quy khứ lai, 2

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Nhưng cũng phải nói là phim có một kịch bản rất tốt, phản ánh được sự khác biệt của văn hoá, xã hội Á Đông và phương Tây, những tình tiết câu chuyện xảy ra trong phim cũng phản ánh khá trung thực bản chất, thực tế xã hội Trung Quốc. Dĩ nhiên cách thể hiện tình cảm yêu đương giữa các nhân vật cũng phải “sướt mướt”, “lãng mạn đến mức lãng xẹt” một tí, cốt để thu hút đông đảo khán giả xem phim. Nhưng căn bản, phim tôn trọng thế giới hiện thực của các thành phần tham gia: những du học sinh đến từ mọi miền của Trung Quốc, thuộc đủ các tầng lớp, xuất thân, có những người sinh ra đã là “hoàng tử, công chúa”, cũng có những người phải chật vật làm thêm để tự chu cấp cho việc học hành của mình.

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Thư Triệt, con trai của Thư Vọng, một phó thị trưởng, một quan chức đang trên đà thăng tiến và nắm giữ quyền lực chính trị lớn. Anh được gởi đi Mỹ học đại học, rồi tiếp tục cao học. Mậu Doanh, như đã nói, là con gái của Thành Vĩ, ông chủ của một tập đoàn kinh doanh đang tham gia đấu thầu xây dựng hệ thống xe điện ngầm, và dĩ nhiên có mối liên hệ bí mật và mật thiết với quan chức chính trị chống lưng cho mình là Thư Vọng. Tình yêu của hai người, Thư Triệt và Mậu Doanh có thể xem là “thanh mai trúc mã”, họ quen biết và yêu nhau từ sớm, những năm nàng lớp 7, chàng lớp 9, hai gia đình cũng có thể xem là môn đăng hộ đối, và tưởng chừng như chẳng có gì có thể ngăn cản, phá vỡ tình yêu đó.

Thoạt tiên, cả hai gia đình đều ủng hộ cuộc hôn nhân giữa hai đứa trẻ này. Thành Vĩ là một ông bố rất yêu thương con gái, nhưng ông có phần không hiểu được những người con của mình. Ông là một mẫu điển hình cho các ông chủ kinh doanh Đại lục, thành công và giàu có, rất khôn ngoan, lão luyện trên thương trường, rất nhẫn nại, kiên trì để đạt được mục đích, sẵn sàng sử dụng các biện pháp hắc ám khi cần thiết! Thành Vĩ thừa hiểu các giá trị Mỹ và cách mà hệ thống pháp luật ở đây vận hành, nhưng ông cũng thường xuyên dùng đến các thủ đoạn rất chi Trung Quốc: vận động ngầm, mua chuộc, hối lộ, đe doạ, và khi không còn cách nào khác, cũng sẵn sàng sử dụng đến các biện pháp xã hội đen.

Thư Vọng là một chính trị gia cứng nhắc, với một tính cách cực kỳ gia trưởng. Ông tìm cách áp đặt mọi thứ lên người con trai Thư Triệt của mình, tin rằng tất cả những điều mình làm là để nâng đỡ, bảo vệ con. Dĩ nhiên cha mẹ nào cũng mong muốn nâng đỡ con cái, cho nó một xuất phát điểm tốt hơn trong xã hội. Nhưng phim cũng không ngần ngại thể hiện rõ ràng một điều rằng, tất cả những gì ông ta làm cũng chỉ thể hiện cái tôi quá lớn của ông ấy, muốn bao trùm, kiểm soát tất cả, muốn thể hiện uy quyền của mình. Thư Triệt du học ở Mỹ từ rất sớm, anh ta “thẩm thấu” các giá trị Mỹ, anh ta mâu thuẫn sâu sắc với cha mình, ban đầu chỉ là vì cảm giác khó chịu khi bị kiểm tra, áp đặt dưới nhiều hình thức.

