catamaran, 1

Hai thân thuyền: đều dài khoảng 16m, một rộng 1.95m và một rộng 2.05m, nhưng đây chỉ là số đo sau khi đã bị vùi lấp và biến đổi theo thời gian! Từ quan điểm của một người có kinh nghiệm đóng xuồng, với độ sâu đáy đến 1.8m và mạn thuyền dốc như vậy thì độ ổn định sẽ rất thấp nếu đứng riêng lẻ. Hơn nữa tỷ lệ rộng / dài lên đến 1/8, dài khá là bất thường, lại có dấu vết đấu nối ở 2 mũi thuyền. Tổng hợp chừng đó thông tin lại, ta có thể khẳng định hầu như chắc chắn…

Đây là 2 thân của một chiếc catamaran, được liên kết lại với nhau để bảo đảm độ ổn định tổng thể! Nếu có một chiếc buồm càng cua – crab-claw sail nữa thì sẽ có thêm bằng chứng Vịt tộc thực sự có một phần nguồn gốc Austronesian, tộc người đi khắp Thái Bình Dương với đặc trưng là thuyền nhiều thân và buồm càng cua! Phần còn lại, các bạn có thể tự tưởng tượng ra, chàng Lạc Long Quân cao – to – đen – hôi đã gặp nàng bạch – phú – mỹ Âu Cơ như thế nào nhé! :D

công nghệ quốc phòng

Thử nhìn lại 2 sự kiện: năm 1858 – 1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng với 3000 quân, đội tàu 14 chiếc, soái hạm là chiếc Némésis tải trọng 2300 tấn, 50 pháo! Quân triều đình có khoảng 7 ngàn người, nhìn chung là đã phòng thủ hiệu quả, khiến cho liên quân Pháp – Tây Ban Nha chịu thiệt hại và phải rút lui. 15 năm sau, 1873, chỉ với 180 lính (!!!) do viên trung úy Francis Garnier chỉ huy cùng hai tàu pháo (tàu nhỏ, còn chưa được gọi là chiến hạm) tấn công thành Hà Nội, khoảng 7000 quân triều đình tan vỡ, tháo chạy! Có điều gì rất “không đúng” khi so sánh hai trận đánh cách nhau 15 năm này, dù cả hai trận, bên phía VN đều có cùng một người chỉ huy là Nguyễn Tri Phương! Điều gì khiến cho một bên chỉ có 180 lính lại dám tấn công một bên có đến 7 ngàn quân!?

Điều “không đúng” đó chính là… công nghệ! Năm 1858, tuy tàu Pháp to, pháo lớn, nhưng đa số vẫn là loại bắn đạn gang tròn, nạp từ phía trước, công nghệ cơ bản gần giống như thứ nhà Nguyễn sở hữu! Tại thời điểm 1873, đó đã là các loại hải pháo cỡ nòng lớn, nạp đạn đằng sau, dùng đạn trái phá (đạn có nhồi thuốc nổ)! Sau vài loạt đạn đầu tiên, với sức công phá khủng khiếp của nó thì bên phòng thủ đã kinh hoàng bỏ chạy hết cả! Đạn trái phá được người Nga dùng lần đầu tiên trong Hải chiến Sinop, 1853, nhưng phải mất một thời gian để công nghệ này trở nên phổ biến! Nửa cuối TK 19 chứng kiến sự thay đổi đến chóng mặt về công nghệ quốc phòng: tàu buồm vỏ gỗ (ship of the line), rồi tàu buồm vỏ gỗ có dùng phụ thêm động cơ hơi nước (paddle steamer, screw steamer)…

Rồi tàu buồm vỏ gỗ bọc sắt dùng động cơ hơi nước và đạn trái phá (ironclad), rồi tiến dần lên tàu vỏ sắt / thép dùng động cơ steam – turbine, không xài buồm nữa (Dreadnought), kèm theo đó là công nghệ súng đạn mới, tất cả thay đổi nhanh đến chóng mặt, một con tàu mới đóng ra chưa đến 10 năm đã thành lạc hậu. Nên nhiều khi chúng ta học lịch sử theo kiểu chỉ lặp lại một số sự kiện chứ không thật sự hiểu được các yếu tố kỹ thuật, công nghệ nền tảng bên dưới! Cũng trong thời gian đó, nhà Thanh ở Trung Quốc quả thực đã có nỗ lực cải cách, họ đã tự sản xuất được súng trường hiện đại và một vài loại pháo nhỏ, nhưng rút cuộc vẫn không thể cứu vãn được thời cuộc, vì cái sự thua sút về kỹ thuật công nghệ này quá lớn, phải mất nhiều thế hệ để vượt qua.

