gopro13

Con GoPro13 được bỏ trong hộp chống nước, nhưng giữa biển mà thay pin là rất khó, sơ sảy một chút dính tí nước biển vào là có chuyện ngay! Nên đã cải tiến để chạy GoPro trực tiếp từ nguồn 12V có sẵn trên xuồng. Đầu tiên là cần có một cục “biến áp” từ 12V xuống 5V-3A nhỏ bằng ngón chân cái. Sau đó là cập nhật lên firmware “GoPro Lab” (có nhiều tính năng phức tạp mà firmware chính hãng không hỗ trợ). Cứ bật nguồn là con cam tự khởi động, tự quay, tắt nguồn dĩ nhiên là dừng quay (dừng đột ngột nên có thể mất vài khung hình cuối). Cáp nguồn được nối bằng connector chống thấm nước, chỉ 2 dây âm – dương cấp nguồn qua cổng USB-C!

Nhưng con GoPro13 rất là kén, nếu nguồn không đủ 2.5A là nó không chịu khởi động, mà cổng USB 2 dây âm – dương chỉ cấp nguồn cơ bản, tối đa 1A. Lò mò tìm hiểu một chút, hàn thêm 2 con điện trở 5.1K – 1% vào 2 chân CC1 và CC2 nối với dây âm (GND), đây là tín hiệu để cho cổng USB-C biết có thể lấy thêm dòng! Nếu có 2 con điện trở này sẽ cấp dòng lên đủ 3A để con cam hoạt động được mà không cần gắn pin! Như thế, thay vì phải đem theo lỉnh kỉnh rất nhiều pin và thay pin giữa chừng, thì với cục nguồn 12V – 20 Amph đã có sẵn, có thể quay hàng vài chục tiếng, chỉ cần bật công tắc (từ) là quay, tắt là dừng, rất tiện lợi và nhanh chóng! :)

thi ca

Đường thi là một đỉnh cao, cao vời vợi của thi ca cổ điển TQ, sẽ không bao giờ có lại một thời đại mà nhà nhà làm thơ, tạo ra không biết bao nhiêu cách diễn đạt, ý tưởng mới lạ, làm giàu thêm đời sống văn hóa. Sang đến thời Tống, dù văn nhân vẫn tiếp tục làm thơ theo thể Đường luật, họ tiếp tục sáng tạo ra thể loại Tống từ mới, cách diễn đạt uyển chuyển, gần với âm nhạc hơn. Sang đến thời Nguyên, với sự cai trị của đế chế Nguyên Mông, ngôn ngữ có sự thay đổi lớn, dần dần trở thành có 4 âm thay vì 6 âm như trước. Nên rất nhiều thơ làm theo lối Đường luật trở nên… sai âm luật. Dù vẫn tiếp tục làm theo thể Đường thi, Tống từ, nhưng thời Nguyên phát triển mạnh về Nguyên khúc, hình thức hý kịch mang tính âm nhạc sinh động. Sang đến thời Minh, dù vẫn thấy Đường thi, Tống từ, nhưng đời sống tinh thần sang một trang mới, văn xuôi dạng tiểu thuyết phát triển mạnh!

Nên cụ Nguyễn Du mới chuyển thể Kim Vân Kiều truyện thành thể lục bát vốn quen thuộc với người Việt, chứ văn xuôi nhiều chữ như thế, đa số không đọc nổi. Sang đến thời hiện đại, các văn nhân thi thoảng vẫn làm Đường thi, Tống từ, nhưng đó chỉ là sự “hoài cổ” bất chợt, không ai muốn tiếp tục một cái thể loại đã không còn đúng, hay về âm điệu, không có sự mới mẻ trong ý tưởng. Ngay tại TQ, thi ca hiện đại đã như một dòng sông ngừng chảy, chưa biết đi về đâu. So với Hoa ngữ, tiếng Việt vẫn giữ được một lợi thế rõ rệt là còn bảo lưu đủ 5, 6 âm! Nhưng bù lại, sự tìm tòi sáng tạo trong ý tưởng, trong cách diễn đạt thực sự không thể so bì được. Mà nói cho cùng thì, thời thế góp một phần vô cùng quan trọng trong việc việc định hình nên ngôn ngữ thi ca, chỉ có số phận bi thảm như Văn Thiên Tường mới viết lên nổi một bản “Chính khí ca” hùng tráng đến vậy!

