cửu vị thần công

Khi nhỏ vẫn hay trèo lên 9 khẩu thần công này chơi, dài hơn 5m, nặng đến 11 tấn mỗi khẩu. Trên mỗi cỗ súng có khắc rõ bằng chữ Hán cách thức bắn, dịch ra như sau: nạp 4 lớp thuốc súng, lớp thứ nhất 30 cân thuốc súng cộng 40 cân đất, lớp thứ hai 30 cân thuốc súng cộng 105 cân đất, lớp thứ ba gồm 40 cân thuốc súng cộng 120 cân đất, lớp cuối cùng 20 cân thuốc súng… Như thế, người làm ra súng này hiểu rõ hạn chế của nó, thuốc súng (gunpowder, blackpowder) ngày xưa có một nhược điểm so với các loại thuốc phóng hiện đại (smokeless powder, propellant) là tốc độ cháy quá nhanh, gây ra sự đột biến áp suất làm vỡ nòng! Các loại thuốc phóng hiện đại cháy chậm lúc đầu và cháy nhanh dần về sau, đường cong biểu diễn biến thiên áp suất theo thời gian tăng mềm mại, ít dốc hơn!

Đó cũng là lý do các khẩu pháo hiện đại nhỏ nhẹ hơn rất nhiều so với các phiên bản “thần công” cổ xưa. Cách thức nạp đạn chèn nhiều lớp thuốc súng xen kẽ với các lớp đất là để cho quá trình cháy diễn ra chậm lại, một cách để kiểm soát áp suất không cho súng vỡ! Thật sự “thông minh”, mới nghe thì có vẻ là như thế, nhưng thực ra chính là… ngược lại! Các loại pháo phương Tây đương thời chỉ nạp một lớp duy nhất, không ai nạp nhiều lớp như thế, tưởng tượng mất đến 5, 10 phút chưa nạp xong một phát đạn! Ở đây ta lại thấy một nét cá tính rất… Vietic, luôn tìm ra một cái chiêu thức, một cái mánh mẹo nào đó để “giải quyết” vấn đề, làm sao vẫn bắn được cái khẩu súng chế tạo không đạt yêu cầu đó! Đương nhiên vấn đề gốc là khẩu súng không xài được thì nó vẫn ở đó chứ không đi đâu cả!

Từ những hiện vật lịch sử là thấy rõ rằng: thời Nguyễn, dù đã đúc được pháo nhỏ 100~200 kg, nhưng chưa làm chủ được công nghệ đúc pháo nòng dài 500~600 kg (chưa nói tới những loại 1, 2 tấn). Các hiện vật pháo nòng dài trên 500 kg được nhà Nguyễn sử dụng đều có xuất xứ châu Âu, dù vẫn có một số súng nòng ngắn “made in VN” dạng carronade đến ~700 kg. Để đúc được các loại pháo nòng dài thì phải kiểm soát được chính xác tỷ lệ đồng và thiếc, tạo ra đúng loại hợp kim “gunmetal” đủ độ bền chịu được áp lực nổ, không phải loại “đồng” nào cũng đúc súng tốt được! Phải nạp nhiều lớp thuốc súng thế này thì chỉ dùng làm súng nghi lễ thôi, không thực chiến được! Mà nói về pháo nòng dài (large calibre) thì, đến tận ngày nay, 2025, cũng đã làm chủ được công nghệ sản xuất đâu?!

jbb

Những gì được ghi chép lại trong “Junk blue book” cho thấy một môi trường hàng hải ven biển có độ “đa dạng sinh học” cao, nhiều thiết kế bản địa của VN, nhiều thiết kế thuyền là từ TQ, một số là phái sinh, phát triển từ các thiết kế TQ, có những thiết kế tàu được vay mượn từ Nhật Bản, và theo như quan sát của tôi, có cả những thiết kế vay mượn từ châu Âu mà cụ thể là Pháp, không phải là từ thời Pháp-thuộc-địa, mà là mượn từ Pháp ngay từ thời Nguyễn Ánh – Tây Sơn phân tranh! Vô cùng đa dạng và sống động là những thiết kế tàu thuyền dọc theo bờ biển VN, cứ tập-đại-thành (hay là cẩu-tạp-chủng!?) như thế, đôi lúc cho thấy có những sáng kiến kỹ thuật tương đối khéo léo! Nhưng sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng đó là tài trí, là thông minh, phải nói rõ như vậy chứ không lại hoang tưởng!