Winchester 1866

“Cơm vua áo chúa hưởng bấy lâu, Đến khi có giặc phải thuê Tàu…” Câu thơ của Ông Ích Khiêm đó là nói về đội quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc, “đánh thuê” cho nhà Nguyễn để chống lại thực dân Pháp! Mà cái yếu tố duy nhất khiến quân Cờ đen có thể đối chọi lại với người Pháp chính là… khẩu súng trường Winchester. Được xem là khẩu súng của miền viễn Tây, thường thấy trong các phim cao bồi Mỹ, có thể nạp đến 7 viên đạn trong một ống chạy song song dưới nòng súng, loại súng mà sự xuất hiện của nó khiến người ta phải thốt lên: nó bắn từ Thứ hai cho đến Chủ nhật!!!

Là ám chỉ cái khả năng nạp 7 viên đạn của nó, vô cùng tiên tiến nếu so với các loại súng hỏa mai mất cả phút vẫn chưa nhồi xong một viên đạn, chưa nạp xong đạn thì bên kia đã bắn 7 phát rồi! Nhưng vẫn chưa rõ phiên bản Winchester mà quân Cờ đen xài là loại đạn vỏ giấy, hay đã là loại đạn vỏ đồng hiện đại! Nhà Nguyễn trả lương cho quân Cờ đen, để họ cùng phối hợp chống Pháp! Nhưng hầu như chỉ có quân Cờ đen đánh thật mà thôi, lính VN… ở phía sau hò reo trợ chiến là chính, đơn giản là không thể tham chiến khi chỉ có đao kiếm và một ít súng hỏa mai cổ lỗ sĩ được.

Sự nhanh nhạy cộng với khả năng giao thương bằng thuyền buồm rộng khắp khiến cho người TQ mua được nhiều vũ khí hiện đại! Tuy không thể có thuyền to, pháo lớn như người Pháp, nhưng so với súng trường Chassepot của Pháp thì Winchester vẫn cùng một thế hệ, vẫn “bám thắt lưng địch mà đánh”, vẫn ở thế có thể cầm cự được! Nên phải hiểu các yếu tố kỹ thuật đóng một vai trò sống còn, khi thành Ninh Bình do 1700 quân Việt giữ lại… đầu hàng một nhóm lính Pháp chỉ có… 7 người, chiếm cả đồng bằng Bắc bộ, người Pháp dùng chưa đến 300 quân!

kiểm soát vũ khí

Xem phim cổ trang TQ, một vị hoàng đế mặc thường phục vi hành… Trong ảnh có thể thấy mấy người thị vệ cầm đoản đao, dài chưa đến 5 tấc kể cả cán. Nghĩ bụng cẩm y vệ mà không sắm được trường đao cho nó đàng hoàng hay sao!? Nhưng nghĩ lại, đây là thời Tống, vũ khí được kiểm soát chặt chẽ!

Mang trường đao thì khác nào tự để lộ thân phận lính triều đình!? Thời Tống, xã hội dân sự phát triển cao, nhiều quy định kiểm soát vũ khí rõ ràng! Ví dụ quy định dân thường được xài đao dài tới bao nhiêu, quy cách thế nào!? Ấy thế mà thời hiện đại, chờ mãi cũng chưa thấy quy cách nào!

sở hữu yếu

Xem phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc thấy được vài điều… Điều gì khiến cho triều Thanh trở nên mạnh mẽ, chiếm được “thiên hạ” và hoàn toàn khác biệt so với các triều đại khác của TQ? Nếu chỉ xem lướt lướt các phim thì có vẻ như triều đại phong kiến nào cũng giống nhau! Nhưng thực ra, so với thể chế chính trị cực kỳ hủ bại và tàn ác của triều Minh trước đó, thì triều Thanh “ngoại tộc” thực sự có những yếu tố mới mẻ và lấy được lòng dân! Ít nhất là ở giai đoạn đầu, yếu tố cơ bản khiến Thanh triều khác biệt chính là cái mà tôi gọi là “quyền sở hữu yếu” của nó.

Nhưng như thế nào là “quyền sở hữu yếu”!? Đầu tiên, vì gốc gác là dân tộc du mục, người Mãn không có khái niệm sở hữu đất đai, không phân phong cho ai quyền cai quản đất đai vĩnh viễn. Nên dùng chữ “phong kiến” ở đây chỉ đúng một nữa, vì tuy có “phong vị” nhưng lại không có “kiến địa”. Xã hội Mãn châu nguyên thủy được tổ chức thành các đơn vị cơ bản, một mô hình dân – quân hợp nhất gọi là “Tá lĩnh”, mỗi Tá lĩnh bao gồm khoảng 300 chiến binh cùng với gia đình, vợ con, cha mẹ của họ. Toàn Thanh triều lúc cực thịnh có tổng cộng khoảng 664 Tá lĩnh.

Một người có thể được giao cho quản lý một hoặc nhiều Tá lĩnh, tùy theo địa vị, công trạng, nhưng quyền quản lý này có thể bị thu hồi thông qua quyết định của một hội đồng, hay qua mệnh lệnh trực tiếp từ Khả Hãn. Việc thế tập (cha truyền con nối) là phổ biến, nhưng không phải là hiển nhiên, các thế hệ sau muốn duy trì quyền kiểm soát này thì phải cố gắng tạo dựng công trạng! Như xem trong các phim cổ trang thì các Kỳ nhân đều xưng hô với Kỳ chủ là “nô tài” này nọ, thực chất đó chỉ là khiêm xưng, bản thân Kỳ nhân hoàn toàn không phải là nô tài, nô tì.