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh, những dòng thơ mà người người, đời đời truyền tụng và ngưỡng vọng, đấy là loại thơ ca được viết ra bằng mồ hôi và máu, so với những kiểu được viết bằng… nước bọt hẳn không cùng một loại! Phải có thời thế đổi thay, lịch sử biến động, phải có cuộc sống phong phú, con người vận động thì mới có cảm hứng và chất liệu cho những loại thơ ca đích thực được. Tại Việt Nam, thơ Mới cũng giống như một buổi hoàng hôn rực rỡ, chính là báo hiệu màn đêm sắp buông xuống! Với những tia nắng cuối ngày: Anh đi đấy, anh về đâu? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm! (Nguyễn Bính) Về đâu thì chưa biết, nhưng chắc chắn là phải có cách diễn đạt mới lạ cũng như ý tưởng khác biệt. Không thể cứ lặp lại mãi vài câu chữ nghèo nàn trong cái thể lục bát cũ rích rồi vỗ ngực “ta đây nhà thơ” được!

Mà để tạo ra sự khác biệt, cũng có người đã vò đầu, bứt tai, dày vò bản thân để tạo ra câu chữ hiểm hóc, kiểu như Giả Đảo, Lý Hạ, Mạnh Giao thời Đường, tạo ra cả một “trường phái khổ thi”, suốt ngày chỉ vặn vẹo câu chữ! Tuy cũng có người khen ngợi, nhưng toàn là loại thi ca thiếu sức sống, thực chất chính là phản ánh sự đau khổ, ốm yếu, bệnh tật của các tác giả làm ra nó! Ngay ở thời Đường, đã có nhiều dòng thơ và vô số tác giả khác đáng đọc hơn nhiều: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần… không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch! Giả, Mạnh so với Lý-trích-tiên như đom đóm với trăng rằm mà thôi. Mà để được như họ Lý, đầu tiên là phải cỡi ngựa, đánh kiếm, chèo thuyền… sống một cuộc đời cho nó đủ đầy ý nghĩa đã! Nôm na, ngắn gọn là cứ tập thể dục đi rồi hẵng nói chuyện thi ca, nhé! :D

từ nguyên: ấn loát

In ấn, đã in sao lại còn ấn? Thực chất “in” là âm hiện đại của “印 – âm Hán Việt: ấn”, cả hai chỉ là một chữ mà thôi. Kỹ thuật in đầu tiên chính là khắc gỗ, về hình thức, không khác gì với ấn – triện, như thế có thể xác định là khi kỹ thuật in truyền vào VN thì âm của nó đã là “in” chứ không còn là “ấn” nữa. Tiếng Việt có rất nhiều trường hợp như thế, chỉ một chữ viết nhưng âm có nhiều hơn một, do du nhập vào VN tại nhiều thời điểm khác nhau!

Còn ấn loát – 印刷, loát là cái bàn chải, động từ nghĩa là lau, xoa… Dùng chữ “ấn loát” vì ngày xưa khi in mộc bản, thạch bản, họ dùng cái bàn chải/cọ lớn để xoa, vỗ lên mặt giấy cho mực ăn đều! Vậy tại sao là “ấn loát” mà không phải là “in loát”!? Hình: lấy từ cuốn “Giới tử viên họa phổ”, công trình đồ sộ nhiều tập, xuất bản 1679, in mộc bản 5 màu, được xem là cẩm nang lý luận và thực hành mà tất cả họa gia (cổ điển) TQ phải học!

giải trí đến chết

Facebook nhắc lại ngày này năm trước, đọc lại những dòng chính mình viết, bỗng thấy nó giống hệt như những gì được viết trong cuốn Giải trí đến chết – Amusing Ourselves to Death – Neil Postman, dù chưa thực sự đọc cuốn sách này một cách đầy đủ bao giờ. Nói theo kiểu phương Tây thì như vậy, nói theo kiểu phương Đông thậm chí còn trực quan dễ hiểu hơn: phải tìm cách đánh vào “cái tôi”, phải làm cho nó được thỏa mãn, hài lòng.