Nhưng dần dà mâu thuẫn đó trở nên lớn hơn thế, trở thành sự khác biệt giá trị sống, khác biệt suy nghĩ và hành động. Thư Vọng và Thành Vĩ đại diện cho một hệ thống xã hội như nó đã và đang vận hành ở Trung Quốc, một hệ thống dựa rất nhiều vào quan hệ cá nhân, các phương pháp không minh bạch, và nhiều thủ đoạn hắc ám khác! Thư Triệt lại hoàn toàn trái ngược, anh ta thấu hiểu và áp dụng các giá trị Mỹ, những nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Đến một lúc, người xem phim chợt nhận ra ông bố Thư Vọng là một cá tính hoàn toàn không thể thay đổi, một kiểu bệnh mãn tính, bất di bất dịch, một cái tôi quá lớn, lớn đến mức mù quáng, dĩ nhiên là luôn nhân danh “tình yêu” và những điều “tốt đẹp” khác.

Là những thành phần cộng sinh trong cùng một hệ thống, Thành Vĩ cũng chia sẻ những lề lối giống như chính trị gia Thư Vọng. Nhưng là một doanh nhân, ông ta mềm mỏng, khéo léo hơn. Để nhận được quyền xây dựng hệ thống xe điện ngầm, Thành Vĩ khéo léo hối lộ người cha Thư Vọng bằng cách “đầu tư” những món tiền hậu hĩ vào công ty riêng của người con Thư Triệt tại Mỹ. Thư Triệt ban đầu rất ngạc nhiên vì công ty của mình lại nhận được những hợp đồng béo bở một cách quá dễ dàng, nhưng nhanh chóng nhận ra, đó là những “món quà” của “ông bố vợ tương lai”, người nhận chỉ thị từ Thư Vọng, ông trùm đứng trong bóng tối chỉ đạo mọi việc, kể cả việc thông qua Thành Vĩ để giám sát con mình.

quy khứ lai, 1

爱与恨的边际聚与散的别离
问你为何会在意 直到现在还惦记
归去你还在我依赖身分开心回来
记得这份爱我们明白 这就是爱

每当感觉自己受了伤
不辞而别逃去了远方
躲多久走多远算疗伤
不如回到相爱的地方

没有告别静默的离场
房间冰冷不再有暖阳
多想留住你我的时光
念念不忘等待爱回响





Mới nghe tựa đề (tiếng Trung) của phim là đã biết được mượn trong bài “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm đời Đông Tấn: 歸去來兮,田園將蕪,胡不歸! 既自以心為形役,奚惆悵而獨悲? – Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy! Ký tự dĩ tâm vi hình dịch, hề trù trướng nhi độc bi? – Về đi nào, về đi nào! Ruộng vườn bỏ rậm làm sao không về? Tâm để thân dễ bề sai khiến, Sao lại còn quyến luyến thương đau? Phải nói rằng tôi rất ít khi xem phim truyền hình, cảm thấy đa phần đều quá dài dòng và nhàm chán, lại càng không thích các thể loại có xu hướng “ngôn tình” và “đam mỹ”, viển vông không thực. Nhưng Quy khứ lai này là ngoại lệ, nó đề cập đến cuộc sống đầy thực tế, và đồng thời cũng rất thơ mộng!

念念不忘 - Niệm niệm bất vong 

Cái tựa đề tiếng Anh của phim “The way we were” có vẻ như lại phản ánh tốt hơn nội dung phim, trong cái nhìn của các du học sinh, về những khác biệt văn hoá của người Trung Quốc và người Mỹ, giữa Đông và Tây, cách mọi người hành xử, cách các hệ thống tổ chức, xã hội khác nhau vận hành, tất cả đều được biểu hiện rất rõ qua các tập phim. Dĩ nhiên phải xem qua vài tập đầu trong số 50 tập mới bắt đầu hiểu rõ, câu chuyện chủ yếu xoay quanh một nhóm các thanh niên trẻ tuổi du học ở Mỹ, và cái tâm sự “quy khứ lai – về hay ở lại” sẽ theo họ suốt một thời gian dài, từ những năm đi học đến khi ra trường, đi làm, cho tới khi bắt đầu định cư, lập nghiệp, cái câu hỏi “về hay ở lại” sẽ vẫn còn trở đi trở lại.