Họ là những lương nhân tự do, chỉ bị ràng buộc với Chủ từ qua các quan hệ lao động. Những Kỳ nhân này làm việc cho Chủ tử theo những chế độ lương, thưởng được quy định rõ ràng! Và các Kỳ nhân cũng được luật pháp bảo vệ, Chủ tử không thể giết hại họ tùy ý được! Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra, và nếu xảy ra thì Chủ tử sẽ bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc! Như thế, “sở hữu” một Tá lĩnh thực chất không phải là quyền sở hữu đất đai, cũng không phải là quyền sở hữu con người (nông nô, nô lệ), mà gần như chỉ là quyền “quản lý” tài sản và lao động!

Luật pháp Thanh triều quy định phân biệt rõ ràng giữa tài sản riêng và tài sản chung. Như xem trong các phim cung đấu thì khi một phi tần được sủng ái, họ sẽ được ban cho cung điện, châu báu, tài sản, người hầu hạ này nọ. Nhìn thì có vẻ xông xênh, ra ngoài được khiêng kiệu, che lọng, tiền hô hậu ủng, nhưng tất cả những “tài sản” đó đều chỉ là… cho mượn, khi bị giáng vị, thăng vị, huyền vị… thì toàn bộ đều phải trả lại! Thế nên mới có tình huống hoàng đế, vì sủng ái một vị thê tử nào đó, mới xuất tiền túi ra cho riêng, để vị nương nương này có chỗ dựa khi về già!

Quý tộc thế tập thời Thanh, dù vẫn là cha truyền con nối, nhưng đa số là “Thế tập đệ giáng”: qua một đời thì giáng xuống một cấp, như Trấn quốc công thì giáng thành Phụ quốc công, và cứ thế tiếp tục, điều này giúp làm giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Vì quyền thừa kế không phải là nguyên vẹn và vĩnh viễn, nên con cháu đời sau vẫn phải cố gắng nếu muốn duy trì gia tộc hưng thịnh! Những điều này dần thay đổi khi Mãn tộc chung sống và bị đồng hóa bởi người Hán, nhưng ít nhất ở giai đoạn đầu, “sở hữu yếu – không có gì là vĩnh viễn” là ưu điểm rất lớn của thể chế!

như nguyện

Ca khúc: Như nguyện – Vương Phi, nhạc nền của phim “Tôi và cha ông chúng ta” (我和我的父輩 – Ngã hòa ngã đích phụ bối), 2021, phim nặng tính tuyên truyền, thích hay không thì tùy mỗi người. Phim tóm tắt một quá trình kéo dài 3 thế hệ, từ những ngày đầu “chinh chiến sa trường”, cho đến thế hệ con cháu, Trung Quốc chuyển mình từ một nước lạc hậu nhất…

Lên tầm hiện đại, lớn mạnh nhất thế giới! Truyền thông TQ đã bắt đầu dùng chữ “thịnh thế – 盛世“, như xưa từng nói “Khang – Càn thịnh thế”, thời đại thịnh trị của Khang Hy, Càn Long vậy. Không có con đường tắt nào, trừ khi tính cách quyết liệt đến mức điên cuồng như ku Nga, còn không thì “đi tắt, đón đầu” chỉ là ngôn từ của phường cường đạo!

trà mã cổ đạo

Trong Minh Lan Truyện, Thịnh lão thái thái có một câu thoại: ở đời nếu chỉ nói đằng mồm mà được, thì Yên Vân thập lục châu đã lấy lại được lâu rồi! Yên Vân thập lục châu – Mười sáu châu Yên Vân là vùng đất rộng lớn, ngày nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây và một phần Nội Mông, đất đã mất từ cuối thời Đường, các triều Tống, Minh nhiều lần tìm cách lấy lại nhưng chưa bao giờ thành công. Không chỉ có tài nguyên phong phú, đây còn là vùng thảo nguyên rộng lớn, cần thiết để nuôi ngựa, mà ngựa là phần vô cùng quan trọng của quân đội, xuyên suốt lịch sử, chưa bao giờ TQ có đủ lực lượng kỵ binh để đối chọi lại với các bộ tộc phương Bắc. Nên một trong những mối quan tâm hàng đầu của các triều đại TQ là… ngựa!