Bằng cách cung cấp những nội dung “sốt dẻo, kích thích, thỏa mãn”, phải kích hoạt cái phản xạ “tôi hiểu biết, như tôi mới đúng, tôi hơn người”. Cách thức nô dịch con người chính là thế, phải làm cho họ hài lòng với những thứ vô thưởng vô phạt, để họ quên đi điều gì là quan trọng trong cuộc sống! Nhân tiện nói về cái clip, với việc Nga & Mỹ ngồi lại với nhau để chia miếng bánh, thì thời gian của vị trong clip chỉ còn tính bằng ngày mà thôi! :D

sở hữu yếu

Xem phim lịch sử, cổ trang Trung Quốc thấy được vài điều… Điều gì khiến cho triều Thanh trở nên mạnh mẽ, chiếm được “thiên hạ” và hoàn toàn khác biệt so với các triều đại khác của TQ? Nếu chỉ xem lướt lướt các phim thì có vẻ như triều đại phong kiến nào cũng giống nhau! Nhưng thực ra, so với thể chế chính trị cực kỳ hủ bại và tàn ác của triều Minh trước đó, thì triều Thanh “ngoại tộc” thực sự có những yếu tố mới mẻ và lấy được lòng dân! Ít nhất là ở giai đoạn đầu, yếu tố cơ bản khiến Thanh triều khác biệt chính là cái mà tôi gọi là “quyền sở hữu yếu”.

Nhưng như thế nào là “quyền sở hữu yếu”!? Đầu tiên, vì gốc gác là dân tộc du mục, người Mãn không có khái niệm sở hữu đất đai, không phân phong cho ai quyền cai quản đất đai vĩnh viễn. Nên dùng chữ “phong kiến” ở đây chỉ đúng một nữa, vì tuy có “phong vị” nhưng lại không có “kiến địa”. Xã hội Mãn châu nguyên thủy được tổ chức thành các đơn vị cơ bản, một mô hình dân – quân hợp nhất gọi là “Tá lĩnh”, mỗi Tá lĩnh bao gồm khoảng 300 chiến binh cùng với gia đình, vợ con, cha mẹ của họ. Toàn Thanh triều lúc cực thịnh có tổng cộng khoảng 664 Tá lĩnh.

Một người có thể được giao cho quản lý một hoặc nhiều Tá lĩnh, tùy theo địa vị, công trạng, nhưng quyền quản lý này có thể bị thu hồi thông qua quyết định của một hội đồng, hay qua mệnh lệnh trực tiếp từ Khả Hãn. Việc thế tập (cha truyền con nối) là phổ biến, nhưng không phải là hiển nhiên, các thế hệ sau muốn duy trì quyền kiểm soát này thì phải cố gắng tạo dựng công trạng! Như xem trong các phim cổ trang thì các Kỳ nhân đều xưng hô với Kỳ chủ là “nô tài” này nọ, thực chất đó chỉ là khiêm xưng, bản thân Kỳ nhân hoàn toàn không phải là nô tài, nô tì.

Họ là những lương nhân tự do, chỉ bị ràng buộc với Chủ từ qua các quan hệ lao động. Những Kỳ nhân này làm việc cho Chủ tử theo những chế độ lương, thưởng được quy định rõ ràng! Và các Kỳ nhân cũng được luật pháp bảo vệ, Chủ tử không thể giết hại họ tùy ý được! Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra, và nếu xảy ra thì Chủ tử sẽ bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc! Như thế, “sở hữu” một Tá lĩnh thực chất không phải là quyền sở hữu đất đai, cũng không phải là quyền sở hữu con người (nông nô, nô lệ), mà gần như chỉ là quyền “quản lý” tài sản và lao động!

Luật pháp Thanh triều quy định phân biệt rõ ràng giữa tài sản riêng và tài sản chung. Như xem trong các phim cung đấu thì khi một phi tần được sủng ái, họ sẽ được ban cho cung điện, châu báu, tài sản, người hầu hạ này nọ. Nhìn thì có vẻ xông xênh, ra ngoài được khiêng kiệu, che lọng, tiền hô hậu ủng, nhưng tất cả những “tài sản” đó đều chỉ là… cho mượn, khi bị giáng vị, thăng vị, huyền vị… thì toàn bộ đều phải trả lại! Thế nên mới có tình huống hoàng đế, vì sủng ái một vị thê tử nào đó, mới xuất tiền túi ra cho riêng, để vị nương nương này có chỗ dựa khi về già!

