Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
Ai tài kéo nước nghìn năm lại?
Trăm trận còn tên một lũy thôi.
征戰空存一壘名
Lại là một chuyến đi “đầu voi đuôi chuột”, như người ta hay nói, không có kết quả gì thì cũng có được kinh nghiệm! Kinh nghiệm thì có 2 chuyện đáng nhớ, một là chuyện đối đầu trực diện với dòng chảy ở ngã ba Vàm Cỏ đã nói trong một post trước, hai là kinh nghiệm chèo sóng lớn. Thú thật là vì tôi ở sâu trong đất liền nên kinh nghiệm chèo biển, chèo sóng to không có được nhiều. Khu vực “dữ” nhất là ngã 3 Bình Khánh, trong cơn giông gió đôi khi cũng có sóng lên đến 1m, nhưng cũng chỉ tới thế! Lần này, vừa chèo qua ngã ba Vàm Cỏ xong là cơn giông kéo đến, kéo dài suốt 2 tiếng!
Thời tiết điển hình của mùa mưa, từ khuya cho tới gần trưa, gió lặng, biển êm thuận lợi! Gần trưa, giông gió bắt đầu nổi lên, hoành hành vài tiếng đồng hồ, đến cuối giờ chiều, lại sóng yên biển lặng trở lại! Mẫu thời tiết cứ lặp đi lặp lại như thế, hầu như ngày nào cũng giống nhau! Nên quãng thời gian đầu giờ sáng là thời gian thuận lợi nhất để chèo được xa. Đã dự kiến là những hành trình như thế này phải dậy thật sớm, ăn uống chuẩn bị mọi thứ để 4h sáng là xuất phát! Thậm chí nếu cần thiết thì chèo đêm, dự kiến là như thế, nhưng cụ thể thế nào còn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể!
Trong cơn giông, lúc đầu thấy hơi “khớp”, sóng gió càng lúc càng dữ, nhưng sau nghĩ, mình đã có “trang bị” mạnh, đã có “kỹ năng” mạnh, có gì phải sợ! Thế nên hăng hái chèo tới, sóng cao hơn 1.5m, đầu bạc trắng xoá, liên tục tràn qua! Cảm giác “khớp” lúc đầu nhanh chóng bị thay thế bằng cảm giác “hưng phấn”, rõ ràng nó không làm gì được mình, “tao ở đây nè, lại đây mà giết tao đi!” Sóng cuồn cuộn hết lớp này đến lớp khác, cảm giác như đang bị “luộc” trong nồi nước sôi, gió sóng đổi hướng 2, 3 lần khác nhau, bủa vây tứ phía! Nhưng chiếc Serenity điềm tĩnh vượt qua tất cả!
Đúng là một cảm giác “say sưa” đáng nhớ, 2 lần liên tiếp trãi qua khó khăn, rất hao tổn sức lực, đôi lúc cảm giác như 2 cánh tay sắp chuột rút đến nơi, phải giảm cường độ chèo, nhưng đến cuối ngày vẫn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Bị một cái tai nạn ở trạm biên phòng, té từ trên bậc tam cấp trơn tuột đầy rêu xuống, mấy con hàu cào rách hết tay chân, rất nhiều vết thương, may là đầu và mặt không bị sao. Tối lên cơn sốt nhẹ, lại thêm mấy anh biên phòng “tuyên truyền, giáo dục” về Covid-19, nên sáng hôm sau quyết định dừng cuộc chơi, chở xe tải chiếc xuồng phút chốc về lại Nhà Bè!
Sáng hôm đó dậy thật sớm, lang thang ở vùng vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan… thật là phong cảnh hữu tình, trời mấy hôm đó cũng thật tuyệt! Phải đi sâu vào phía trong thì mới hiểu tại sao đầm Ô Loan từ xưa đã được gọi là danh thắng, chứ đứng ngoài QL1 sẽ không thấy được gì! Loay hoay cả thời gian dài, không quyết định được nên làm con chim dậy sớm (early bird) hay là nên làm con sâu dậy muộn (sleeping worm)…
Đôi khi tôi muốn có thời gian để suy nghĩ thật nghiêm túc, thật kỹ càng về cuộc đời mình: cuộc sống rồi sẽ đi về đâu, liệu có sự sống thông minh trong vũ trụ hay là không, con người ta sinh ra vốn dĩ là thiện hay là ác, Nhân sinh hà tại, tại thế như hà, hậu thế như hà
, etc… những vấn đề như thế, suy nghĩ thật nghiêm túc, chắc chắn là như thế! Nhưng sự thực là, đến lúc này, tôi vẫn luôn không có thời gian để làm điều đó, bởi vì luôn bị xao nhãng bởi những điều rất nhỏ nhặt: ngọn gió, con sóng, hình dáng chiếc thuyền, mưa và cơn giông, etc…
Vâng, toàn những thứ linh tinh chả đâu vào đâu… Các hình bên: đứng trên cầu Thị Nại, Bình Định nhìn xuống dưới đầm, một vùng mây nước thật rộng lớn và bình yên! Những người ngư dân quay lưới thành nửa vòng tròn, chèo chiếc xuồng con, dùng cây sào đập trên mặt nước, tạo tiếng động lùa cá về phía lưới. Người Mỹ đến, đi và để lại Việt Nam một số đáng kể tấm nhôm lót sàn, vật liệu lý tưởng để làm xuồng: nhẹ, bền hàng chục năm, vật liệu thì khác nhưng vẫn là những kiểu dáng cong như trăng lưỡi liềm, kiểu hình… muôn năm cũ!