Hình 1: ván thuyền được khoan lỗ và xỏ dây, xiết lại, sau đó được xảm bằng bột tre trộn nhựa thông, loại xảm này cứ mỗi năm là phải cạo ra làm lại một lần! Hình 2: đáy thuyền đan bằng nan tre với chỉ một ít khung gỗ, tre rẻ và dễ kiếm, nhưng độ bền cơ học không cao, cứ mỗi 5 năm là phải thay mới toàn bộ đáy tre. Hình 3: dây thừng được bện từ xơ dừa hay sợi mây, cứ 3, 4 tháng là phải thay dây mới một lần. Hình 4: buồm được dệt thô từ sợi lá cọ, cũng rất kém bền, mỗi 5, 6 tháng là phải thay mới toàn bộ buồm. Hình 5: mỏ neo làm bằng gỗ cứng, cột thêm cục đá cho nặng hơn. Hình 6: các loại thuyền VN đa số đáy bằng và nông nên độ ổn định rất kém, họ gác thêm các thanh gỗ để khi thuyền nghiêng sang một bên thì leo ra bên đối diện ngồi, như chim đu trên dây điện vậy, để cho cân tàu! :D

Kiểu “đòn cân bằng” này thực sự được dùng trong một số dạng thuyền thể dục, thể thao, nhưng tàu làm việc, tàu đi biển dài ngày mà như vậy thì không ổn chút nào, gió lớn mà sơ sảy một chút là lật ngay! Hình 7: xiếm mũi (và cả xiếm đuôi), đặt ở mũi và đuôi vì không thể đục lỗ giữa thuyền, kỹ thuật mộc chưa bảo đảm sẽ không bị rò nước, đành phải xài giải pháp… nửa vời như thế! Hình 8: đèn dầu hỏa đặt bên trong một cái chai thủy tinh để chống gió. Hình 9: lu đựng nước ngọt bằng đất, kiểu này đi biển dài ngày mà lu vỡ thì không biết làm sao? Tất cả cho thấy những giải pháp kỹ thuật rất sơ khai và tạm bợ, thiếu độ an toàn, bền bỉ, thiếu ổn định, không thể đi biển dài ngày được! Ngoài ra tác giả lưu ý: hoàn toàn không thấy có thiết bị cứu hộ, đèn tín hiệu hay bất kỳ luật lệ giao thông nào!

Đội 128

Nhiều người biết về “Đoàn 559” các con tàu không số, đi chuyến đầu tiên năm 1961, chuyên vận tải vũ khí trên biển những năm kháng chiến chống Mỹ. Thời đó, các con tàu không số có thể xem là tương đối “hiện đại”, tàu máy vỏ sắt, tải trọng có thể lên đến một vài trăm tấn, được trang bị la bàn và các phương pháp định vị thiên văn như kính lục phân (sextant). Đoàn 559 thường xuất bến từ Hải Phòng và đi khắp các vùng biển VN, phần tàu, trang bị và huấn luyện là có sự giúp đỡ nhất định từ TQ. Nhưng rất ít người biết về “Đội giao thông đường biển 128” thuộc Cục quân báo, nay là Tổng cục 2. “Đội 128” đi chuyến đầu tiên sớm hơn những 5 năm, tháng 3/1956, đội bao gồm hàng chục tàu và khoảng gần 200 người…

