hms java

Trong tranh là USS Constitution, một trong 6 chiếc tàu hộ vệ – frigate đầu tiên của Hải quân Mỹ non trẻ, đối đầu với HMS Java, nguyên gốc là một tàu chiến Pháp bị Anh bắt được. HMS Java nhỏ và nhanh nhẹn hơn, USS Constitution lớn và có hoả lực mạnh hơn. Kết quả là HMS Java bị bắt, và sau đó bị đốt cháy, 18212. Tranh minh hoạ chiến thuật Hải quân crossing-the-T, cắt mặt hình chữ T.

Con tàu nằm ở nét ngang của chữ T có lợi thế là có thể đưa toàn bộ súng một bên mạn tàu tập trung vào một điểm, gây thiệt hại rất lớn cho đối phương. Ngày nay USS Constitution là con tàu già nhất trên thế giới, 209 tuổi, vẫn còn có thể chạy buồm tốt! Để ý chi tiết trong tranh, cả hai con tàu đều cuốn tầng buồm dưới cùng lên cho gọn, kiểu như xăn tay áo để chuẩn bị đánh nhau vậy!

hms st lawrence

Trong hàng hải, bị gọi là “thuỷ thủ nước ngọt” được xem như một lời chế nhạo, thậm chí là sỉ nhục! Nhưng điều đó không hẳn đúng với HMS St. Lawrence, con tàu được đóng trên hồ Ontario, biên giới giữa Canada và Mỹ! Ontario là hồ nước ngọt, diện tích 19.000 km2, thông với Đại Tây Dương qua một sông nhỏ, chảy xiết và nhiều chướng ngại, chỉ những con tàu nhỏ mới đi lại được! Nên khi đóng chiếc St. Lawrence, người ta đã tính nó chỉ loanh quanh trong hồ mà thôi, đây là con tàu siêu lớn, lớn nhất của Hải quân Hoàng gia cho tới lúc đó!

Và vì chỉ đi loanh quanh trên hồ nước ngọt nên tàu không cần mang theo quá nhiều lương thực, thực phẩm, nước uống… nên có không gian để trang bị đến 112 súng! Lúc này thì Mỹ đã dành được độc lập, nhưng hai bên Anh & Mỹ vẫn còn tiếp tục xung đột với nhau ở vùng biên giới Mỹ & Canada. Từ khi hoàn thành, St. Lawrence chưa bao giờ tham gia một chiến trận nào, vì chả ai dám dây dưa với cái kích thước của nó, vùng biên giới vì thế được yên bình! Thế nên cái câu thành ngữ La-tinh: Si vis pacem para bellum đúng là có lý của nó!

hms shannon

Đội tàu đầu tiên do Quốc hội Mỹ đặt hàng, 6 chiếc tàu hộ vệ – frigate đầu tiên của Hải quân Mỹ đều là những tàu tốt, lượng giãn nước lớn, trang bị khá. Đội tàu tham gia nhiều cuộc chiến, xung đột khác nhau, nhất là thời kỳ đầu đã đánh nhau rất thành công với Hải quân Anh, bắt hàng loạt tàu buôn và tàu chiến Anh. Điều này gia tăng sĩ khí cho hạm đội non trẻ, tuy nhiên công bằng mà nói, tàu Anh thất bại đều là những tàu nhỏ, hoả lực “dưới cơ” các tàu Mỹ. Điều này cũng gây ra tức tối, bức xúc trong hàng ngũ sĩ quan Hải quân Hoàng gia.

Thuyền trưởng Philip Broke của HMS Shannon công khai thách đấu, gởi chiến thư tới USS Chesapeake, giọng văn kiểu: “mày ra đây, tao với mày chơi tay đôi”! Kiểu đấu “hiệp sĩ” này khá công bằng, hai tàu ngang nhau về tải trọng, về số súng. Đáng nói là Shannon tuy không lớn, nhưng là một trong những con tàu thiện chiến nhất Hải quân Anh, thuỷ thủ tập bắn bốn buổi một tuần. Chuyện xảy ra sau đó thì khá rõ, Shannon giải quyết trận đấu trong chỉ hơn 10 phút, phía Mỹ thương vong rất lớn, thuyền trưởng Broke được phong Nam tước!

hms buffalo

Buffalo như cái tên của nó (con trâu), là con tàu vận tải 540 tấn của Hải quân Hoàng gia, đóng ở Ấn Độ bằng gỗ giá tỵ. Buffalo đi đi về về giữa Anh và Úc, chở phạm nhân, hàng hoá. Năm 1824, đại dịch tả toàn cầu lan ra khắp châu Á. Nhưng tới năm 1832, làn sóng dịch thứ 2 mới lan tới Anh. Trên phạm vi toàn cầu, cả chục triệu người đã chết!