Nhưng đó vẫn là những điều chưa tới, đầu phim lấy bối cảnh tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, hai nhân vật Ninh Minh và Mậu Doanh học chung một lớp, những giây phút của tình yêu tuổi trẻ, lãng mạn đầy nhiệt huyết. Một tình yêu đơn phương của chàng trai nhà nghèo Ninh Minh với cô gái cực kỳ xinh đẹp Mậu Doanh, một tiểu thư con nhà “đại tư sản”, người thừa kế của một tập đoàn kinh doanh lớn. Với cô ấy, hiển nhiên cuộc sống phía trước dường như đã được trải sẵn thảm đỏ, với tất cả những điều tốt đẹp nhất đang chờ đợi. Cô gái đã có bạn trai, một “người yêu lý tưởng”, Thư Triệt, đang theo học ở Mỹ, mặc cho một hàng dài những người theo đuổi cuồng nhiệt trong thời gian tại Thanh Hoa.

Còn chàng trai, có vẻ như chỉ là một người rất bình thường, con một nhà lao động nghèo, tiền đồ hãy còn rất mờ mịt. Sự tự ti về điều kiện xuất thân, về địa vị xã hội của Ninh Minh sẽ còn đi theo anh ta suốt nhiều năm dài, khiến cho anh ta thường xuyên cảm thấy mình không xứng đáng, mình không đủ khả năng đem lại hạnh phúc cho cô gái, và do đó chưa bao giờ dám thổ lộ tình cảm của mình. Một tình yêu câm lặng kéo dài suốt 4 năm Đại học sẽ có thể thừa đủ để làm nội dung cho một phim khác, nhưng với phim này, đó chỉ mới là màn khởi đầu. Một khởi đầu ngắn ngủi, một ký ức rất đẹp nhưng cũng chỉ thoáng qua, cũng như chặng đường cuộc sống đầy chông gai, sóng gió hãy còn rất dài ở phía trước!

Xem tập đầu phim, tôi như thấy lại những tháng năm tuổi trẻ của mình, thấy lại những người bạn của chính mình trong đó! Tuổi trẻ của tôi có đầy đủ tất cả những điều đó, những mối tình thầm lặng kéo dài suốt 4 năm đại học, những theo đuổi điên cuồng sẽ còn tiếp tục suốt mười năm tiếp theo, cho đến những năm khoảng trước sau 30 tuổi. Những tình cảm không tên, không thổ lộ, cũng dự đoán là không có một kết cục tốt đẹp rõ ràng nào, những điều mà trong tâm hồn của những thanh niên, thanh nữ chưa đầy 20 tuổi đó, chỉ là những điều tự nó sinh ra, tự nó tồn tại, một tình yêu không cần sự hồi đáp, những trăn trở, khát vọng chúng ta có chỉ để khiến chúng ta trở nên trưởng thành hơn, hoàn thiện hơn.

Nhưng trước hết, cần phải “phê bình” phim một tí. Đầu tiên là tôi không thích những phim truyền hình quá dài, và cách làm phim cũng khá “công nghiệp”. Có vẻ như các tập phim được phân chia cho nhiều đạo diễn khác nhau, mỗi người làm một đoạn, khiến cho việc xây dựng hình tượng, cá tính nhân vật đôi khi có phần thiếu nhất quán. Thứ đến nữa là những kiểu tuyên truyền chính trị, văn hoá “đại Trung Hoa” cũng có, dù không nhiều lắm. Đáng chán nhất vẫn là phim kéo dài lê thê, rất nhiều đoạn chi li quá mức cần thiết, rất dể gây nhàm ra chán. Cách xây dựng cá tính nhân vật, lời thoại trong phim đôi khi có phần “công thức”, nhưng đôi khi cũng rất thông minh, sâu sắc, gây bất ngờ cho người xem!

xa – thư

讀萬卷書
行萬里路

Hoàng thành Huế, điện Thái Hoà, ngay bên dưới chiếc biển đề ba chữ “Thái Hoà điện” có khắc một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Tạm dịch: Đất nước ngàn năm văn hiến, Cơ đồ “xe và sách” vạn dặm, Từ sau họ Hồng Bàng dựng nước, Trời Nam lại thịnh trị như thời Đường, Ngu. Khái niệm “xa & thư” được sử dụng rất phổ biến trong văn thư chính trị cổ. Nhưng như thế nào là “xa & thư” – “xe và sách”!?

