Partly presented very long before, some compositions that’s highly inspirational to me, the Ravi Shankar and Philip Glass album: Passages. I particularly like the Meetings along the edge and Ragas in minor scale pieces. It’s a real pleasure to enjoy the profound sounds of the Indian sitar, sarod, tabla… in conjunction with the Western instruments violin, viola, cello… For so long, my mind has been too dull and monotonous… for such a delicate and elegant music.
Category: music
the call
We’re all following a strange melody.
We’re all summoned by a tune…
And we dance beneath the moon!
Really busy lately, can’t even find some little time slots for going paddling! For many time I’ve been hearing it, the tune sounds like Enya’s Orinoco Flow (a.k.a: Sail away), and I know, it’s calling, it’s calling me. I just have to “Slide to answer”, but pressing “Remind me” is my only option right now! Surely won’t miss your next call again!
NSTarget
Once we were standing still in time,
Chasing the fantasies that filled our minds.
…Now looking back at all we’ve planned,
We let so many dreams just slip through our hands.
This has been added into my intermediate – term TODO list, a promise to return to Côn Đảo made earlier last year, in a different way, not by way of air of course. Don’t really know if I could make this, cause it’s really a tough (and adventurous) target to conquer, and there’re lots of things I also wanted and planned to do, too many of them indeed, but let just set the milestone there!
on saigon river
Chiều buông, trên dòng sông Cửu Long,
như một cơn ước mong, ơi chiều!
Về đâu, ơi hàng cây gỗ rong,
nghiêng mình trên sóng sông, yêu kiều…
A watery Saigon p1
A watery Saigon p2
A watery Saigon p3
(Many pictures taken are not very sharp, since my new fixed lens has difficulty making proper focuses through the opaque water – proof plastic cover)
For the last several months, I rarely take a camera with me while kayaking. Partly cause I don’t want to bring delicate electronics to water, partly cause I want to concentrate just on paddling. But that’s why I’ve missed many noteworthy things on the way, many times I wished I’d had a camera at the right moment.
The other day, I was paddling in the late afternoon when a large flock of white storks approached my boat in the opposite direction. The V – shape formation obviously was utilizing the “surface effect”, flying closed to water. Just 10m away, the birds raise the altitude, make lots of noises, and pass above my head, a spectacular scene!
Another day, I was taking a short rest under a big mangrove palm tree, watching a beautiful butterfly in a brush nearby. All of a sudden, a big catfish jumps from beneath the calm water, catches the butterfly in its mouth, then disappears as quickly as it comes. I wished I could have taken a picture of that interesting moment!
A colorful world of boats of all kinds and sizes on the rivers, ranging from 0.5 ton (my kayak) to 50,000 ton (this is about the upper limit for boats to traverse safely on Saigon river). The 3rd and 4th images, the pair of Sonya – class minesweepers: HQ – 863, HQ – 864 and two Svetlyak – class gunboats: HQ – 264, HQ – 265 at Hải Minh naval shipyard.
Most people I met on rivers is friendly. The local fishermen are usually timid (except when they’re drunk), the vendors are talkative and glib, only the professional sailors warmly share with me their thought on boats and boating… I receive lots of questions on my boats, and some even propose to sell / build for them another Hello World – 2.
A week ago, I passed by a group of wooden boats, whose outlooks are very different to boats of this area. The long, narrow hull, the crescent rudder, colors and decorations… those could be boats of Cambodian influences, I’d thought, very original design, little modern modifications! The next day, I come back with a camera, and they’ve gone!
Today, I met that group of strange boats again, luckily. It turned out that they’re of Cham ethnic group, not Khmer as I initially assumed, coming from Châu Đốc (An Giang province). It was so good that a really friendly young guy showed me around the group of 4 boats, 4 families living floating lives. They’re poor, but simple and sincere!
The young men then showed me that of the four boats, there’s a different one, it’s an “antique” dugout boat, made mainly from a single huge log of wood. The other 3 are modern builds, wooden planks on frame, although externally they look exactly the same. He said, the dugout boat has been handed down from generation to generation…
…And he doesn’t even know how old the boat is, but estimated that it should be older than 150 years. I examined the boat’s very original design, such a dugout is surely a very rare specimen that can hardly be found today. I then continue my paddling path, many entangled thinking in my head, twilight is gently casting on the immense river…
bắc hành – 2014
Người về miền xuôi, đem theo tình người miền núi,
Nhà sàn lả lơi, đứng bên đường hoang vắng soi.