Ngựa Trung Nguyên vừa thiếu lại vừa yếu, chỉ những giống ngựa sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt mới mạnh mẽ, lì lợm, mới sử dụng được trong chiến tranh! Để có được ngựa tốt, họ mua bán trao đổi với Tây Tạng! Tây Tạng là vùng cao nguyên, khí hậu lạnh giá, khắc nghiệt, không trồng được rau quả, mà dân thì sống theo lối du mục, khẩu phần ăn bao gồm thịt, sữa là chủ yếu nên thiếu rau nghiêm trọng, từ chuyện thiếu rau đâm ra… nghiện trà, vì trà bổ sung một lượng vitamin đáng kể! Nắm được điều đó, người TQ đem trà đổi ngựa, tạo nên mạng lưới đường sá giao thương kéo dài hàng ngàn cây số! Từ xưa, họ đã viết nhiều cuốn sách khảo cứu, chỉ chuyên về đề tài thương mại Trà – Mã, làm sao đổi trà lấy ngựa!

lùa gà

Lại đi lùa gà đây mà, lùa bằng giải Nobel hẳn hoi nhé! Các bạn lên trang của Bill Gates (gatesnotes) mà đọc những phê bình của ông ấy về cuốn sách này, tôi thấy tất cả suy nghĩ của ông Bill là đã đủ đúng đắn rồi, không cần phải nói gì thêm. Bằng cách tối giản hóa vấn đề, tác giả tìm cách đưa ra một bức tranh méo mó, thiên lệch để… bịp người khác!

Một dạng “The world is flat” mới, thủ thuật cũ rích chả có tí tiến bộ nào, nhưng là phiên bản cao cấp, có cả Nobel để trang trí! Có nhiều trường hợp xuyên suốt lịch sử sách này không giải thích được (nói cách khác, chính là phản ví dụ), như Trung Quốc cổ điển thời Tống, Nguyên, Minh và Trung Quốc hiện đại từ sau Đặng Tiểu Bình đến này…

CMCN 4.0

Cách mạng công nghiệp đã tạo ra một tầng lớp vô sản thành thị mới. Bây giờ chúng ta đang chứng kiến ​​sự ra đời của một tầng lớp vô dụng vô cùng đông đảo. Khi máy tính ngày càng tốt hơn trong nhiều việc, khả năng rõ ràng là máy tính sẽ vượt trội hơn chúng ta trong hầu hết các nhiệm vụ và khiến con người trở nên không cần thiết. Và câu hỏi chính trị và kinh tế lớn của thế kỷ 21 sẽ là: chúng ta cần con người để làm gì, hoặc ít nhất, chúng ta cần rất nhiều người để làm gì? Hiện tại, điều tốt nhất chúng ta có thể làm là giữ cho chúng nó được vui vẻ bằng ma túy và trò chơi điện tử…

Nói rất sốc, nhưng rất đúng, chỉ nhìn xem gần gần quanh đây, thực trạng Việt Nam đã có phần giống thế, một bộ phận lớn xã hội đã bị rút mất phần hồn từ lâu rồi, những cái xác sống không hơn không kém! Sau một ngày vật vã từ khu chế xuất ra, làm những công việc chân tay siêu đơn giản, thì bắt đầu nhậu nhẹt, hát hò, lên mạng tìm đọc “tin tức”, những loại càng “giật gân”, càng “thỏa mãn” càng tốt! Chương trình âm nhạc Xô – viết đầu tuần… đôi khi vẫn băn khoăn tự hỏi có khi nào lịch sử đi một vòng lớn, và lặp lại những điều đã xảy ra cách đây hơn 125 năm!?

KAL-007

Hơn 25 năm trước, khi đọc thông tin về chuyến bay KAL-007, tôi đã không thực sự tin chuyện đó có thể xảy ra, chuyến bay từ New York, Mỹ đi Seoul, Nam Hàn bị bắn hạ vì xâm phạm không phận Liên Xô. Nếu trên bản đồ bạn vẽ một đường thẳng giữa New York và Seoul, thì có vẻ như nó sẽ hoàn toàn nằm ngang, cắt qua Thái Bình Dương. Nhưng thực sự là địa lý (hay đúng hơn là cách dạy môn địa lý ở trường phổ thông) đã lừa dối chúng ta, vì quả đất hình cầu, nên “đường thẳng” ngắn nhất giữa New York và Seoul cắt qua phía trên Alaska, và đi ngang vùng Viễn Đông của nước Nga, ai không tin có thể mở phần mềm Google Earth lên và thử vẽ một “đường thẳng” xem là sẽ thấy rất rõ. Vài tuần trước khi vụ việc xảy ra, bão đã đánh hỏng hệ thống radar cảnh báo sớm của Liên Xô, và khi họ phát hiện ra sự việc thì máy bay KAL-007 đã bay lạc sâu vào vùng cấm bay.