Xe (xa): dĩ nhiên ngày xưa là chiếc xe ngựa, dùng để chờ người, đồ vật, đồng thời cũng là chiếc chiến xa (chariot). Xem phim về thời cổ đại ở cả Đông lẫn Tây, cả ở La Mã lẫn Trung Quốc đều thấy một điểm chung là chiến xa phổ biến hơn chiến mã. Tại sao lại đi dùng một thứ phức tạp là xe ngựa, mà không đơn giản trực tiếp cỡi ngựa!? Có người lý luận một cách hoàn toàn sai lầm rằng văn minh nhân loại đã đi thụt lùi, từ việc sử dụng chiến xa thời cổ đại, sang dùng chiến mã thời trung đại.

Trong việc cỡi ngựa, phát minh quan trọng nhất là cái bàn đạp, đây được xem là một phát minh tuy đơn giản, nhưng làm thay đổi lịch sử nhân loại! Bộ yên cương, có thêm cái bàn đạp mới khiến kỵ sĩ có thể ngồi vững vàng trên lưng ngựa, điều khiển được ngựa một cách khéo léo, và quan trọng nhất là nhờ có cái bàn đạp mới có điểm tựa để sử dụng vũ khí: gươm, đao, thương… và nhất là có thể bắn cung một cách chính xác. Từ khi phát minh ra cái bàn đạp, nhân loại mới bỏ chiến xa mà dùng chiến mã.

Nhưng quay trở lại thời cổ đại, thì chiến xa vẫn phổ biến hơn là chiến mã, đơn giản là vì không có bàn đạp, kỵ sĩ chưa thể ngồi vững trên lưng ngựa. Thời cổ đại ở Trung Quốc, vua một nước nhỏ có thể có một ngàn cỗ xe, vua một nước lớn có thể có đến vạn cỗ xe. Chiến xa là thứ thể hiện sức mạnh và quyền lực của một vương triều. Người ta đánh giá sức mạnh của một vương quốc thông qua số chiến xa mà nước đó sở hữu, cũng giống như bây giờ chúng ta dùng các đại lượng GDP, GNP, etc… vậy.

Lại nó thêm về xe ở Trung Quốc, thời cổ đại, có hàng trăm vương quốc lớn, nhỏ, mỗi nước dùng một loại xe riêng, đóng theo những quy cách riêng: kích thước bánh xe, độ rộng trục bánh xe. Ở các cổng thành, người ta xây các trụ đá nhỏ làm vật cản, khiến cho xe của một nước có thể đi lọt qua cổng thành nước đó, mà qua nước khác lại không thể đi lọt. Việc mỗi quốc gia sử dụng “quy chuẩn” xe khác nhau thực ra là một cách phòng thủ, không cho xe đối phương đi vào nước mình quá dễ dàng.

Sách (thư): nếu như xe có hàng trăm quy chuẩn khác nhau, thì sách vở, chữ viết cũng vậy. Tuy đều là chữ tượng hình, nhưng mỗi nước lại có cách viết khác nhau, ví dụ cùng một chữ “kiếm” nhưng có đến hàng chục cách viết, tuỳ theo quốc gia, vùng miền. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc mới thống nhất tất cả các quy chuẩn: xe đóng theo cùng một kích cỡ, chữ viết theo cùng một lề thói, tất cả các đơn vị đo lường, các hình thức nghi lễ, áo mũ, âm nhạc cũng được thống nhất.

