Le temps du muguet

Il est revenu le temps du muguet, comme un vieil ami retrouvé. Il est revenu flâner le long des quais, jusqu’au banc où je t’attendais. Et j’ai vu refleurir, l’éclat de ton sourire, aujourd’hui plus beau que jamais.

Le temps du muguet ne dure jamais, plus longtemps que le mois de mai, quand tous ses bouquets déjà seront fanés. Pour nous deux rien n’aura changé, aussi belle qu’avant, notre chanson d’amour, chantera comme au premier jour.

Il s’en est allé le temps du muguet, comme un vieil ami fatigué, pour toute une année pour se faire oublier. En partant il nous a laissé, un peu de son printemps, un peu de ses vingt ans, pour s’aimer pour s’aimer longtemps.

lý tử thất – tiêu sầu

Lý Tử Thất, nàng ngồi đấy, ôm đàn và hát: …Một ly này kính cố hương, một ly này kính viễn phương, xin giữ cho tâm hồn này được thiện lương, xin cho tôi được trưởng thành… Cái gì mà “niệm niệm bất vong”, cái gì mà “cao sơn thuỷ trường”? Đến trời sáng, ai bảo mình không say thì thật đúng hoang đường.

carnival night – 2

Không ngờ nước Nga hiện đại cũng có The voice, Idol, Got talents các kiểu, không hiểu sao những thứ “tạp nham, tào lao” như vậy mà vẫn tổ chức được. Thế rồi lại đem bài này ra trình diễn, so với bản gốc hoàn toàn là… phiên bản lỗi! Ai mà còn nhớ phim này thì hẳn cũng ko còn trẻ nữa rồi…

Phim “Vũ hội hoá trang đêm giao thừa”. Bài hát “quatre minutes – 5 phút”, nữ chính tuyệt vời! “Một nụ cười ấm áp, ko nghi ngờ gì nữa, đánh thẳng vào anh ở chính giữa 2 mắt”. Phát hành 1956, phim trở thành kinh điển của điện ảnh Xô-viết, được xem mỗi độ năm mới cho đến tận ngày nay!

quê em miền trung du

Bao là gươm, bao la súng,
rừng lưỡi lê đi chiếm lại làng quê xưa…

Điệu valse nhẹ nhàng cho buổi sáng, vẫn là giọng cả Thái Thanh… Face lại nhắc những hình ảnh về biết bao vùng đất tươi đẹp mà ta đã đi qua! Bài này có 1001 lời chế, kiểu như: “ba em trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì, thiệt là điều vô lý” hay là: “quê em miền Sơn Tây, em gọi bố bằng thầy, em còn bé tí, em còn chưa có ti…”

17 moments of spring – parody

Coi cái parody này mấy năm trước, cười đến tận giờ! Phải hiểu bối cảnh một chút thì mới thấy hay: bộ phim đen trắng “17 khoảnh khắc mùa xuân”, 1973, một trong những phim thành công nhất của điện ảnh LX. Về sau, truyền hình Nga đem phim đen trắng cũ ra tô màu. Nói cho công bằng thì “tô màu” không tệ, nhưng nó đánh vào kỷ niệm của những người từng yêu thích bản đen trắng, vậy mới có cái parody dưới đây!

gde-to daleko

Proshu, khot’, ne nadolgo, Bol’ moya, ty pokin’ menya. Oblakom, sizym oblakom Ty poleti k rodnomu domu, Otsyuda k rodnomu domu. Bereg moy, pokazhis’ vdali Krayeshkom, tonkoy liniyey. Bereg moy, bereg laskovyy, Akh, do tebya, rodnoy, doplyt’ by, Doplyt’ by, khotya b kogda-nibud’. Gde-to daleko, ochen’ daleko Idut gribnyye dozhdi. Pryamo u reki v malen’kom sadu Sozreli vishni, naklonyas’ do zemli.

Gde-to daleko v pamyati moyey Seychas, kak v detstve, teplo Khot’, pamyat’ ukryta Takimi bol’shimi snegami. Ty, groza, napoi menya Dop’yana, da ne do smerti. Vot opyat’, kak v posledniy raz, YA vso glyazhu kuda-to v nebo, Kak budto ishchu otveta. YA proshu, khot’, ne nadolgo, Bol’ moya, ty pokin’ menya. Oblakom, sizym oblakom Ty poleti k rodnomu domu, Otsyuda k rodnomu domu.

Moscow nights

Hôm nay vào mood hơi cổ điển, hơi operetta một tí… trên sân khấu là một baritone – Dmitri Hvorostovsky và một soprano – Anna Netrebko và một bài hát phổ biến nhiều người biết. Một số người vẫn còn ngần ngại khi bầu chọn Anna Netrebko vào vị trí soprano hay nhất mọi nơi, mọi thời đại, vì dù sao “hay nhất” vẫn là một đánh giá rất rất chủ quan. Cuộc đời Anna Netrebko cũng là một kiểu công chúa Lọ Lem, từ người lau sàn nhà hát Mariinsky ở Saint Petersburg trở thành soprano tầm cỡ…

bumble bee

Trích đoạn phim “Thiềm quang thiếu nữ”, phim lấy bối cảnh một trường âm nhạc TQ, nơi nhánh nhạc Tây phương và nhánh nhạc cổ truyền thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Như thường lệ, cuộc chiến âm nhạc – music battle, dùng bài “The flight of bumble bee”, như đã được sử dụng trong rất rất nhiều phim khác, trích từ trong một vở opera của tác giả Nga, Nikolai Korsakov! Muốn biết tại sao gọi là “Ong bay”, nghe rồi sẽ rõ!

the blizzard

Điệu valse nhẹ nhàng, thanh thoát cuối tuần… Bài này là nhạc phim “The blizzard” (the Snowstorm, Bão tuyết – 1965), chuyển thể từ truyện ngắn lừng danh cùng tên của Pushkin. Bản nhạc, không cần đến film và truyện, tự thân nó cũng đã là kiệt tác!

double vs single

Và lẽ dĩ nhiên, cuộc tranh cãi nảy lửa, “đầu đơn” hay “đầu đôi” (double – blade vs. single – blade) vẫn sẽ còn tiếp tục mãi về sau, cho đến thế giới tương lai, trong Star – Wars, chiến tranh giữa các vì sao lần thứ N, vẫn tiếp tục có 2 trường phái oánh nhau chí choé như thế!