Đưa chân anh qua đồi, cơm lam đem theo người,
Lên cao anh ôm trời, để dòng suối lẻ loi…
Ghi chép linh tinh trên đường thiên lý ra đất Bắc… Ai về Bắc, ta đi với; Thăm lại non sông giống Lạc Hồng…
Đôi khi phải hơi điên điên một chút, phải có cái nhìn bóp méo thực tế (reality distortion field) một chút, cười khinh khỉnh vào cái thực trạng xã hội bullshit bây giờ, để tâm quan sát, tìm kiếm… thì mới nhìn ra những điều tốt đẹp xưa cũ, mới nhận ra đâu là cái chất Việt thuần hậu!
HÀ NỘI
Cái logo di sản văn hoá phi vật thể của Unesco có thể được thấy trang hoàng khắp mọi nơi ở Hà Nội, cái hình tròn có lỗ vuông ở giữa, nhìn giống đồng tiền xu cổ, hình như phản ánh đúng thực tế Hà Nội bây giờ: vật giá ngày càng đắt và con người ngày càng rẻ!
BÁI ĐÍNH
Quy mô rất hoành tráng (dù điều đó chẳng có gì khó với kỹ thuật xây dựng hiện đại), nhưng đường lối kiến trúc đúng chất Việt, từ lầu chuông gác trống cho đến đường nét các mái, kèo, xà, cột… không tạp nham, lai căn, vớ vẩn kiểu Đại Nam, Suối Tiên…
TRÀNG AN
Sơn thuỷ hữu tình, thật là nơi quyến rũ lòng người! Nước suối trong vắt, cá chép vàng choé lượn lờ dưới đáy rêu, các loài thuỷ cầm tự nhiên: cốc, vịt… bơi lội tự do! Sẽ có một ngày ta mang chiếc xuồng ra đây chèo đi chơi bằng hết các ngõ ngách sông ngòi và hang động!
SAPA
Ở Hà Nội, người ta bắt chuyện với mình bằng tiếng Anh, còn ở đây, người ta nhận ra ngay người Việt. Xứ sở của lạnh giá và sương mù, phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp! Con người ta sống giản đơn, và cũng học đòi những thói xấu hiện đại… theo cách đơn giản!
Vốn không sợ độ cao, nhưng thỉnh thoảng vẫn cảm thấy ngợp trước núi đồi trùng điệp nơi đây. Sapa mùa này, phải thật kiên nhẫn mới chụp được một khung hình đẹp, ánh mặt trời rạng rỡ chỉ hiện ra vào một vài thời khắc hiếm hoi trong ngày, khi màn sương mù lạnh giá tạm vơi bớt.
Đa số chúng ta (kể cả tôi) tới đây với mong muốn có được những khung hình đẹp, nhưng phải chăng đó là tất cả mục đích của hành trình? Suy rộng ra, cái câu hỏi: chúng ta tới đây để làm gì?
ấy, nếu ai đó còn có trong đầu một câu trả lời, tức là còn… chưa trả lời được vậy!
Những cung đường Tây Bắc không dành cho người yếu tim, chỉ một giây lơ là mãi ngắm nhìn cảnh quang xinh đẹp là đã có thể lạc tay lái xuống vực. Khác với thời tiết 3°C mấy ngày đầu lên đây, những ngày sau ấm hơn và có nắng, hôm nào máy ảnh cũng hết sạch pin rồi mới trở về!
LAI CHÂU
Đèo Ô Quý Hồ, dài và hiểm trở, cắt ngang qua dãy Hoàng Liên Sơn, đổ từ độ cao 2000 m xuống 1000 m, đúng nghĩa là dốc thăm thẳm. Một bên là đỉnh Phan Xi Păng, bên kia là huyện Tam Đường, Lai Châu. Bên này đèo thời tiết ấm và khô, bên kia, phía Sapa, lạnh và ẩm.
Cả một vùng Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ, t.p Lai Châu tương đối ít núi cao, khí hậu ấm hơn, đất đai cũng rộng rãi hơn, con người cũng có phần cởi mở, thân thiện hơn. Hôm nay cũng là ngày Tết của họ. Tiếc là đã đến Sìn Hồ mà không đủ thời gian để đến Pú Đao…
BẮC HÀ
Đi chợ phiên Bắc Hà đầu năm (cách Sapa hơn 100km), tình cờ ghé qua đây, ngồi bên ngã ba sông Hồng và sông Nậm Thi, cầu Cốc Lếu, bên kia sông là Hà Khẩu, Trung Quốc. Và cũng thật tình cờ, mùa này tháng 2, chính xác là ngày 17 tháng 2, đúng 35 năm trước…
Phiên chợ đầu năm chưa đông, nhưng đã rực rỡ sắc mầu, riêng người Mông đã có 5 sắc khác nhau (đen, hoa, xanh…), người Dao có đến 23 nhóm nhỏ (đỏ, đen, xanh, trắng…), lại còn Thái, Tày, Nùng, Dự, Giáy… Học cách phân biệt các sắc mầu cơ bản cũng đã hết cả một buổi.