Sáng hôm đó ở Sapa, quán cafe bàn bên cạnh, cô gái trẻ ôm cái máy ảnh, bắt chuyện với mình, “mở bài” rất Tây nhé: cái ngày đó sắp đến rồi anh à! Tôi ngạc nhiên hỏi lại: ngày gì hả em? Cô gái trả lời: cái ngày mà em sẽ chụp được một bức ảnh để đời về Sapa, sẽ nổi tiếng thế giới! Tôi “đứng hình” một lúc: ừ, em nói như thế thì anh phải tin thôi! Đến tận bây giờ vẫn phân vân, ko biết ra làm sao, trên Face nhìn cũng có vẻ xinh đẹp, học thức…
Tất cả mùa xuân rộn rã đi,
Xa xôi người có nhớ thương gì?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì…
Sáng 4h30 thức dậy, chạy một vòng quanh hồ Xuân Hương, rồi về ghé cafe Tùng sau lưng chợ Đà Lạt. Bà chủ quán tinh ý, thấy mình vào là đổi sang nhạc Pháp: J’ai quitté mon pays, J’ai quitté ma maison
các kiểu, ngồi một lúc là các thành phần tri thức, nghệ sĩ vườn của Đà Lạt sẽ tụ họp về đây, tám chuyện trên trời dưới đất! Haiza một thời tự thấy mình cũng “petite bourgeoisie” – tiểu tư sản kinh!!!
Chuyện chẳng “hay ho” gì, nên bây giờ mới kể… Năm đó, đi thăm nhà thờ Chính toà thành phố Nam Định xong, định đi tiếp về Phát Diệm gần đó, thấy có quán cafe nên tấp vào ngồi nghỉ một lát. Trong quán có 3 cô gái, 1 cô rất trẻ, xinh và ăn mặc rất thời trang (đây rõ ràng là một con “chim mồi”), hai cô kia trông có vẻ già dặn, trãi đời hơn tí. Ngồi một lúc, nói một vài câu là hiểu ngay họ định rủ mình đi đâu rồi!
Nhưng mà nhỏ nhẹ, lịch sự và khéo vô cùng, chèo kéo, nài nỉ, khéo và ngọt, ấy thế nên mình… lại không nỡ xẳng giọng. Sợ thì không sợ, nhưng thừa hiểu cái bẫy giăng ra có thể sập xuống bất cứ lúc nào! Đi thì bị níu lại, nhất định không cho đi, nên cũng đành phải nhỏ nhẹ, pha lẫn với khôi hài: Nàng buông vạt áo anh ra, Để anh đi chợ kẻo mà chợ trưa
. Cô gái trẻ cười khì khì: em tha cho anh đấy! kaka
Bữa sáng đầu tiên ở Sapa, chưa chụp được bức ảnh nào thì đã ngã dập mặt, bể cái ống kính! Lò mò tự tháo ra, bên trong gãy 2, 3 chi tiết, “tài lanh” một hồi (dùng keo con voi) ráp lại thì vẫn chụp được ảnh như này! Về SG, đem vô chính hãng, hãng bảo phải gởi đi Sing, tiền sửa + tiền ship = tiền ống kính mới, thôi để vậy xài luôn, vẫn xài tốt đến giờ, nhưng phải “hiểu” nó, phải có “mẹo” một chút…
Nói thật là, leo lên đây, đỉnh “Pháo đài”, đảo Cát Bà, khoảng 5h chiều, mặt trời đang lặn, lên là đã thấy mấy chục anh chị toàn Tây, như mấy con khỉ bu trên cục đá, im lặng hoàn toàn, thẫn thờ ngắm hoàng hôn, ko ai phát ra tiếng động nào! Như tiếng Anh gọi là “breath-taking” hay là “jaw-dropping” ấy, quả đúng là như thế! Dĩ nhiên là tôi hoàn toàn chia xẻ cái cảm giác “trên đỉnh bình yên”, nhưng ko thích hiệu ứng bầy đàn, thế nên chụp vài kiểu rồi xuống!
