vọng, lại giở các thủ đoạn hắc ám để giết người diệt khẩu. Lưu Thái Kỳ chết, nhưng kịp để lại những bằng chứng tố cáo liên minh ma quỷ Thư Vọng – Thành Vĩ. Đỉnh điểm của sự đau khổ đến khi Tiêu Thanh, dưới áp lực của cha mình, phải ra toà làm chứng trong hai vụ án: một là vụ Thư Vọng nhận hối lộ từ Thành Vĩ, và một nữa là vụ Thành Vĩ nhận lệnh giết người diệt khẩu từ Thư Vọng. Điều mà Thư Triệt lo sợ cuối cùng cũng đã tới, khi áp – phe chính trị – kinh doanh Thư Vọng và Thành Vĩ cuối cùng cũng phải đã đối diện pháp luật, và cả hai người đều phải nhận bản án chung thân, một cái kết rất đắng cay cho cả hai gia đình Thư Vọng và Thành Vĩ.

quy khứ lai, 3

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Quan hệ giữa hai nhà không chỉ là lợi ích mà còn là tình yêu của hai đứa trẻ. Một lúc nào đó, cả hai nhà đều chân thành mong muốn tác thành cho tình yêu đó, nhưng rồi nhận ra một đám cưới công khai có thể “tố cáo” mối quan hệ ngầm giữa hai bên, và ảnh hưởng đến con đường thăng tiến chính trị của Thư Vọng cũng như việc kinh doanh của Thành Vĩ. Họ tìm đến một giải pháp trì hoãn, không tổ chức đám cưới cho đến khi dự án xe điện ngầm thành công. Mậu Doanh và Thư Triệt ban đầu không thể hiểu được căn nguyên mọi việc, không thể hiểu tại sao cả hai nhà đều phản đối tổ chức đám cưới. Cả hai đều chưa hiểu hết những liên hệ ngầm giữa hai bên, giữa giới chính trị và kinh doanh Trung Quốc.

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Mậu Doanh là một cô gái rất thông minh, nhận định vấn đề nhanh nhạy và chính xác, cô ấy nhanh chóng nhận ra một điều: trực tiếp là bố mình – Thành Vĩ, và gián tiếp là “bố chồng” – Thư Vọng chỉ đạo, dàn xếp mọi việc. Tuy thông minh, nhưng cô ấy không phải là một mẫu người theo đuổi giá trị cá nhân, nên dễ dàng chấp nhận cái cách mà hệ thống kinh doanh, chính trị Trung Quốc đã và đang vận hành. Tình yêu của cô ấy là một tình cảm không cần quá nhiều lý trí, có thể thoả hiệp để cho mọi việc được yên ổn. Ngược lại, Thư Triệt lại là một người cực kỳ tôn trọng các giá trị cá nhân, các nguyên tắc lý trí cũng như pháp luật, một lúc nào đó, phim cũng thể hiện anh ta có cái tôi lớn giống như bố của mình.

Đây là một điểm quan trọng mà người xem phim như tôi sẽ rất chú ý quan sát! Việc xây dựng các nguyên tắc và giá trị cá nhân của Thư Triệt, dĩ nhiên phản ánh “cái tôi” của anh ấy, nhưng phải vượt lên được chính “cái tôi” ấy thì anh ta mới có thể trở nên khác biệt với người cha của mình, và mới thực sự biến các giá trị ấy thành lý tưởng sống phổ quát. Bằng không thì cũng giống như cha mình, đó chỉ là một cách nguỵ biện vụng về cho cái ích kỷ cá nhân mà thôi. Dần dà, Thư Triệt, đúng như mong đợi, quay lưng lại với các lề thói xấu rất “Trung Quốc”, anh ta trả lại tiền mà người “bố vợ tương lai” đầu tư, hay nói chính xác hơn là “hối lộ” một cách khéo léo, anh ta muốn kinh doanh bằng thực lực của mình.

Tình cảm giữa Mậu Doanh và Thư Triệt, trong suy nghĩ của nhiều người xem phim, là vẫn còn có thể dàn xếp. Nhưng một hệ thống cộng sinh chính trị – kinh doanh đã vận hành hàng chục năm ở Trung Quốc không thể thay đổi một sớm một chiều, lề thói, cách suy nghĩ của những con người ấy không thể thay đổi. Hai đứa trẻ bị kẹp giữa hai thái cực, hai phương châm sống khác nhau. Mậu Doanh có thể thoả hiệp một chút, nhưng Thư Triệt kiên quyết đi theo con đường kinh doanh minh bạch theo đúng pháp luật, theo đúng tinh thần “pháp trị” mà anh ta đang theo học tại khoa Luật, Đại học Stanford. Anh ta ly khai, cắt quan hệ với người cha của mình, tự mình sống không cần sự hỗ trợ và giám sát của gia đình.

Nếu Thư Triệt chỉ bị kẹp giữa một gọng kìm là hai phương châm sống khác nhau, Mỹ & Trung Quốc, thì Mậu Doanh, đau khổ hơn, còn bị kẹp thêm bởi một gọng kìm nữa, đó là hai người đàn ông: bố mình và người yêu. Thành Vĩ yêu thương con gái, nhưng ông không muốn làm điều gì có hại cho việc kinh doanh của tập đoàn mà con gái ông là người thừa kế, ông cũng không thể làm gì khác nếu các “sếp” trong bóng tối như Thư Vọng đã có “ý kiến chỉ đạo”. Còn Thư Triệt, mối mâu thuẫn rất sâu sắc với cha mình đã biến thành một cuộc chiến “ý thức hệ”, vì trong suy nghĩ của anh ta (thực sự anh ta nghĩ đúng), những con người như thế, những nguyên tắc đạo đức như thế (hai người bố) sẽ có một kết cục tất định.

Ngày tổ chức đám cưới, chưa phải là đám cưới chính thức, chỉ đăng ký ở Toà thị chính, cô dâu Mậu Doanh, vì những áp lực ngấm ngầm, bí mật của hai gia đình, đã bỏ đi phút cuối cùng. Mậu Doanh bỏ đi lang thang trong đau khổ và tuyệt vọng. Nhưng vì là một “công chúa”, chuyện cổ tích luôn xảy đến, cô ấy luôn có một “quý nhân” đi theo phù trợ, không ai khác chính là Ninh Minh, mối tình không thổ lộ từ thời ở Đại học Thanh Hoa. Được tin Mậu Doanh làm đám cưới, Ninh Minh bí mật đến Mỹ, như lời anh ta, là để chứng kiến đám cưới ấy bằng chính mắt mình, “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, anh ta chỉ muốn chính thức đóng chiếc đinh cuối cùng lên chiếc quan tài là mối tình đơn phương của chính mình!