Nên có thể xem: Thư là kiến thức, Xa là kinh nghiệm, Thư là lý thuyết, Xa là thực hành, Thư là trừu tượng, Xa là hiện thực, Thư là tâm hồn, Xa là thể xác, Thư là tinh thần, Xa là vật chất, Thư là sức mạnh mềm, Xa là sức mạnh cứng… “Xa dữ thư – xe và sách” là hai mặt của một đồng xu, hai yếu tố chính yếu nhất để đại diện cho một nền văn minh. Chẳng phải xưa có câu: Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – 讀萬卷書行萬里路 – Sách: đọc ngàn chương, Đường: đi vạn dặm đó sao!?

lồng tiếng

Từ nhỏ đã “lập thệ”: cả đời không coi phim Hong Kong, Đài Loan, không coi “phim chưởng”. Nhưng cái “Anh hùng xạ điêu – 2003” này là do CCTV Bắc Kinh làm, không phải Hong Kong. Lời thoại kỹ càng, sâu sắc, tính cách nhân vật xây dựng công phu, đặc sắc, nhất là các vai Hoàng Dung và Hồng Thất Công, không có bừa bãi, hời hợt như kiểu phim Hong Kong.

Không nên xem phim lồng tiếng, nên xem phụ đề, vốn dĩ đám người Việt gốc Hoa thường lồng tiếng cho “phim chưởng” đó thực ra chẳng hiểu mấy về văn hoá Trung Quốc, “cổ văn” đọc ko thông, dịch 10 sai đến 8, 9 phần, lao nhao như 1 đám “chợ búa”, mất cả hứng thú, chẳng ích lợi gì! Xét về ngôn ngữ, văn hoá, phương Bắc vẫn luôn cao hơn phương Nam 1 bậc vậy!

vong quốc chi ca

亡國之歌

Đạo đức, thịnh, suy, khôn, dại, hay dở đều hiện ra nơi âm nhạc, không giấu được ai. Bởi vậy cứ lấy âm nhạc mà nghiệm được một nước ra thế nào. (Tuân Tử – Nhạc ký)

Về Bolero VN, nói chung âm nhạc là một quá trình giáo dục và cảm nhận, nó gồm nhiều năm trãi nghiệm nên thường ai nghe gì đó là việc của họ, tôi không có ý kiến. Và biết rằng nói ra sẽ mất lòng một số người… Nhưng nhận xét về Bolero Việt Nam nói chung, tôi nghĩ thứ nhạc đó xứng đáng được gọi bằng cái tên: Vong quốc chi ca亡國之歌, loại âm nhạc mất nước! Những dân tộc ưa chuộng vận động và tiến bộ phải có thể loại nhạc sáng tạo và sinh động, không phải như Bolero VN ngồi nhai đi nhai lại mãi một mớ nhảm nhí, chẳng đại diện cho ai cả, ngoài cái tâm trạng xấu xí của họ.

Chính xác theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Bolero VN là loại vong quốc chi ca, một loại âm nhạc mất nước! Vì quyết không sai, đây chính là âm nhạc của một quốc gia đã mất, mất vì cứ lải nhải từ năm này sang tháng khác một thứ nhạc kém đến như thế! Kém không phải vì loại nhạc đó sầu não uỷ mị, mà vì nó không có sự sáng tạo, sử dụng mãi những giai điệu na ná từa tựa nhau, nghe 100 bài như 1, tác giả lười biếng, không chịu tìm tòi cái mới, làm theo kiểu mỳ ăn liền…

Nghe câu đầu là đã đoán được câu sau, làm gì có tí giá trị âm nhạc mới mẻ nào!? Và những người cứ mãi lải nhải loại nhạc ấy cũng không có hy vọng gì có thể mở mang đầu óc mà tiếp thu cái mới! Tuân Tử nói, đến một đất nước nào, chỉ cần nghe qua âm nhạc của nước đó cũng sẽ biết ngay là “Hưng” hay là “Phế”! Và rất nhiều người không phân biệt được đâu là dân ca, và đâu là Bolero. Thực ra, từ ngay chính cái tên Bolero cũng đã chẳng có nội hàm, ý nghĩa gì, và cũng như cái tên tự nó gọi đó, Bolero chẳng có dính dáng gì đến dân ca cả, mặc dù cũng đã cố gắng vay mượn, đánh tráo khái niệm.