Trong 2 năm, Buffalo trở thành con tàu cách ly. Haiza, giá như VN cũng có vài chục con tàu cách ly thế này thì tốt biết mấy, cứ đậu giữa sông, khỏi phải đau đầu chuyện trốn trại! Về sau, Buffalo bị đắm trong một cơn bão ở New Zealand, bức tranh bên dưới thể hiện đúng sự việc lúc đó, con tàu treo lá cờ ngược, báo hiệu tình trạng nguy cấp!

hms captain

Captain là con tàu mang số phận bi thảm, tàu lật và chìm ngay trong chuyến thử nghiệm đầu tiên, 500 sinh mạng bị lãng phí! Câu chuyện lần nữa cho thấy, ý kiến của đám đông ngu dốt chỉ mang lại thảm hoạ mà thôi! Chuyện bắt đầu với tháp pháo xoay, thiết kế của thuyền trưởng Cowper Phipps Coles năm 1855, về cơ bản là đi trước thời đại, thay vì dùng dãy nhiều súng, con tàu được thiết kế chỉ có vài tháp pháo xoay, có thể bắn được nhiều hướng mà không phải quay thuyền. Ít súng hơn, súng to hơn, công nghệ chế tạo đã cho phép có những khẩu súng cỡ nòng 200~300 mm, nặng cả vài chục tấn!

Bản thiết kế của thuyền trưởng Cowper Phipps Coles không được Bộ Hải quân chấp thuận! Coles thực hiện cả một chiến dịch truyền thông tấn công các quan chức Bộ Hải quân, vận động báo giới và Nghị viện. Bộ Hải quân, trước sức ép, phải chấp nhận cho Coles được đóng chiếc thuyền theo thiết kế của mình! Chuyện tiếp theo là lịch sử, trong buổi bắn thử nghiệm đầu tiên, thời tiết xấu, thuyền nghiêng 21 độ và lật úp (những con thuyền khác có thể nghiêng đến 50 độ mà vẫn không sao), sau đó chìm, kéo theo gần 500 sinh mạng, nguyên do đơn giản là trọng tâm quá cao, mà phần mạn khô quá thấp!

hms warrior

Nửa cuối thế kỷ 19 bắt đầu kỷ nguyên bùng nổ về công nghệ: kỹ thuật đóng tàu, động cơ, súng và đạn, etc… tất cả liên tục thay đổi, khiến cho một con tàu đóng xong chưa tới 10 năm đã thành ra lạc hậu! HMS Warrior là con tàu như thế, hạ thuỷ năm 1861 để đối trọng lại với một con tàu Pháp – Gloire đi vào phục vụ một năm trước đó! Nhưng Warrior ở một đẳng cấp hoàn toàn khác, lúc hoàn thành, Warrior là tàu chiến lớn nhất, hiện đại nhất thế giới!

Nhanh hơn, được bảo vệ tốt hơn, hoả lực mạnh hơn bất kỳ con tàu nào khác! Nhưng vẫn có một chút không chắc trong thiết kế của Warrior, dù hơn 9000 tấn, vẫn chỉ được xem là frigate, tàu hộ vệ, chứ chưa phải là chiến hạm chủ lực! Đây là thế hệ tàu chiến cuối cùng còn mang đủ toàn bộ hệ thống buồm! Vẻ đẹp cổ điển của buồm đã hoàn toàn phải nhường chỗ cho máy móc, sắt thép, động cơ và sức công phá kinh hoàng của những thế hệ súng, đạn mới!

hms rattler

Ss Archimedes là con tàu hơi nước đầu tiên dùng chân vịt (propeller) thay vì guồng xoay (paddle-wheel). Bộ Hải quân nhận ra đây là cải tiến cần phải có trên tàu chiến, chân vịt nằm phía sau và sâu dưới nước, khả năng trúng đạn thấp hơn nhiều so với guồng xoay, đồng thời không chiếm không gian lớn giữa thân tàu làm cho khó bố trí súng. Họ bắt tay vào đóng con tàu Rattler, 1843 để thử nghiệm.