Khá nhiều địa danh vùng Đông Bắc, Tây Bắc Việt Nam có nguồn gốc từ tiếng Hoa, chính xác hơn là phát âm theo tiếng Quan Thoại giọng vùng Vân Nam, Trung Quốc. Ghi lại ở đây một số từ phổ biến:
tả, 大, đại, lớn: Tả Van; séo, 小, tiểu, nhỏ: Séo Tung Hồ; lao, 老, lão, già, cũ: Lao Chải; sìn, 新, tân, trẻ, mới: Sìn Hồ; phìn, 坪, bình, bằng: Tả Phìn; thàng, 塘, đường, ao, đê: Lùng Thàng; chải, 寨, trại, trang trại: Mù Cang Chải; cai, 街, nhai, ngã tư: Si Ma Cai; hồ, 河, hà, sông: Ô Quý Hồ; chéng, 江, giang, sông: Sín Chéng; cấu, 沟, câu, suối: Cán Cấu; san, 山, sơn, núi: Phìn San; sàng, 上, thượng, bên trên: Sàng Chải; sả, 下, hạ, bên dưới: Sả Séng; tung, 中, trung, ở giữa: Tung Chải; tra, 家, gia, nhà: Má Tra; sa, 沙, sa, cát: Sa Pa; sử, 石, thạch, đá: Mù Sử; lủ, 路, lộ, đường: Ma Lủ; ma, 馬, mã, ngựa: Ma Sa Phìn; lùng, 龍, long, rồng: Lùng Phìn; giàng, 羊, dương, con dê: Giàng Phìn; nàn, 南, nam – phía nam: Nàn Sán
HÀ GIANG
Đã Hà (河) lại còn Giang (江), nơi đây có rất nhiều suối, sông nhỏ chảy dọc theo thung lũng, bản làng cũng nương theo đó hình thành. Những ngôi nhà sàn của người Tày dài thậm thượt, ruộng nương xanh tốt. Hà Giang là vùng đất mà tôi thích nhất trong số những vùng đã đi qua!
Cao nguyên đá Đồng Văn, như bị lạc vào một ma trận, một sa mạc đá. Đá mọi nơi, nhìn hoa cả mắt, thi thoảng mới thấy chút xíu đất có thể trồng trọt. Gió lạnh căm căm thổi suốt ngày đêm, một cái lạnh khô khốc, các làng xã đều xây hồ treo lớn chứa nước phòng khi hạn hán.
Cuộc sống nơi đây cực kỳ khắc nghiệt, thế nhưng khác hẳn với cái nhếch nhác vùng Sapa, cư dân nơi đây có vẻ chỉnh tề, quy củ, kỷ luật, từ y phục cho đến sinh hoạt, sản xuất, vui chơi. Cảm thấy được nghị lực và sức sống vươn lên từ vùng sa mạc đá này!
Tp. Hà Giang, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, về lại Hà Giang, một vòng 300 km. Làm 2 vòng như thế theo 2 chiều ngược nhau để không bỏ sót điều gì… nhất là Mã Pí Lèng hùng vĩ nhất VN, con đèo mà nhiếp ảnh nghiệp dư như tôi không thể nào lột tả hết được.
Không quên ghé qua Sủng Là, nơi quay phim Chuyện của Pao. Bây giờ đúng vào mùa hoa tam giác mạch tim tím và hoa cải vàng ươm nở rộ trên cao nguyên hun hút gió. Đến để biết rằng một không gian như thế, những con người như thế… là điều hoàn toàn có thật!
Kể chuyện đi ăn cháo ấu tẩu tại Hà Giang. Ấu tàu là loại củ kịch độc, dùng làm thức ăn phải qua chế biến kỹ càng. Bữa đầu tiên, bát cháo có mỗi lát ấu tẩu bằng cái móng tay. Ngồi nói chuyện trên trời dưới đất với vợ chồng chủ quán, phong thái người Bắc xưa, chẳng có gì giống Bắc bây giờ, đã thấy là một chuyện lạ (nghĩ bụng là dạng Kinh già hoá Thổ, người xuôi lên mạn ngược lập nghiệp lâu đời, giữ nguyên giọng nói, phong cách xưa cũ). Đến bữa thứ hai, ngoài vài lát ấu tẩu, còn được thêm cái móng heo, thêm một chút lạ. Đến bữa thứ ba, thấy chuyện lạ nhất: được một tô toàn ấu tẩu, ăn đến phát ngán!
barcarolle
Đến đây với tôi cánh buồm đỏ thắm xa vời…
Experimenting with this new kind of first person shooting (on a second thought, almost any photo and video are first person’s view, aren’t they!?). Let press play, then press the fullscreen button to see the 720p, and turn on the speakers too. I don’t have much video shooting and editing experiences, but the up – coming capturings (to be uploaded in the next few weeks) would be better, I promise!