Đó cũng là tiểu xảo và mục đích của cộng đồng Bolero, đánh đồng tất cả tốt xấu, hay dở, đánh lên một vũng nước đục, gạt bỏ tất cả những thành tựu khác để tự xem mình là một cái gì đó. Bolero VN thực ra chỉ là một quái thai của thời đại nó: âm nhạc thì copy dân ca một cách thô thiển, ca từ thì chả đâu vào đâu, chủ đề thì nhảm nhí… tất cả nói thẳng ra là một công cụ “phá hôi” để phục vụ cho các mục đích xã hội và chính trị, khởi đầu chẳng có gì rồi kết thúc cũng chẳng có gì!

杜牧 – 泊秦淮
煙籠寒水月籠沙
夜泊秦淮近酒家
商女不知亡國恨
隔江猶唱後庭花

tây cống nhật báo

Hồi đó mới vô SG có quen chú người Hoa Chợ Lớn, một thư pháp gia chữ Hán loại siêu, nói tiếng Quảng Đông, tiếng Việt chưa sỏi lắm, sáng sáng cafe đọc Tây Cống nhật báo (tức báo Sài Gòn giải phóng bản tiếng Hoa), và đặc biệt là rất mê nhạc Dương Thụ. Haizza, nói là “hoà nhi bất đồng”, thế mà có nhiều người Việt ghét nhau vì cái giọng nói khác có chút xíu…

paddle on, paddle still

張旭
清溪泛舟

旅人倚征棹
薄暮起勞歌
笑攬清溪月
清輝不厭多

Tiếp tục công cuộc thuyền bè và chèo chống… Nhớ lại cách đây mới khoảng 3 năm, chèo thuyền ngang qua con sông rộng chừng 300 m là đã có cảm giác: như con chim non nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ, đến nay thì 30 km (100 lần nhiều hơn thế) băng qua cửa biển rộng mênh mông, làm một phát không phải nháy mắt!

Nhưng từ đây lên đến 3000 km vẫn còn… 100 lần nhiều hơn thế nữa. Con đường còn xa, xa ngái, Xuyên à! Thôi thì cứ giả vờ như cái “sự nghiệp rong chơi” này nó nhàn nhã, tiêu dao lắm, mà ngâm câu thơ rằng: Lữ khách nhàn trên thuyền gác mái, Trong chiều tàn khởi hát dân ca. Mỉm cười vốc ánh trăng ngà, Ngắm hoài không chán bao la suối rừng.

Khởi động trở lại chế độ mỗi tuần 3 buổi tập, mỗi buổi 20 ~ 25 km như trước. 50 ngày đi xuyên Việt xe máy thì có tí vất vả, nhưng chẳng rèn luyện được sức bền như chèo thuyền chút nào. Thực ra ít có môn chơi nào đã gian khổ lại nguy hiểm như… chèo thuyền! Cố gắng lấy lại phong độ nhanh chóng, bao nhiêu “phiêu lưu” dự tính đang đợi chờ tôi ở phía trước!

Mùa này ở Sài Gòn, người ta bắt đầu chơi thả diều, tức là đã có gió, rất nhiều gió, nhất là ở trên sông, mãi cho đến tận tháng 4, tháng 5. Cũng là thêm một điều hay khi đi chèo thuyền. Dù nước ngược hay gió ngược, dù sóng to hay phẳng lặng, dù thế nào thì con thuyền vẫn luôn phải “tinh tấn” tiến lên phía trước! Không có gì “ẩn dụ” cho cuộc sống hay hơn thế!

xuân nghệ sĩ hành khúc

Tới sau, ngày tươi vui ấy đã qua,
Thật không khác với giấc mơ, ngồi nghĩ đến lúc ngây thơ,
Lòng bâng khuâng ta sẽ tiếc thương cho bao nhiêu ngày vui đẹp,
Chúng ta nhủ thầm: ngày vui xưa nay đã mất qua bao lần!