Các chiến đấu cơ LX được cử lên chặn đường lại không thể… bay chậm hơn 400 kmph, còn KAL-007 không hiểu vì sao lại bay rất chậm cỡ 400 kmnph. Nỗ lực thiết lập liên lạc qua sóng radio không thành công, KAL-007 không trả lời, các máy bay quân sự LX bắn hơn 200 phát đạn cảnh cáo, nhưng 007 cũng không phản ứng gì! Có quá nhiều sự “không may mắn”, bắt đầu bằng việc KAL-007 đã mắc lỗi định vị và bay chệch từ không phận quốc tế vào lãnh thổ Xô-Viết, lệch đến 500km, rất có thể phi công đã đặt chế độ lái tự động. Sau khi làm đủ mọi cách mà KAL-007 vẫn không trả lời, phi công LX bắn hạ nó, 269 người thiệt mạng! Sau vụ việc, tổng thống Mỹ Reagan ra lệnh đem hệ thống GPS (cho đến lúc đó vẫn là hệ thống dành riêng cho quân sự) áp dụng cho các phi cơ thương mại, và đó cũng là lý do mà chúng ta có GPS, GLONASS… để xài ngày nay!

reenactment

Tái hiện khá phù hợp với lịch sử, người đứng vẫy tay trên xe là Bác sĩ Trần Duy Hưng, thị trưởng đầu tiên của Hà Nội, chọn người “đóng thế” rất giống về khuôn mặt, hình dáng. Người ngồi cùng xe, ghế trước là Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, đại đoàn trưởng đại đoàn 308, trông cũng khá giống. Người dẫn đầu đoàn quân đi bộ, tay ôm rất nhiều hoa, là trung đoàn trưởng trung đoàn Thủ Đô, anh hùng Nguyễn Quốc Trị.

Những điều này được đông đảo phóng viên ảnh của nhiều nước ghi lại. Nhưng đầy đủ, sinh động nhất là trong bộ phim phóng sự tài liệu “Việt Nam” do đạo diễn Liên Xô Roman Karmen thực hiện, 1954 ~ 1955! Lịch sử thuộc về những người đã đổ máu đề biến nó thành hiện thực, chứ không thuộc về những kẻ “đứng bên lề” tìm cách nói ra, nói vào, và cũng chỉ nói thôi chứ không dám động tay động chân làm gì cả!

whaling

Facebook nhắc lại ngày này năm trước. Săn cá voi, đó là một chương vô cùng quan trọng trong lịch sử văn minh phương Tây, điều mà Nga, TQ và nhiều nước khác không hề có! Nói cho đúng thì Liên Xô từng tham gia săn bắt cá voi một giai đoạn ngắn, nhưng lúc đó thì dầu, mỡ cá voi đã mất đi vai trò của nó, được thay thế gần như hoàn toàn bằng dầu mỏ. Những con tàu đi ra biển, mỗi chuyến đi có thể dài đến 3, 4 năm, có những chuyến đi vòng quanh thế giới, đem về hàng trăm tấn dầu! Những con thuyền chèo tay mỏng manh, đuổi theo và phóng lao vào những con cá nặng đến hơn 100 tấn, kéo về xẻ thịt lấy dầu. Bạn hãy tưởng tượng công việc nguy hiểm, vất vả thế nào! Trở lại lịch sử hơn 100 năm trước, con gái những nhà giàu có ở Manhattan được “bảo đảm” tương lai bằng… 1 con cá nhà táng! Cô nào được cho 1 con làm của hồi môn thì xem như êm ấm, tương lai bảo đảm! Một ngành kinh doanh lớn, rủi ro nhưng cũng đi đôi với lợi nhuận khổng lồ. Dầu mỡ cá voi không chỉ được dùng làm chất đốt, chất bôi trơn…

Chúng chủ yếu được thuỷ phân để sản xuất glycerine làm thuốc nổ, nên thiên hạ không thể hiểu được vì sao giai đoạn Thế chiến thứ 1, châu Âu lại có nhiều thuốc nổ đến như thế để ném lên đầu nhau! Còn ngư dân VN chúng ta, đến tận bây giờ cơ bản vẫn là: sáng đi ra biển, tối đi về, bằng lòng với vài chục ký cá còm cõi! Và khi đã khai thác đủ đầy, đã nghĩ ra được cách thay thế dầu mỡ cá voi (các sản phẩm dầu mỏ), thì phương Tây bắt đầu dùng chiêu bài “xanh, sạch, bảo vệ môi trường” để áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá voi trên toàn cầu, khoảng những năm 198x! Cũng y hệt như ngày nay, đã bắt đầu đào thải các sản phẩm dựa trên dầu mỏ để dùng các công nghệ “xanh, sạch” hơn. Nên một mặt, là vị thế dẫn đầu của những nước có khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng mặt khác, cũng là duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trên các định chế tài chính! Sự thực là nhân loại cạnh tranh lẫn nhau, ai khai thác được nhiều tài nguyên hơn thì xem như người đó “thắng”, và điều đó, đến tận ngày nay, về bản chất, vẫn không hề thay đổi!