About the music: it’s a Vietnamese interpretation (sung by Mỹ Linh) of Tchaikovsky – The Seasons‘ 6th piece named: June – Barcarolle, usually known in Vietnamese under the titles: Tháng sáu (June) or Chèo thuyền (Barcarolle). Yet it’s a bit late (now is August already, not June anymore) but anyhow, wonderful are the enjoying moments!
Solo:
Tandem:
paddle on
Rowing is the only sport that originated
as a form of capital punishment…
Crossed a major milestone in paddling: 10 kilometers roundtrip finished in 2h 15′ (including resting time), speed – made – good averages out at 4.4 kilometre per hour (km/h), or almost 2.4 knot. That is already better than the baseline usually applied for casual paddlers at about 3.3 km/h, but much behind that of frequent paddlers, they can easily make it at 5 ~ 6 km/h. Of course, velocity depends on various other factors, most importantly the boat and paddle designs, which I currently don’t have much choice.
About range, that’s still not half of my ultimate (projected) target somewhere around 25 km, which approximates a typical whole – day canoe camping trip. Still having a very large gap to try and overcome! Paddling for me is not racing, and like they often say: it’s a marathon, not a sprint!
, but you need some measures to evaluate your performance progress anyhow. As I paddle on, I’ve learned some below lessons.
Most beginners like me are low – angle paddlers, naturally. That is arms rarely raise up to shoulder level, the paddle’s shaft is more often in a horizontal position, the “angle of attack” at which the paddle’s blades enter water is much smaller than 90°. In contrast, high – angle paddling requires keeping ams at shoulder level, paddle’s blades penetrate water in a near – vertical manner. For beginners, the first approach cause less tiredness: arms don’t need to be kept high, and movements are easier.
But high – angle is more efficient: first, blades enter water at steep angle, providing more propulsion. Second, blades are nearer to the hull, producing less turning moment and more forward – pushing torque. And third, most importantly, not just your arms pull and push the paddle, but the rotation of your torso brings much force into action, and helps relieving stresses to your hands and arms. So, I’ve tried overcoming the fatigue of high – angle paddling, in the long run, it will make benefits.
Paddling a boat sometimes reminds me of the Latin phrase: Mobilis in mobili
, yes you may have remembered it, captain Nemo’s personal motto in Jules Verne’s famous novel: Twenty Thousand Leagues Under the Sea, moving in a moving environment, moving amidst mobility… The wind, the wave, currents, all affects your rowing, sometimes you go along the current, sometimes against it, sometimes with the aid of winds and sometimes, winds are your enemy.
And the waves too, on the rivers where I go paddling, waves are mostly under 1 foot high, upto 2 feet in the wind gusts, not enough to pose any threat to the boat’s stability, but can make lots of troubles in keeping up a steady course. Sometimes, the current, wind and waves, all at the same time, corporately and deliberately push me off course, sometimes I could hardly make an advance at all, and it turned out to be a real fight in which I need to keep my stamina over a long distance and over extended period of time.
Some of my lessons learned: don’t put too much effort into each paddling strokes, perform strokes gently in a smooth rhythm. Don’t paddle in too shallow water (less than 1 ~ 1.5m), that will considerably reduce boat speed by 1/4 ~ 1/3. (I don’t really understand the physics of this fluid – flow dynamics though). Don’t try to perform many corrective strokes: sometimes the boat is not on an intended heading (e.g: there’s usually some flow turbulence where river changes its direction, or where river’s branches join…)
And you would try to correct it by adding more strokes on one side, it’s not the right way. Instead, just paddle in balance, then offset the heading by a small angle to compensate the dragging effects. That will eventually make your boat’s path slightly zig – zag, but in reality, a direct line is not always the shortest path between 2 points, it’s so in the 2D Cartesian space (e.g: map) only, not in a higher – dimensional space where we take other factors (current, wind…) into account.
non, chéri
Non chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Non chéri, tu rêves de folies, tu as brisé tout ce que nous avions bâti. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans joie, sans toi, mon amour. J’entends les pas dans l’escalier, mais ils ne s’arrêtent pas ici. Et quand le silence soudain revient, j’ai si peur qu’entre nous, ce soit la fin de tout. J’ai même perdu confiance en moi, oui, je t’imagine dans d’autres bras qui, t’emporteront loin de moi, et de notre idylle.