Thời gian cuối năm vẫn còn dài, mà sao thấy cứ nôn nao muốn bước sang năm mới… Kỳ thực đời người ta sống, quang âm như bóng câu qua cửa sổ, nói Nôm na thì: “chả lo gì” mà “chỉ lo già”… hoặc phỏng như Lý Bạch: người xưa đốt đuốc chơi đêm, thiệt là có lýcổ nhân bỉnh chúc dạ du, lương hữu dĩ dã古人秉烛夜游良有以也.

Xuân nghệ sĩ hành khúc - Thái Thanh 

Về các anh em nhà Phạm Xuân (nhạc sĩ Xuân Lôi, Xuân Tiên…) đó thật sự là những con người đặc biệt của làng nhạc Việt. Tuy không hâm mộ âm nhạc của họ cho lắm, nhưng lại rất thích những cuộc đời năng động, đầy sức sống, đa tài, đa nghệ, muôn màu muôn vẻ như họ. Một chút âm nhạc sinh động trong không gian gió mùa xuân đương tới.

viễn mộng

Sách vở thường phân tích phương Đông (không giống như phương Tây): sống nội tâm, mẫn cảm, chan hoà và gần gũi với thiên nhiên. Theo như thực tế hiện nay mà thấy, hình như điều ngược lại mới là đúng! Lại dùng cổ máy thời gian, mời tác gia Lý Bạch ngược đến tương lai, trích bốn câu trong bài Dạ bạc Ngưu chử hoài cổ để bình luận cho bức hình bên dưới!

Ngưu chử Tây giang dạ,
Thanh thiên vô phiến vân…
Minh triêu quải phàm tịch,
Phong diệp lạc phân phân.

Cảnh đêm Ngưu chử Tây giang,
Trời thu trong vắt không hàng mây trôi.
Sáng dong buồm chiếu đi rồi,
Lá phong đã rụng tơi bời bến sông!

李白 – 夜泊牛渚懷古

牛渚西江夜
青天無片雲
。。。。。
明朝挂帆席
楓葉落紛紛

trào lỗ nho

Cách đây gần 1300 năm mà người ta đã viết như thế này đây! Dịch nghĩa: Ông già nước Lỗ bàn chuyện Ngũ kinh, tóc bạc vùi trong những từ chương đã chết, hỏi ông cách giúp nước giúp đời, ông ngơ ngác như từ trên mây rơi xuống, chân đi giày “viễn du”, đầu chít khăn “phương sơn”, khệnh khạng ông bước trên đường thẳng, chưa đi đã thấy bụi bay mù…

Kinh tế (经济) là rút gọn của kinh bang tế thế (经邦济世), không phải nghĩa hẹp như chúng ta đang dùng bây giờ. Vị hành tiên khởi trần: phàm người ta đi đường thì làm bụi bay, như thế là chuyện bình thường, còn tác giả mô tả ông này chưa bước đi đâu cả mà bụi đã bay mù, ám chỉ loại người vô tích sự, không được việc gì! Chữ dùng đến là khéo!

Trào Lỗ nho – Lý Bạch
Lỗ tẩu đàm ngũ kinh,
Bạch phát tử chương cú.
Vấn dĩ kinh tế sách,
Mang nhiên truỵ yên vụ.
Túc trước viễn du lý,
Thủ đới phương sơn cân.
Hoãn bộ tòng trực đạo,
Vị hành tiên khởi trần…

Giễu ông đồ nước Lỗ
Ông đồ nước Lỗ học Ngũ kinh
Bạc đầu nhai chết từng chương cú
Hỏi ông giúp đời thế nào đây?
Mờ mịt như người mây khói phủ!
Chân đi đôi giày “viễn du lý”,
Đầu đội chiếc khăn “phương sơn cân”.
Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng,
Chưa đi bụi đã như mây vần…

李白 – 嘲鲁儒

魯叟談五經
白髮死章句
問以經濟策
茫如墜煙霧
足著遠遊履
首戴方山巾
緩步從直道
未行先起塵
。。。。。