Quý tộc thế tập thời Thanh, dù vẫn là cha truyền con nối, nhưng đa số là “Thế tập đệ giáng”: qua một đời thì giáng xuống một cấp, như Trấn quốc công thì giáng thành Phụ quốc công, và cứ thế tiếp tục, điều này giúp làm giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Vì quyền thừa kế không phải là nguyên vẹn và vĩnh viễn, nên con cháu đời sau vẫn phải cố gắng nếu muốn duy trì gia tộc hưng thịnh! Những điều này dần thay đổi khi Mãn tộc chung sống và bị đồng hóa bởi người Hán, nhưng ít nhất ở giai đoạn đầu, “sở hữu yếu – không có gì là vĩnh viễn” là ưu điểm rất lớn của thể chế!

flintstones technologies

Khi trong tay bạn chỉ có cái búa (là dụng cụ duy nhất) thì mọi vấn đề nhìn đều giống… cây đinh – When your only tool is the hammer, every problem looks like nails. Cũng tương tự như vậy, khi tất cả những công cụ bạn dùng là cờ-lê và tua-vít, thì mọi vấn đề đều nhìn giống bu-lông và ốc vít! Đây là dạng mà tôi gọi là “Công nghệ Đá lửa – Flintstones technologies”, ai từng ưa thích loạt phim hoạt hình này sẽ hiểu ý thế nào… :D

góc phần tư

Chiều hôm trước đạp xe cuối ngày, dừng chờ đèn đỏ ở một cái ngã tư, quan sát thấy chỉ trong 1 góc phần tư chừng 20 m2 của cái ngã tư đó thì thấy có: 2 cột gắn biển tên đường, 2 cột đèn giao thông, 2 cột gắn biển báo giao thông, và 2 cột đèn chiếu sáng, tổng cộng 8 cột tại 1 góc phần tư của cái ngã tư, chưa kể một cây cột điện!

Còn nếu tính hết cả 4 góc phần tư thì có đến 30 cây cột. Nghĩ thầm 8 cây cột này, nếu làm khéo rút lại chỉ còn 1, cùng lắm 2 cây là đủ! Nhìn như một rừng chông luôn: Lớp lớp trùng trùng xanh thẳm giữa quê hương, Hãy vót đi em mũi nhọn kiên cường! Đi đâu cũng cắm biển, đến lúc lại hỏi vì sao mua dây buộc mình!? :D Càng cắm lại càng loạn!

mạng xã hội

Cái Mạng xã hội hiện đại đầu tiên của con người, đó chính là… điện thoại cố định. Nhớ những năm 9x, ở nhà bắt điện thoại, là con em tôi nó ôm máy nói chuyện với bạn suốt hai, ba tiếng. Thế rồi cái thói quen nấu cháo điện thoại lan ra cả nhà, trừ… tôi. Đến tận giờ, bốc máy lên là nói chuyện vừa đủ, không dông dài, hiếm khi nào quá 15 giây. Các số điện thoại lừa đảo, quấy rối thời này chúng nó có chiêu là gọi tới nhưng không nói ngay, cứ để cho mình alo, alo vài tiếng đã, chừng 5, 7 giây sau chúng nó mới bắt đầu nói. Đó là thủ thuật, tiểu xảo để trước tiên đẩy “con mồi” vào tâm trạng lo lắng, không biết người gọi có ý gì, có thông tin gì mà không chịu nói!?

Nên kiểu tôi alo tới lần thứ 2 mà bên kia không ư hử gì là số đó sẽ bị block lập tức! Nhá máy tới lần thứ 2 là block, dùng brandname (tên đại diện) là block, bất kể brandname gì, gọi tới mà nghe giọng nói thu âm sẵn (synthesized) là block! Mời chào bảo hiểm, chứng khoán là block, đến giờ đã block hàng ngàn số. MXH đã ra không biết bao nhiêu là phiên bản: máy nhắn tin, SMS, điện thoại di động, IRC, ICQ, Yahoo Messenger, Skype, Zoom, Twitter, Facebook,… mà với phiên bản đầu tiên: điện thoại cố định, vẫn chưa có cách đáng tin cậy nào để báo cáo, ngăn chặn các số điện thoại quấy nhiễu, chưa có cách hữu hiệu nào để làm cho nó trong sạch!

xuân vận, p2

Xuân vận – 春运 – vận động nhẹ nhàng ngày xuân… Con người mình yếu nhất là mặt kỷ luật, rất dễ bị xao nhãng bởi vô số lý do! Lại thêm công việc kiểu… thời gian cao su, không hạn định lúc bắt đầu, kết thúc, chỉ cần thức khuya vài tiếng là hôm sau dậy trễ. Mà cái này trễ sẽ kéo theo cái khác trễ, hiện tại mới tập ở mức mỗi ngày 2 tiếng, đã liên tục được hơn 2 tháng, nếu tăng lên nữa không biết có giữ được nhịp độ không?!