Non chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Non chéri, dans l’espace d’une nuit, tu as détruit tout ce qui nous avait uni. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans joie, sans toi, mon amour. Je vais je viens seule dans la maison, où chaque objet me parle de toi. Hier on était là tous les deux, et en quelques heures l’avenir me fait peur. Pourtant j’espère que tu reviendras qu’avant le matin tu rentreras, j’essaierai de ne pas te montrer toute ma peine.
Non chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans toi, sans toi mon amour!
femme d’aujourd’hui
Toi le symbole de toutes nos libertés,
Tu es la terre qui cherche sa vérité,
Détruisant des montagnes de tradition,
Tu reproposes une nouvelle version.
Femme sous le drapeau de ses rêves, crie son nom, retire ses chaînes. Femme qui se soutient différente, que d’espoir sur la balance. Tu étouffes dans l’île de tes faiblesses, peur de ces blessures qui restent. Toi le symbole de toutes nos libertés, tu es la terre qui cherche sa vérité. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui. Détruisant des montagnes de tradition, tu reproposes une nouvelle version. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui.
Femme, une force qui vibre dans l’espace, tu es la passion sans arme. Femme, complice intime ou guerrière, un voile tâché de mystère. Toi le symbole de toutes nos libertés, tu es la terre qui cherche sa vérité. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui. Détruisant des montagnes de tradition, tu reproposes une nouvelle version. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui.
je ne pourrais jamais t’oublier
Bên thành rượu tiễn;
Buổi chia bào bịn rịn những ai ai.
Khách ra đi nao nức bốn phương trời,
Người ở lại luống ngậm ngùi năm tháng cũ.
Tiens, bonjour, comment vas — tu, dis — moi? Dis, te souviens — tu encore de moi? Moi, il m’arrive souvent de penser à toi. Mais à part ça, comment ça va? Toi, vraiment tu n’as pas trop changé. Moi, tu sais, j’ai beaucoup voyagé. Oui en effet, j’ai découvert d’autres pays. Et toi, qu’as — tu fait de ta vie?
Je parle trop, tu es pressé, je ne voudrais pas te déranger. Si j’en dis trop, c’est pour t’aider, à retrouver le temps passé.
Est — il vrai qu’elle me ressemble un peu? On dit qu’elle a aussi les yeux bleus. Es — tu certain d’être plus heureux maintenant? Moi, je t’aime, je t’aime toujours autant. C’est la vie, on n’y peut rien changer. Nous sommes aujourd’hui des étrangers. Je vois très bien, dans tes yeux, qu’il n’en reste rien. Notre amour que tu es loin!
Je parle trop, tu es pressé, je sais, je ne veux plus te retarder. Encore un mot, et je m’en vais, tu sais, je ne pourrai jamais t’oublier!
those were the days
Những đêm khuya yên tĩnh, làm việc xong chuẩn bị đi ngủ, thi thoảng vẫn có một “thú vui tao nhã” mở tủ lấy cái đĩa than Apple 2 – Post Card, nhẹ nhàng thổi bụi, bỏ lên “bàn xoay” – turntable, se sẽ chỉnh cho chiếc kim chỉ vào đúng track, chỉ để được nghe đúng một bài này, cái âm thanh mộc và ấm, cùng giọng ca trong vắt Mary Hopkin.
Those Were The Days est, à l’origine, une vieille chanson du folklore tzigane russe, encore souvent jouée aujourd’hui par les musiciens ambulants. La chanson a été reprise par la suite en français (Le temps des fleurs), en allemand, en espagnol, en italien et en plusieurs autres langues
, et en Vietnamien aussi, par le musicien Phạm Duy sous la titre: Tình ca du mục – Chanson d’amour gitane.
l’oiseau et l’enfant
Pays d’amour n’a pas de frontière,
Pour ceux qui ont un cœur d’enfant!
Bài này, bản instrumental (Paul Mauriat) thì đã nghe từ xửa từ xưa, nhưng mới tình cờ nghe bản vocal của Marie Myriam gần đây (cũng hơi ngược đời). Âm điệu sôi nổi: beau, le bateau dansant sur les vagues
– đẹp như con tàu nhảy múa trên sóng. Cách đặt lời rất hay và dễ thương, từ kết của một đoạn là từ bắt đầu của đoạn kế và cứ như thế, như để khớp vào cái nhảy múa của nhạc điệu!
L’amour, c’est toi, l’amour, c’est moi… Pays d’amour n’a pas de frontière, pour ceux qui ont un cœur d’enfant!