Những con tàu đầu tiên đóng ở Nghệ An, những chiếc sau được thuê đóng ngay tại miền Nam, do bờ biển VN rất đa dạng các kiểu dáng tàu, nên đóng tại địa phương để nhìn cho giống! Xuất bến Vĩnh Linh, Quảng Trị, thường vào Đà Nẵng, Quảng Nam rồi sau tới Quy Nhơn, Khánh Hòa, Vũng Tàu. Là tàu quân báo nên hoàn toàn chỉ mang yếu tố VN, giả dạng làm tàu đánh cá, chủ yếu là buồm (không rõ đã có trang bị máy hay chưa, lúc đó rất ít tàu cá được trang bị máy) và có giấy tờ “hợp pháp” của chính quyền SG, không làm nhiệm vụ vận tải hàng hóa mà chỉ chở người và trang thiết bị phục vụ công tác điệp báo. Hình lấy từ “Junk blue book”, hãy đọc dòng chữ viết trên lá buồm… “Tố cọng diệt cọng là yêu nước” :D

mechanical advantages

Facebook nhắc ngày này năm trước, cái máy ép dầu thời kỳ “tiền công nghiệp”… Một thời gian sau, nhờ mạng thông tin hiện đại mà xem được cũng cái máy này, nhưng là phiên bản “cổ truyền TQ”, so với phiên bản VN có nhiều khác biệt. Thay vì dùng 2 thanh niên trai tráng khỏe mạnh quai búa, là loại búa tạ nặng, thì họ treo cục sắt nặng lên một sợi dây, tìm cách lắc cục tạ này như con lắc, đến khi đủ biên độ thì đánh vào cái nêm để vận hành máy. Như thế tiết kiệm được nhiều sức lực vì không phải dùng sức người để quai búa rất nặng. Có vô số hình thức gọi là “mechanical advantages”, tạo ra lợi thế cơ học nhằm bớt đi sức lao động, giảm mệt mỏi, tăng năng suất! Từ đòn bẩy cho đến các hệ thống ròng rọc liên hoàn, rồi tiến đến các hệ truyền động phức tạp như bánh răng, dây xích, etc..

Tìm cách đạt được lợi thế cơ học là bước đầu tiên để tiến đến chế tạo ra máy móc cơ khí đơn giản. Nhưng xem các “máy móc” thủ công nghiệp VN xưa thì thấy rất thiếu các hình thức “mechanical advantages” này, thuần túy dựa vào sức người kiểu… trâu bò, nhiều cải tiến vô cùng đơn giản không làm được. Đến những chuyện nhỏ còn chưa hiểu, chưa làm được mà toàn ngồi tán láo “công nghệ trên trời” không à! Toàn các bố thiểu năng, ưa phét lác ngôn từ, từ nhỏ không chịu vận động nên mãi vẫn không thể hiểu được những nguyên tắc vật lý cơ bản, nhưng hoang tưởng siêu hạng, lại còn… “như tôi mới đúng, ai khác tôi là không được” nhé! Nếu chịu tập thể dục, vận động từ nhỏ thì sẽ hiểu cách thế giới vật lý vận hành, đồng thời cũng là cách khống chế cái “tâm” cuồng loạn vô đối!

kỵ binh trâu

Nhiều “tiến sư – giáo sĩ, sử gia – giả sư” khi nghe được về “kỵ binh” thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh, thế là chộp ngay lấy cái từ “kỵ binh” và bắt đầu huyên thuyên ngựa VN thế này thế kia. Thực ra, theo John Barrow, chúa Nguyễn có: 24 đội kỵ binh (cưỡi trâu) – 6.000 người và 16 đội tượng binh (200 con voi) – 8.000 người! Như thế là đã rõ, ngựa VN thời đó vừa ít lại vừa yếu, chắc chỉ đủ trang bị cho một số lính thông tin, còn lại là… cỡi trâu cả! Không phải là chuyện khôi hài đâu, đến thời hiện đại, một số nước như Brazil vẫn có các đội cảnh sát cưỡi trâu, Mạnh Hoạch trong truyện Tam quốc cũng cỡi trâu, nhiều nơi khác trên thế giới thời xưa cũng thế! Đơn giản là người ta không thể dùng cái người ta không có nhiều được!