Gym – corner, góc tập gym đã đầy đủ thiết bị, máy móc, tập xong phải dựng máy lên xếp vô góc tường cho nó bớt chiếm diện tích! Thực ra bao nhiêu đó là quá đủ rồi, chỉ sợ là không giữ được lịch trình tập luyện thôi! Thời tiết năm nay khác hẳn mọi năm, đã qua tiết Nguyên tiêu rồi mà thời khí vẫn còn khá mát, tập không thấy mệt. Mùa xuân trở lại, lòng người cũng đổi mới, gặp ai cũng muốn nói: “Chào em nhé, nụ cười tươi thế…” :)

quản & cấm

Bỏ tư duy quản không được thì cấm, nói dễ nhưng làm không dễ. Vì thực ra, với những cái tâm nhiễu loạn thì lúc nào, chuyện gì nó cũng muốn quản hết trơn á: tôi biết, tôi đúng, ai khác tôi là không được. Do tâm nhiễu loạn nên không thể nhìn cho rõ vấn đề, thấy cái gì mới, lạ thì một là sợ, hai là ghét, đã là thời buổi nào rồi mà dân trí đa số vẫn như thế! Dần dần, toàn hệ thống luật pháp trở thành một kiểu phòng thủ, phòng thủ đến mức bảo thủ, tìm cách quản tối đa, đến mức tự mua dây buộc mình! Cho một anh công an chuyên điều tra tâm lý tội phạm đi theo dõi, “bảo vệ” một người tu hành (là nói cái người không tu chỉ hành, trái ngược lại với một số thành phần có tu mà không hành ấy). Mà anh công an này trình độ không cao lắm, thì ảnh nhìn đâu cũng chỉ thấy tội phạm mà thôi, người ta chỉ nhìn thấy cái mà “tâm” của họ muốn thấy, quả nhiên là như thế!

Mà nói về tu hành, học hành, tuy rằng việc học hành bắt đầu với hình thức lặp lại một số điều “ta đã biết”, nhưng nói cho đúng thì, mục đích sau cùng của học hành thực ra là để ứng phó với những điều mà… “ta chưa biết”! Có một số người, học được một số điều, rồi cứ lặp như vẹt một số khuôn mẫu, rồi bắt cả thế giới phải theo đúng những điều anh ta biết, có sự ngược ngạo nào lớn hơn vậy không!? Mà để ứng phó với điều “ta chưa biết”, thì đầu tiên, cứ phải nói thẳng là… ta chưa biết, giữ cho cái tâm “trống không” để có thể nhìn nhận sự việc cho chân phương, rõ ràng. Với tội phạm, đôi khi có thể áp dụng một vài bài bản, khuôn mẫu được, thậm chí là giở cả thủ đoạn, xảo thuật được, vì tội phạm thường tuân theo những mẫu nhất định. Nhưng với người đã muốn vươn ra cảnh giới “tứ đại giai không” mà làm vậy khác nào “Ban môn lộng phủ”, làm điều vô ích?

Bỏ tư duy quản không được thì cấm, không hiểu gì nhưng vẫn quản, vẫn cấm, nói dễ nhưng làm không hề dễ, vì muốn làm cho rốt ráo thì phải “nâng cấp” toàn bộ dân trí, việc khó hơn lên trời. Vì đa số người Việt, từ lúc sinh ra là đã có vô số vấn đề trong “tâm” rồi, “cố cùng” bám lấy điều “tôi biết, tôi đúng, ai khác tôi là không được”, không bao giờ chịu hé mắt nhìn ra xem thế giới như thế nào, chưa nói đến việc tự thay đổi bản thân, nhiều người thậm chí có những nét cá tính “tự hủy diệt”. Tôi dùng từ “tự hủy diệt” là nói những dạng bệnh tâm thần, tự làm mình bị thương, tự cào cấu bản thân (kiểu Chí Phèo rạch mặt ăn vạ cũng là dạng bệnh lý này), đã đến mức như vậy rồi muốn sửa đổi có được hay không? Đôi khi phải có một cái “tính không” vô cùng lớn để cho họ nhận ra rằng: thực ra không ai làm gì cả, là tự họ làm mình bị thương, tự họ tạo ra vấn đề thôi!