Tình yêu, đó là em, tình yêu, đó là anh! Xứ sở tình yêu không bờ bến, cho những ai giữ được con tim hồn nhiên như trẻ nhỏ! Cô Marie Myriam trình bày bài này có thần thái rất chi là giống nhân vật nữ chính, sơ Maria trong phim Tiếng tơ đồng – Giai điệu hạnh phúc – The sound of music!
gặp cụ phạm duy
Hôm nay ghé thăm cụ Phạm Duy, một là sau thời gian dài trao đổi qua email, cụ gọi mình đến để “phổ biến” album nhạc mới nhất vừa hoàn thành, hai là trước sau gì cũng phải được gặp “tượng đài âm nhạc” của mình một lần! Đến lúc cụ đang nằm dài trên sofa cho người ta châm cứu khuôn mặt (diện châm), chốc chốc lại rút cái iPhone 4S trắng trong túi áo bà ba đen ra để tự chụp chân dung, xoay tới xoay lui cái phone để tự chụp cả chục kiểu. 92 tuổi như cụ, không chỉ sự nghiệp âm nhạc, mà còn sức khoẻ quả là trời cho!
Cụ nói chuyện rất mạch lạc, biểu cảm, cái thần thái hãy còn tinh anh lắm, lúc trầm ngâm suy tư, lúc khoát tay trò chuyện, tầm bao quát của suy nghĩ, dù không nói nhiều, lúc nào cũng như đi trước người khác, và đi trước một cách vừa đủ, chừng mực, nét linh lợi, sắc sảo vẫn còn sinh động nơi khoé mắt, không bỏ sót một chi tiết nào, và đặc biệt là cụ rất thích làm dáng chụp ảnh! Chẳng bù với cái mặt đờ đẫn (hôm trước thức đêm làm việc đến 3h sáng) của mình.
Tiếc là những hình này cũng chụp bằng iPhone 4S nên không thể thật rõ đẹp như máy ảnh được. Hình bên: mặt trước và sau album mới nhất của NS Phạm Duy mang tựa đề: Dị khúc Bích Khê, lấy chủ đề và cảm hứng từ thơ Bích Khê, Duy Cường hoà âm, album này không phát hành thương mại, chỉ “lưu hành nội bộ”, tôi sẽ dần dần post một vài bản trong album này để giới thiệu 10 thử nghiệm mới nhất của NS trong những năm gần đây.
histoire d’un amour
Mais naive ou bien profonde,
C’est la seule chanson du monde,
Qui ne finira jamais…
Hơn mười năm về trước, vẫn hát bài này mỗi lần hội trại (khoa CNTT, trường KHTN), hát bằng tiếng Pháp với độc một cây organ đệm, vẫn biết có một cái lời Việt của cụ Phạm Duy: chuyện tình yêu đôi ta ngày ấy đẹp như thơ… dìu nhau qua bao nhiêu hè phố mưa, ngồi ôm nhau công viên lạnh giá…
, nhưng nhạc Pháp phải tự mình hát bằng tiếng Pháp thì mới thấu cái hay, mới đạt cái tinh thần của nó, đằm thắm và sôi nổi, như khi được nghe Dalida ca bài này với cái chất giọng pha ngữ âm Ý của bà.
C’est la flamme qui enflamme sans brûler, c’est le rêve que l’on rêve sans dormir… mais naïve ou bien profonde, c’est la seule chanson du monde, qui ne finira jamais, c’est histoire d’un amour
: đó là ngọn lửa không cần đốt vẫn mãi cháy sáng, là giấc mơ mà chẳng cần phải ngủ, ta mơ ngay giữa ban ngày, vừa ngây thơ ngơ ngác, vừa sâu thẳm khôn cùng, là khúc ca mãi du dương bất tuyệt, đó là câu chuyện tình tôi!
quelque chose dans mon coeur
J’aimerai que le temps s’accélère…
Quelque chose dans mon cœur,
Me parle de ma vie… qui je suis!?
Lâu không nghe lại bài này, một bản nhạc Pháp dành cho tuổi “mãn teen” (hay cho cả tuổi “hồi teen”?). Mes parents me voient trop petite, mes copains me grandissent trop vite. Même si je leur tiens encore la main, quelque chose me tire vers demain
: ông bô bà bô xem tôi còn bé lắm, bạn bè tôi lại lớn thật nhanh, trong khi tôi vẫn đang nắm tay họ, điều gì đó (khác) kéo tôi hướng về tương lai < = nhận ra bạn bè lớn nhanh hơn mình, mà vẫn cảm thấy mình đi theo một con đường riêng, khác biệt.
Quelque chose dans mon cœur, me parle de ma vie. Entre un grand mystère qui commence, et l’enfance qui finit… et la peur que j’oublie qui je suis
: điều gì đó trong trái tim nói với tôi về cuộc đời mình, tuổi thơ đã qua đi, những bí mật lớn bắt đầu… và lo sợ rằng tôi sẽ quên đi tôi là ai < = cái tính egoistic của người nghệ sĩ là đây (mình từng có cảm giác này) chưa rõ mình là ai, sẽ làm gì, nhưng vẫn sợ quên đi mất mình là ai trên cõi đời này.