Các thử nghiệm cho thấy chân vịt đạt tốc độ tốt hơn guồng xoay. Chưa hài lòng, Bộ Hải quân cho 2 con tàu cùng kích cỡ, kiểu dáng, cùng công suất động cơ, một dùng chân vịt (Rattle), một dùng guồng xoay (Alecto), dùng dây buộc đuôi 2 tàu lại với nhau và cùng chơi kéo co! Rattle thắng một cách hiển nhiên và thuyết phục, từ đó chính thức bắt đầu quá trình tàu Hải quân chuyền dần sang hơi nước.

hms comet

Comet, 1822 là con tàu kéo (tugboat) 340 tấn, vỏ gỗ, đáy bọc đồng, con tàu động cơ hơi nước đầu tiên của Hải quân Hoàng gia! Comet được sử dụng như một tàu kéo, kéo các con tàu buồm ra và vào cảng khi gió yếu. Tàu được trang bị một động cơ hơi nước 80 HP – mã lực.

Comet là con tàu đầu tiên được gắn cục kẽm, lớp vỏ đồng hoạt động trong môi trường nước muối nhanh bị ăn mòn bởi hiện tượng điện phân. Giải pháp là gắn một cục kẽm lên vỏ đồng để biến nó thành một cathode – điện cực dương, điện cực “hy sinh” thay cho lớp đồng!

hms st george

Năm 1793, John Gell được bổ nhiệm chức vụ đề đốc, chỉ huy một biên đội tàu 7 chiếc! Tháng Tư năm đó, biên đội “cướp” được một món hời, thường được xem là chiến lợi phẩm lớn nhất trong lịch sử Hải quân Hoàng gia. Trước đó 11 ngày, tàu privateer của Pháp mang tên General Dumourier đã cướp được tàu Tây Ban Nha St. Jago vừa từ Peru trở về, sau đó biên đội tàu Anh lại cướp tàu Pháp này, cướp tổng cộng 2 cấp, 2 thuyền của 2 nước khác nhau! Cả 2 tàu được giải về Anh, ước tính giá trị ban đầu khoảng trên 500,000 bảng.

Sau khi đã nộp toàn bộ tài sản cho Bộ Hải quân thì họ tiếp tục phát hiện ra trên con tàu St. Jago có những thỏi thiếc giả, là những thỏi vàng được mạ thiếc, tổng trị giá tài sản lúc này lên đến gần 1tr bảng (tương đương với hơn 130tr ngày nay), khoảng 60 tấn cả vàng & bạc. Sau đó xảy ra một cuộc chiến pháp lý kéo dài, TBN thì cay đắng muốn đòi lại của cải. Cuối cùng bộ Hải quân phán quyết toàn bộ tài sản là của Anh, và chia tiền thưởng cho các thành viên, John Gell nhận 20tr, mỗi thuyền trưởng nhận 8tr (theo thời giá hiện tại).

hms sirius

Sirius là con tàu dẫn đầu đoàn 11 chiếc chở 1500 phạm nhân, quản giáo, binh lính… thành lập khu định cư đầu tiên ở Úc, năm 1787. Đói khát, dịch bệnh khiến cho nhiều người bỏ mạng trong cuộc hải hành 250 ngày, 24.000km đến từ Anh đến Úc. Khu định cư đầu tiên được thành lập, do toàn quyền – governor Arthur Phillip lãnh đạo, hai năm đầu của những người di dân tràn ngập khó khăn và đói khát! Toàn quyền Phillip áp dụng mô hình quản lý cứng nhắc mang từ Anh sang: đánh cá và đi săn là phải có giấy phép, đoàn người phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thực phẩm mang từ Anh sang. HMS Sirius đi về giữa Úc và Cape Town vận chuyển lương thực, nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu.

Nhiều tàu cung ứng (như HMS Guardian) không bao giờ tới đích! Sau khi chiếc HMS Sirius bị đắm ở đảo Norfolk là khu thuộc địa bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài! Cuộc sống quá khó khăn nên Mary Bryant, một nữ phạm nhân cùng chồng, con và một số người khác đã bỏ trốn, họ đánh cắp một chiếc xuồng và đi dọc bờ biển Úc, hơn 5000 km đến Indonesia, tại đây họ bị bắt lại và giải về Anh. Nhờ vào hành trình 5000 km phi thường này mà luật sư James Boswell đã dùng nó như “câu chuyện thần tiên” kêu gọi sự cảm thông của công chúng và khiến cho Mary Bryant được giảm án. Về sau câu chuyện được dựng thành bộ phim nổi tiếng: “The Incredible Journey of Mary Bryant”…