Sabotage

Về cách thức phá hoại, đặt thuốc nổ trong máy nhắn tin, bộ đàm, laptop mà Israel đã thực hiện, việc này hoàn toàn không có gì mới! Chúng nó sẽ vừa ăn cướp, vừa la làng như thế, sau khi thực hiện mưu đồ xong, thì sẽ quay sang buộc tội ngược: các bạn hãy đề phòng vì Nga và TQ sẽ làm như vậy! Trong chiến tranh VN, người Mỹ cũng đã dùng đến chiêu này, đạn AK được nạp một liều thuốc nổ mạnh gấp 5 lần, mạnh đến nổi đẩy bệ khóa nòng ngược vào mặt người bắn, hay đạn cối được tráo ngòi, khiến nó nổ ngay trong nòng súng! Sau khi làm giả đạn, họ sẽ cố tình dàn cảnh khéo léo để cho Quân giải phóng lấy được, thường là dưới hình thức những gùi đạn giống hệt như cách thức người VN vận chuyển. Số lượng đạn giả được tính toán chỉ vừa ở mức cần thiết!

Và thường là, đạn đã nổ rồi thì rất khó tìm ra nguyên nhân chính xác! Mục tiêu chính không phải là gây ra thương vong, mà là khiến cho Quân giải phóng bắt đầu nghi ngờ, bất an về chất lượng súng đạn, và phải hao tổn rất nhiều công sức để tìm cách phân biệt, loại bỏ đạn giả giữa đống đạn thật! Sau đó, thông qua các cách thức tình báo tinh vi, ví dụ như phát hành tài liệu “huấn luyện nội bộ”, hướng dẫn lính Mỹ không được xài các loại súng đạn chiến lợi phẩm thu được, sẽ rất nguy hiểm do… “chất lượng luyện kim” kém, và người Mỹ tìm cách bảo đảm rằng những tài liệu “nội bộ” này người VN cũng sẽ lấy được, qua đó tìm cách “mớm, gieo” cái nghi ngờ là Trung Quốc đã cố tình viện trợ đạn “đểu”! Nên thực ra, ai mới thực là ông trùm của các thủ đoạn gián điệp & khủng bố!?

cao giao

Là Durov hay là Durak (durak – tiếng Nga – thằng ngốc), là thông minh hay là ngu xuẩn!? Trong cuốn “The spy who loved us” – Thomas Bass, tác giả có nói về một nhân vật khá đặc biệt, bạn của ông Phạm Xuân Ẩn, tên là Cao Giao, quá thông minh (hay quá ngu) nên sống ở thời nào thì cũng như cây thu lôi vậy, liên tục bị trời đánh! Cao Giao lân la chơi với người Nhật để dò la tin tức cho Việt Minh, nên bị người Pháp bắt bỏ tù.

Nhưng Việt Minh cũng không tin Cao Giao, bắt ông ta bỏ tù vì nghi ngờ cộng tác với Pháp. Đến sau năm 1954 ổng chạy vào Nam cũng bị họ Ngô bắt bỏ tù vì nghi là CS, đến năm 1978, lại bị CH XHCN VN bỏ tù thêm lần nữa nghi là điệp viên CIA, cứ như thế, bất kỳ chế độ nào cũng đều đơn giản là… bắt ông ta bỏ tù cả! Và sau rất nhiều lần tù tội như vậy, cuối cùng thì ông ta được cho xuất ngoại, sống lưu vong ở Bỉ!

bách việt

Gần đây thấy có các phong trào phục cổ, cổ phục, cổ phong… tuy việc tìm hiểu lịch sử, quá khứ là cần thiết, nhưng cũng thấy có một số rất đông dạng “vĩ cuồng, ngáo ngáo”. Tôi gọi đây là loại “khảo cổ”… đào lên không thấy gì cả, nên kết luận rằng… ngày xưa người Việt cổ đã dùng điện thoại không dây! Đơn cử là cái trào lưu “Bách Việt”. Bách Việt là cách sử sách cổ Trung Quốc gọi chung các vùng đất phía Nam sông Trường Giang, đó là kiểu “tập hợp” rất chung, một cái “umbrella – term” bao gồm rất nhiều nền văn hóa khác nhau: Dạ Lang, Mân Việt, Điền Việt, Nam Việt, Lạc Việt, etc… thậm chí cả nước (Ngô) Việt ở vùng Chiết Giang, Thượng Hải bây giờ. Đó là những “quốc gia” có rất ít liên hệ với nhau, thành phần chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau, một số đã là nhà nước phong kiến tập quyền, một số vẫn là mô hình bộ lạc, một số đã có chữ viết hay dùng chữ “Hán”, một số chưa còn có chữ viết, một số đã dùng lưỡi cày đồng, lưỡi cày sắt, một số còn… chọc lỗ tra hạt.