Je voudrais faire le tour de la terre, devenir une autre Ava Gardner. Écrire avec mon écriture, mes passions secrèts sur les mûrs… Et pouvoir revenir en arrière, pleurer dans les jupes de ma mère
: Tôi sẽ đi vòng quanh thế giới, sẽ trở thành một Ava Gardner thứ hai. Tôi sẽ viết lên tường những khát khao thầm kín. Mà cũng có thể có lúc sau này, quay trở về khóc trong tà váy của mẹ < = này thì đơn thuần là nữ tính!
trương chi
Thi thoảng lại thích nghe đủ các loại mùi ngũ cung – pentatonic hoà lẫn vào nhau trong những tác phẩm của nhạc sĩ Văn Cao, thích nhất là những đoạn chuyển bất chợt qua ngũ cung Trung Hoa rồi về lại ngũ cung Việt Nam… Nhạc Văn Cao (giai đoạn đầu) phức tạp theo một cách mà không ai khác làm được, cái phức tạp thoáng thoáng mơ hồ của một distinctive genius.
Các nghệ sĩ lớn gặp nhau ở những… chủ đề lớn: Trường ca sông Lô của Văn Cao đứng vào hàng tuyệt tác, nhạc sĩ Phạm Duy cũng có bài Tiếng hát sông Lô cũng hay nhưng không bằng. Văn Cao có bài Thiên Thai, Phạm Duy cũng có Tiếng sáo Thiên Thai chưa sánh ngang được. Văn Cao có Trương Chi thì Khối tình Trương Chi của Phạm Duy vẫn còn kém thua.
Tuy vậy cá nhân tôi lại thường thích nghe Khối tình Trương Chi hơn là Trương Chi của Văn Cao, nhạc Phạm Duy có một cái mùi ngũ cung Việt Nam thuần khiết, nguyên bản không pha, không lẫn đâu được. Nhiều người đã ước giá như Văn Cao được sống trong một không gian khác…
Ví von một cách tương đối, nếu xem Phạm Duy như Lý Bạch của Tân nhạc, thì Văn Cao chính là Đỗ Phủ vậy, còn từ quan điểm âm nhạc đại chúng thì Bạch Cư Dị, ta cũng biết là ai đó rồi! Có người đùa bảo giờ ai mà đi thích nhạc ngũ cung thì tức là… cũng ngu. Ai khôn thì mặc, tôi cứ mãi “cũng ngu” như thế!
người đàn bà hát
Ôi giấc mơ qua,
Mộng đời phiêu lãng giang hồ.
Sống trong lòng người đẹp Tô châu!
Hay là chết bên dòng sông Danube?
Thỉnh thoảng lại post một bài để tự gợi nhớ mình về “người phụ nữ của lòng tôi”, người phải được đặt cái tên: người đàn bà hát
– la femme qui chante
. Rất nhiều nữ ca sĩ Việt Nam “tự cổ chí kim” muốn giành giật, cũng đã có người tự tiện vơ về mình cái mỹ hiệu đó.
Theo tôi chẳng có ai xứng đáng cả (đàn bà thì có, mà hát thì không), không một ai ngoại trừ Thái Thanh. Tôi chưa gặp Thái Thanh lần nào cả… hãy nghĩ rằng cô ấy trẻ, đẹp và đằm thắm như giọng hát của cô, và chỉ giữ lại từng đó thôi…
, đó là lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh khi nói về tiếng hát trên trời Thái Thanh.
đôi bờ – quang dũng
Nghe bài này, tuy cũng là tác phẩm của chính phái danh gia Cung Tiến mà sao cứ phảng phất âm hưởng của Đôi mắt người Sơn Tây – Phạm Đình Chương!? Đoán chắc hẳn là cái bóng của đại tác phẩm quá lớn, khó mà vượt lên nổi được! Chỉ một bài thơ này (cùng với Đôi mắt người Sơn Tây) đã để lại không biết bao nhiêu là dấu vết trong các tác phẩm nhạc về sau!
Cũng giống ý như Đôi bờ – nhạc Nga: hai bờ sông song song, tuy luôn đi bên nhau mà không bao giờ gần nhau được! Những nhạc phẩm thời gian đầu của Cung Tiến: Hương xưa, Hoài cảm, Thu vàng, Mắt biếc… thì đã quá nổi tiếng rồi, thích nghe những tác phẩm sau này của ông: Lệ đá xanh, Hoàng hạc lâu, Khói hồ bay, Vết chim bay… có nhiều nét nhạc tuy thất cung, Tây phương nhưng ý nhạc lắt léo, vi tế, mơ hồ, mới lạ!
kiếp nào có yêu nhau!?