Cảnh quan tuyệt đẹp trên đèo Ô-quý-hồ, Sapa. Lần đó chạy xe máy qua, từ bên phía Lai Châu còn kêu mía đá giải khát, qua bên kia đỉnh đèo phía Lào Cai là đã phải mặc áo ấm, đốt lửa sưởi, mưa đá bằng to bằng cỡ hạt gạo quất rát cả mặt! Cái đám “lều báo” cứ mở miệng là “phịch thủ” ấy dám cá chẳng bao giờ rời mắt khỏi màn hình laptop mà nhìn xem, cảm nhận thế giới thiên nhiên như thế nào, vì còn mãi quay cuồng trong mớ suy nghĩ GATO lặt vặt, còn mãi tìm cách “đọc vị” người khác!
Nhiều năm trước khi đi qua đây (cầu Hang Tôm, Mường Lay, Lai Châu) nghe người dân địa phương nói đây là cây cầu khó xây nhất VN. Lúc đó không hiểu vì sao như thế, cây cầu không lớn, cũng không thấy có gì đặc biệt. Hai năm sau ghé qua lần nữa thì hiểu ra, khi nước rút xuống, lộ ra mấy trụ cầu cao gấp 3 lần trong ảnh. Nhiều sự việc nó deep – rooted, gốc rễ sâu xa, nếu không biết thì sẽ không hiểu được sao nó lại khó như thế…
賈島 – 尋隱者不遇
松下問童子
言師採藥去
只在此山中
雲深不知處
Bài thơ đơn giản, 4 câu 20 chữ, nhưng thâm sâu vô cùng. Chân lý nằm trong lòng ta, nhưng vì “mây che” nên không tự thấy được đó thôi!
Gia Miêu ngoại trang, Hà Trung, Thanh Hoá (Gia Miêu quý hương, Tống Sơn quý huyện), đất “thang mộc”, đất “phát tích” của Nguyễn Phúc tộc… Một vài bức ảnh nhỏ không thể nói lên hết nét đẹp của miền đất này, một dải thung lũng nằm thoai thoải giữa hai dãy núi, cảnh quan rất quyến rũ. Nơi đây ngày xưa còn có cả một phiên bản thu nhỏ của kinh thành Huế (khu lăng miếu Triệu Tường), rất tiếc là đã bị phá tan hoang trong những cuộc đấu tố mang tính “ý thức hệ” sau 1954!
武京萬安派
Mấy lần chạy xe máy xuyên Việt qua đây, đều cố tình dừng lại xem diễn võ, mà vẫn không có duyên được gặp! Di sản các đời vua, chúa để lại không phải chỉ là các đền đài, lăng tẩm, thơ ca, bia ký, các món ăn, áo quần, gấm vóc… Nó còn là Võ kinh Vạn an phái, môn phái chuyên huấn luyện các “ngự lâm quân” ngày xưa, chuyên trị “trường quyền”: chủ về bài bản chân phương, đòn thế dài rộng, động tác cương mãnh…
Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo,
Trời đầy trăng, lạnh lẽo buốt xương da.
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.
Tháp Bằng An, Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam… bạn nhìn nó giống cái gì thì nó… chính là đại diện cho cái đó! Nhớ lại 2 mùa hè năm 1 và năm 2 đại học, cứ 3 tháng hè về quê là lại rong ruổi trên khắp các nẻo đường hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, chiếc xe máy 50cc cũ kỹ, đi cho bằng hết các nơi, các chốn. Phương tiện và kiến thức có hạn, tuổi 17, 18 chưa hiểu biết nhiều, điều kiện kinh tế eo hẹp…
“Ông bô bà bô” chỉ duyệt cho “quota” chừng đó lít xăng… Chưa bao giờ hết ngạc nhiên về chính người VN mình, trên một dải đất bề ngang có 50 km, mà có quá nhiều điều người ta ko biết hay quá dể lãng quên. Như địa đạo A Xoò 7km trong lòng núi huyện Tây Giang người dân địa phương “phát hiện” ra gần đây, ko ai biết / nhớ nó là cái gì, cho đến khi cụ Đồng Sỹ Nguyên xác nhận là binh trạm 143 của đường Trường Sơn cũ.