Thế nhưng một số ông “Việt…” thì tìm cách chứng minh rằng Bách Việt đã là một nhà nước thống nhất trên toàn bộ vùng phía Nam sông Trường Giang, do đó, cho nên, vì vậy, suy ra, ta có… VN là đại diện chính thống của Bách Việt, do đó, cho nên, vì vậy, suy ra, ta có… một dải suốt từ Quảng Đông, Phúc Kiến, đến tận Chiết Giang, Thượng Hải đều là của VN cả! Chưa dừng ở đó, các bố còn tự sướng, nói một hồi thì Kinh Dịch, Lạc thư Hà đồ, chữ Giáp cốt đều là sản phẩm của Việt tộc, nói một lúc nữa thì tất cả thành tựu đều do người Việt phát minh ra, người Hán chỉ ăn cắp thôi! Xưa toàn rừng núi, đường sá chưa có, đi bộ suốt một ngày chưa được 30km, ấy thế mà vẫn cố xây dựng Bách Việt trở thành một “quốc gia” thống nhất, rộng lớn đến nhiều ngàn km. Muốn có quốc gia, phải có kinh tế, sản xuất, xây dựng, hậu cần, giao thông, vận tải, phải có chữ viết, sách vở, tư tưởng, .v.v… Đóng trên người mỗi cái khố, chữ viết còn chưa có, gọi là “bán khai” quả không sai, nhưng lại cuồng vô đối!

Toàn các bố mới bơi một hai deca-mét đã chìm nghỉm, leo núi mới có hai ba hecto-mét đã sụm gối, mà ngồi “claim – đòi” đất hàng nhiều ngàn kilo-mét tận Thượng Hải mới vừa lòng, đúng ngáo! Đã là thời buổi nào mà còn “ngáo” những trò như thế, sang TQ mà xem, họ ném các bằng chứng khảo cổ vào mặt, nhiều đến ngu người luôn! Mà những thằng ngáo, dở nói nhảm để làm gì, bản chất của sự việc là gì? Thực ra rất đơn giản, giả sử như bọn buôn người muốn bán mấy em gái trẻ vào động karaoke thì làm sao? Chúng nó vẽ ra một cái cuộc sống hưởng thụ, bỏ ra một tí tiền để dẫn dụ, đến khi ăn quen, làm không quen thì tự bán mình thôi! Và những thủ đoạn “buôn người” chúng nó đều như thế, cứ vẽ một chặp thì toàn thành đĩ điếm, lưu manh cả. Hại chết một dân tộc cũng theo cùng một cách, vẽ ra những thứ hão huyền, xàm xí, đánh vào những “cái tôi” thiểu năng, muốn ăn không muốn làm, chỉ ưa mấy cái danh hão, đánh vào những mối liên kết xã hội, đến một lúc căn cơ không đủ thì sập thôi!

Đã ở nước ngoài mấy chục năm, đã nhìn thấy thiên hạ sống thế nào, sao vẫn thiểu năng, ngu xuẩn như vậy?! Thực ra chúng nó hoàn toàn không có ngu đâu, chỉ vì “quan thầy” chúng nó đã dạy bảo phải làm như thế, vì các “bài” chúng nó dạy nhau như thế, đánh vào số đông là phải vẽ ra những thứ viễn vông hư ảo, chứ dân trí đang lè tè ngọn cỏ như vậy, nói chuyện đúng đắn là họ không nghe đâu, phải đơm đặt những chuyện càng hạ cấp, càng kích thích càng tốt! Quan trọng nhất là phải đánh vào “cái tôi”, phải cho họ một cái “bầy đàn” để dựa dẫm, một miếng “bọt nước” để bám vào, phải làm cho họ cảm thấy có “giá trị”, dù là loại giá trị “bánh vẽ”, “tôi đúng”, “tôi biết”, “tôi hơn người”. Thời xa xưa mấy chục mấy trăm năm trước, nói điêu, gian dối người ta khó phát hiện, và lâu thấy hậu quả, chứ thời đại thông tin và thay đổi chóng mặt ngày nay, gian một chút là hậu quả nhãn tiền ngay! Quan trọng nhất vẫn là “dân trí”, người ta đã đi đến tận đâu đâu, mà mình vẫn ngồi đây, ôm mãi những điều hư ảo!

maskirovka

Trung Đông là kiểu một nồi canh hẹ, không thể rối hơn, chia 5 xẻ 7 để cho thằng Do Thái và Mỹ nó lợi dụng, ám sát hết người này đến người khác! Đây căn bản là vấn đề của con người, không phải là vấn đề của vũ khí và công nghệ! Các bài bản “maskirovka” – nghi binh chắc là ku Nga đã dạy cho hết rồi, nhưng không hiểu sao khi áp dụng lại kém đến thế! Ví dụ như ở VN trước 75, chiến trường ở đâu có điểm nóng là TW lại gởi tướng Lê Trọng Tấn đến! Được xem như fire-fighter, lính chữa cháy, tướng VN giỏi nhất đương thời, những trận quan trọng, ông Tấn trực tiếp cầm quân, như chiến dịch Lam Sơn 719 / Đường 9 – Nam Lào.