Hẳn người thôi đã quên ta? Trăng thu gãy đôi bờ, chim bay xứ xa mờ.
Gặp người chăng? Gặp người chăng? Nhắn cho ta:
Hoa xanh đã bơ vơ, đêm sâu gối ơ thờ!
Kiếp nào có yêu nhau!?
Lần nghe đầu tiên: cảm giác như bị “sốc thuốc”, ngợp vì cảm xúc truyền tải qua bài hát, và hiểu ra rằng vẫn có cách để diễn đạt những tình cảm đau khổ đến mức thiêng liêng như thế. Lần nghe thứ hai: tự mỉm cười, thì ra so với bản thân, những “tình cảm học trò” của cá nhân mình cũng không là cái đinh gì, thôi thì tự biết bằng lòng làm một kẻ thô lậu tầm thường để ngưỡng mộ những cảnh giới cao hơn của cảm xúc con người và của âm nhạc.
Lần nghe thứ ba: nhíu mày, sống mà đau khổ thế này không bằng chết, tình yêu mà vô vọng thế này, chi bằng đừng yêu là hơn, tắt nhạc, không muốn nghe nữa… Rồi lần nghe thứ n, n + 1… Những bạn trẻ nếu có nghe nhạc cũ, nên nghe bài này qua giọng ca Mỹ Linh trước, dù sao thì chất giọng Mỹ Linh cũng mang tính contemporain, dễ thấm hơn. Còn mình lại thích nghe Thái Thanh và Bích Liên hơn, vì chưng mình không còn trẻ nữa chăng!?
million scarlet roses
Ca khúc hầu như ai cũng biết, ai cũng thuộc, nhưng hãy biết kỹ hơn một chút về bài này… Nguyên phổ thơ của Andrei Voznesensky, người được xem là truyền nhân của Boris Pasternak (nhà văn mà tôi ngưỡng mộ nhất trên tất cả những người khác). Andrei Voznesensky là người mà Pasternak đã phải nói: tôi rất vui khi còn sống để thấy một văn tài như anh xuất hiện
.
Bài thơ là do ông viết đề tặng Anna Pugacheva, nữ danh ca trình bày bài hát bên đây. Tuy không hiểu tiếng Nga, nhưng hai bản dịch Anh, Việt dưới đây cũng cho tôi tìm lại được phần nào ý thơ trong nguyên tác!
Once upon a time, there lived an artist,
A house he had and canvases.
He felled in love with an actress,
The one who loved flowers.
He then sold his house,
Sold his paintings and shelter.
And for all those money he bought,
A entire sea of flowers.
Millions of scarlet roses,
Through the window you can see.
Whoever’s in love with you seriously,
Will turn his life, for you, into flowers.
In the morning, in front of the window
Maybe you would be out of mind.
Like the continuation of a dream,
The square is full of flowers.
The heart freezes,
What’s a rich man fooling around here?
Whereas beyond the window,
Barely is standing the poor artist.
The meeting was short,
That night, a train took her away.
But in her life from then there is,
A song called: “The mad rose”.
The artist lived alone,
Lots of trouble he’d gone through.
But in his life there’d been,
A whole square full of flowers.
Xưa một chàng họa sĩ,
Có tranh và có nhà.
Bỗng đem lòng yêu quý,
Một nàng rất mê hoa.
Và chiều lòng người đẹp,
Để lấy tiền mua hoa.
Chàng đã đem bán hết,
Cả tranh và cả nhà.
Chàng đã mua hàng triệu bông hồng,
Ngoài cửa sổ cứ nhìn ta sẽ thấy.
Rằng người yêu có yêu thật hay không?
Khi bán nhà để mua hoa như vậy!
Sáng hôm sau thức dậy,
Nàng nhìn ra lặng người.
Tưởng đang mơ vì thấy,
Cả một rừng hoa tươi.
Nàng ngạc nhiên, đang nghĩ,
Ai đây chắc rất giàu?
Thì thấy chàng họa sĩ,
Đang tội nghiệp, cúi đầu.
Họ gặp nhau chỉ vậy,
Rồi đêm nàng đi xa.
Nhưng đời nàng từ đấy,
Có bài hát về hoa.
Có chàng họa sĩ nọ,
Vẫn vợ không, tiền không.
Nhưng đời chàng từng có,
Cả một triệu bông hồng.
























































































