Lại nghe được thêm một từ nữa là “tàu đồng, tàu bọc đồng”, thế là bắt đầu tán láo về các loại “thiết giáp hạm” nồi đồng cối đá! Thực ra lớp đồng này chỉ mỏng từ 1~3mm, chỉ bọc từ mực nước trở xuống, có tác dụng bảo vệ gỗ, không cho các loại hà, hàu đục phá, hoàn toàn không có tính năng như “giáp” bảo vệ tàu trước các loại đạn! Lại nghe được thêm một từ “súng – hải pháo” và ngồi tưởng tượng ra các con tàu được trang bị đến 60 “súng”! Súng theo nghĩa phương Tây phải là những loại từ 1.5~2.5 tấn hoặc hơn kia, không phải mấy khẩu pháo tép nặng 100kg đâu! Có những loại vô cùng “thông minh và nhanh nhạy” như thế, toàn “huyên thuyên tán láo, xào xáo ngôn từ”, không hề hiểu thực tế vận động như thế nào!

biệt động sài gòn

Ngày càng có nhiều thông tin được giải mật, như vụ cướp máy bay trực thăng UH-1 ở Đà Lạt, trước đây xem như tin đồn, huyền thoại chưa biết có thật không, giờ đã được chứng thực. Sự việc cướp máy bay hết sức ly kỳ này đã được “mượn” thành một tình tiết trong bộ phim “Cuộc chiến xa lạ” do người Nga làm cách đây vài năm!

Nhiều thông tin vẫn phải “đọc giữa các dòng chữ – read between the lines”, như cô bé mồ côi ở Quảng Ngãi không phải vô tình mà đi SG làm người giúp việc, đều là do tổ chức xếp cả, hay “tình cờ” đọc lá thư cũng là bài test, nếu vượt qua được bài kiểm tra này thì xin chúc mừng, bạn đã trở thành ứng viên cho các đội Biệt động Sài Gòn!

Để trở thành thành viên các tổ điệp báo, bạn cần phải thông minh, gan dạ hơn người, ngoại ngữ giỏi, thậm chí có thể được gởi đi nước ngoài học làm “quân bài dự phòng”! Để trở thành thành viên các đội biệt động, phần đông đó là những đứa trẻ đã bị “traumatized” vì chứng kiến các tội ác của người Mỹ, họ chỉ ám ảnh là phải báo thù.

hư ảo

Các câu hỏi đặt ra phần lớn là những “câu hỏi thông minh”, hỏi tức là gợi ý vấn đề, và mục đích là để kiểm tra xem người khác thông minh thế nào. Nhưng cũng có loại câu hỏi đặt ra chỉ để kiểm tra người khác có… bị ngu hay không? Điển hình là cái câu: “làm sao bỏ một con voi vào trong tủ lạnh” nổi tiếng trong ngành CNTT ấy, ngày trước tôi ghét cái câu đó vô cùng, và ghét luôn bất kỳ ai hỏi câu đó! Vì nó không truyền tải bất kỳ một ý tứ hay nghĩa lý nào, chỉ là kiểm tra xem bao nhiêu thằng đủ máy móc để lặp lại câu trả lời: “thì mở cửa tủ ra, bỏ con voi vào”! Nguyên là một kiểu nói đùa, đùa thô đến mức phải tự thọc lét thì mới cười được, vậy mà cũng có những loại thiểu năng đem câu hỏi đó đi kiểm tra IQ.

Nhưng các “sử gia internet” VN thì có vô số dạng câu hỏi ngu như thế, một số trường hợp là… kết nối 2 sự việc chẳng có liên quan gì với nhau, bịa ra tin giả từ… không khí, ví dụ như: Trần Hữu Lượng ở TQ là con của Trần Ích Tắc nhà Trần VN! Một số trường hợp nữa, vì mặc cảm nhược tiểu, thua kém nên đã… nói ngược, ví dụ như: Hồ Nguyên Trừng đã đem nghề đúc súng của VN truyền bá vào TQ, được xem là ông tổ nghề đúc súng ở TQ. Một dạng khác là cường điệu thực tế lên cả chục lần, kiểu như bảo nhà Tây Sơn có 9 chiến hạm được trang bị 60 súng đại bác! Các khẩu thần công còn sót lại ở VN chỉ có một số rất ít (đếm trên đầu ngón tay) là súng bắn đạn 24 pound, loại dài đến 3m và nặng khoảng 2.5 tấn.