Nhưng cũng có khi ông ta chỉ đóng vai trò giám sát, để cho các sĩ quan trẻ hơn thực hành! Chỉ cần biết tướng Tấn đang ở đâu, các sư đoàn chủ lực VN đang ở đâu là đã có thể đoán ra thế trận rồi! Nên chuyện nghi binh, bảo mật nó phải trở thành một nghệ thuật! Thế là hàng ngày vẫn có ô-tô đến đón tướng Tấn (giả) đi họp ở BQP, cuối giờ chiều, người qua đường vẫn nghe thấy Tấn (giả) chơi bóng chuyền với cảnh vệ, hò reo ý ới, gọi tên như đúng rồi luôn! Nhưng thực ra trong lúc đó, tướng Tấn thật đang nằm trên một con tàu không số nào đó, chạy lòng vòng trên biển Đông, tìm cách cập vào một bến bí mật nào đó ở miền Nam!

đại đồng

Ngồi nhớ nghĩ lung tung về những nơi đã đến, những vùng đất đã từng đi qua, những con người đã từng gặp! Đại Đồng, Đại Lộc, Quảng Nam, vùng quê trung du lâu đời. Cả cái tên Đại Đồng (大同) cũng gợi lên nhiều suy nghĩ sâu xa… Khắp các đô thị miền Nam trước 1975 từ Đà Nẵng, Nha Trang cho đến Sài Gòn đều có các đội biệt động thành, nhưng phần lớn chỉ biết đến “Biệt động Sài Gòn” nhờ bộ phim nổi tiếng cùng tên. Biệt động Sài Gòn tuyển dụng nhân viên như thế nào!?

Họ về những nơi như Đại Lộc, Tiên Phước, Quảng Nam, những vùng quê cách mạng lâu đời… Chọn ra một đứa bé tầm 13 ~ 15 tuổi, cha mẹ đứa bé, có khi là cả nhà, đều đã chết trong một trận càn của quân Mỹ , nên đứa bé nuôi cái ám ảnh phải báo thù! Chưa biết chữ, đi chân trần, chỉ qua một vài khóa huấn luyện, đào tạo ngắn, nó đóng vai thành đứa trẻ bán báo, đánh giày, bán vé số, lê la khắp các đường phố đô thị miền Nam làm công tác giao liên, nghe ngóng cho các đội biệt động!

clay movable type

That’s how they did it, type – setting with… clay movable types. When I first read about it, as how it was first done in China around 1000 years ago, I can’t totally imagine how this could be done! But the video explains every details clearly, they use a very fine clay, almost ceramics, to ensure the sharpness of the printed characters. Imagine the work load, having everything prepared for a typical set of 5000~6000 of commonly-used Chinese characters!

As I was watching the clip, I realize that clay movable type is a natural continuation of woodblock printing, since they used woodblock carving as mold to produce negative clay mold, then use this negative mold to produce the final positive types used for printing! That’s how it was done before the invention of metal movable types in Korea 2 centuries later. You can see in the clip, he was printing the very first pages of the Book of Poetry (Shih-ching)!

tar and feather

17/7/1944 sau chiến dịch Bagration, Hồng quân Liên Xô phản công chiếm lại được Belarus và một phần Ba Lan, Romania… họ bắt hơn 150 ngàn tù binh Đức với thương vong chưa đến 1/5 của đối phương! Thắng lợi là rất rõ ràng, nhưng Anh, Mỹ và một số nước Đồng Minh lúc bấy giờ công khai bày tỏ nghi ngờ, con số 150K lớn quá, có khi nào là xạo!? Không còn cách nào khác, Stalin đành phải tìm cách chứng minh!

57 ngàn tù binh khỏe mạnh, còn khả năng đi lại được chọn ra, cứ như thế đi bộ qua các đường phố Moscow trước sự chứng kiến của báo chí quốc tế! Theo tiêu chuẩn đạo đức của ngày nay, theo công ước Geneva 1949, thì những kiểu sỉ nhục công khai như thế này đã bị cấm! Nhưng vậy vẫn còn tốt chán so với thời Miền Tây hoang dã (wide wild west) ở Mỹ, tội nhân bị trét hắc ín và lông chim đem đi diễu phố!

gazyr

Facebook nhắc ngày này năm trước… Những cái ống gắn trên ngực áo choàng Cossack là gì!? Nguyên gốc ngày xưa thời còn xài súng nạp đạn từ đầu nòng (muzzle loading) những cái ống đó gọi là “Gazyr”, được làm bằng gỗ, ống sậy, chứa sẵn thuốc súng và đầu đạn, được thiết kế để không bị ướt khi trời mưa, tuyết, và để có thể nạp đạn nhanh từ trên lưng ngựa!

Những ống này cũng có chức năng như một loại giáp nhẹ bảo vệ ngực! Đến khi đạn hiện đại xuất hiện, chúng mất đi vai trò cũ, được chuyển sang dùng làm ống đựng thuốc lá, hoặc trở thành vật trang trí đơn thuần và được làm rất cầu kỳ, tinh xảo! Đồ vật của hơn 500 năm trước vẫn còn lại đến ngày nay, một dạng skeuomorph – “ruột thừa”!