Nói chuyện… chính tả, lần này từ góc nhìn của một kẻ tập tễnh làm nhà ngôn ngữ học. Xưa giờ, dù thi thoảng vẫn viết sai chính tả (thường là do vô ý hay do đánh máy quá nhanh), tôi vẫn chủ trương mọi người viết đúng một thứ chính tả chung! Đó là lẽ hiển nhiên, vì mình viết là cho số đông người khác đọc và xã hội phát triển thì mọi điều cần phải được chuẩn hoá! Nên sai thì thi thoảng vẫn sai, nhưng chuẩn thì vẫn cứ phải chuẩn. Thế nhưng vẫn có những suy nghĩ khác, khác với số đông thường nghĩ. Những suy nghĩ bất chợt đến khi trò chuyện với những thiếu nữ Mông ở Đồng Văn và Mèo Vạc, những người đã đi học và nói tiếng Phổ thông còn xịn hơn, còn dể nghe và hay hơn cả tôi, ít nhất là về mặt phát âm!
Hồi trước nghĩ rằng tiếng Việt có 6 thanh sắc (hoặc 5 thanh tuỳ vùng) đã là nhiều lắm rồi, nhưng đến khi lên cao nguyên Đồng Văn, nghe người Mông nói mới biết tiếng Mông ở Việt Nam có đến 7 thanh, tiếng Mông một số vùng ở Trung Quốc có đến… 8 thanh. Thật khó hình dung một ngôn ngữ lại có nhiều thanh điệu như vậy, líu lo còn hơn cả chim hót! Tiếng Hoa cổ (cổ ở đây là nói thời Đường), lấy âm địa phương Trường An làm chuẩn, theo ghi nhận của “Thiết vận”, có 6 thanh. Thiết vận (phiên thiết) là gì thì người học chữ Hán mới biết, nhưng nôm na là một phương pháp ghi âm của người xưa, xuất hiện từ thời Tuỳ, Hán, thậm chí có thể còn sớm hơn. 6 thanh của tiếng Hán cổ đó, miễn cưỡng có thể “ánh xạ” vào 6 thanh của tiếng Việt.
Tiếng Mông 8 thanh, tiếng Việt 6 thanh, tiếng Hoa hiện đại chỉ còn 4 thanh… Nói điều này sẽ có người phản đối, nhưng một nền văn minh càng khép kín, càng lạc hậu thì ngôn ngữ càng có nhiều thanh sắc! Đó là vì càng hiện đại, càng có nhu cầu giao tiếp đến lượng lớn thính giả, thì ngôn ngữ càng phải bỏ bớt những “khu biệt” địa phương, vùng miền, dần dần bỏ bớt số thanh điệu. Tại thời điểm lưu truyền vào Việt Nam, Thiết vận đã ghi nhận những phát âm không còn tồn tại, vì nó là một hệ thống ký âm đã có từ trước đó rất lâu. Có nghĩa là tiếng Hoa thời Đường đã khác thời Hán rất nhiều, nhiều “ký âm” chỉ còn tồn tại trong sách vở chứ không còn trên thực tế! Điều tương tự cũng đúng cho tiếng Việt và hệ thống ký âm “Quốc ngữ”.
Hệ thống ký âm Quốc ngữ, từ khi hình thành, lấy “chuẩn” là một địa phương đâu đó ở vùng Quảng Bình, khá nhiều ký âm cổ cũng đã không còn tồn tại ngay tại gốc Quảng Bình, ví dụ như: “các” & “cát”, “ngan” và “ngang”… theo như quan sát hiện tại hầu như đã đồng nhất. Các địa phương càng cổ, càng bảo thủ (điển hình là một dải khu 4, từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Huế) thì sự “khu biệt” càng lớn. Tiếng Hoa hiện đại đã phát triển đến một mức mà rất nhiều ký âm không thể phân biệt được, không những “mam” và “man” đọc như nhau, mà “man” và “nan” cũng đọc như nhau, nghĩa là “m” và “n” đọc như nhau, dù đứng đầu hay cuối con chữ. Suy nghĩ lan man… nhận thấy rằng sự tiến hoá của tự nhiên, nó khác xa những điều người ta thường nghĩ!
Nghe có vẻ ngược đời, nhưng tôi nghĩ, không nhất thiết phải chấp nhất quá triệt để vào hệ thống ký âm “Quốc ngữ”, vì nguyên thuỷ, nó đã không phải là một hệ thống ký âm phổ quát (mà thực sự thì làm gì có một thứ tiếng Việt phổ quát!?), và quan trọng nhất là xu hướng tiến hoá của ngôn ngữ thường không bảo lưu những khác biệt quá “tinh vi, nhỏ nhặt”. Viết đúng chính tả vẫn là việc cần phải làm, nhưng bên cạnh đó, sự phát triển của “chuẩn hoá”, cái suy nghĩ băn khoăn cho rằng tự nhiên là “deterministic” hay “non – deterministic”, là “tất định” hay “bất định”, vẫn luôn còn đó (tức là Einstein sẽ vẫn luôn đối nghịch với Heisenberg). Dù gì đi nữa, ngôn ngữ vẫn sẽ phát triển theo hướng âm luật dần đơn giản hoá, dần thống nhất!
Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng!
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?