Tất cả súng này đều đặt ở những vị trí phòng thủ cố định trên bộ. Hiện chưa có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy VN đã đặt được súng nặng từ 1 tấn trở lên trên thuyền, vì di chuyển và điều khiển 1 tấn đó không hề đơn giản chút nào, khi dây thừng tốt còn chưa làm được, và chưa biết cách xài ròng rọc cho rành! Mà súng cỡ 1 tấn là tương đương với loại bắn đạn 9 pound, là loại súng được dùng trên… các tàu buôn châu Âu thời bấy giờ, còn súng trên tàu chiến phải từ 12 pound (khoảng 1.5 tấn) trở lên kia! Phần lớn các súng thần công tìm được ở vùng biển VN cho đến ngày nay là loại 6 pound hay nhỏ hơn, thường chỉ nặng dưới 500~600 kg. Nói cho đúng thì VN lúc bấy giờ còn chưa có Hải quân theo đúng kiểu châu Âu!

Lại càng chưa thể nói về nói những con tàu 60 súng, mỗi súng bắn đạn 24 pound, những loại như thế phải hơn 1000 tấn. Cũng có thể đó là một kiểu “léo lận ngôn từ” trong các giấy tờ, sách vở xưa, khi xem một khẩu pháo tép (swivel gun) nặng cỡ 100kg (hay một khẩu “hỏa hổ” do 2 người vác vai) như “một khẩu súng”, “lập lờ đánh lận con đen” nó với các loại “hải pháo” thật sự nặng nhiều tấn. Rất nhiều người chỉ đọc thông tin trên giấy chứ hoàn toàn không hiểu thực tế nó như thế nào, ví dụ như nói về các con “tàu đồng, tàu bọc đồng”, nhiều người lập tức nghĩ về nó như một loại “giáp”, “nồi đồng cối đá”, thực ra lớp bọc đồng này chỉ dày có 1~3mm và bọc từ mực nước trở xuống để bảo vệ gỗ chống lại các loại hà, hàu.

Lớp bọc đồng này hoàn toàn không có tác dụng như lớp giáp bảo vệ tàu trước các loại đạn, những kiểu “tiến sư – giáo sĩ, sử gia – giả sư” này đọc được đúng một từ “bọc đồng” rồi ngồi tưởng tượng ra các loại “thiết giáp hạm”. Dạng thiểu năng này nhiều vô kể, hoàn toàn không hiểu gì thực tế, chỉ “tán láo” mà thôi! Một dạng câu hỏi ngu khác là vẽ ra những điều hư ảo, xàm xí, kiểu như sau chiến tranh Nha phiến thất bại, TQ muốn dựa vào VN để học hỏi công nghệ đóng tàu. Đã đến thời hiện đại rồi, không lừa được ai với những kiểu xàm xí này đâu, cứ ôm mãi những điều hư ảo, không có năng lực thực tế thì rồi cuối cùng cũng chỉ có… “hư ảo” mà thôi! Có bộ phận rất lớn cứ suốt ngày ngồi bịa ra những chuyện như vậy!

Dùng một câu chuyện “tiếu lâm” để mô tả cách người Việt tìm hiểu quá khứ và tự nhận thức về bản thân, nó giống như một khoảng trống hoác vậy! Các nhà khảo cổ Nga, sau một thời gian đào bới, khai quật đã tìm được một cọng dây đồng, họ nghiên cứu kỹ lưỡng và đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Nga đã dùng mạng cáp đồng! Người Mỹ cũng không chịu kém, sau một thời gian đào bới cũng tìm được một mẩu thủy tinh giống hình sợi cáp, họ nghiên cứu chán chê rồi đi đến kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên người Mỹ đã dùng mạng cáp quang! Một số người Việt cũng bắt chước đào bới như vậy, nhưng đào mãi mà không thấy gì, bèn kết luận: 4000 năm trước, tổ tiên chúng ta đã xài mạng không dây! :D

120 bpm

Nhìn chung là đã đi khá đều và đẹp, nhưng mà cái nhịp chậm lê thê phát chán… người Nga thường đi với tempo – nhịp là 120 bpm – beat per minute, trông vô cùng sinh động. Người Trung Quốc thường đi với tempo khoảng 110 bmp, chậm hơn một chút, cũng rất là khí thế. Mà người Việt toàn đi với tempo vừa chậm lê thê, vừa không chuẩn, đâu đó trong khoảng 85 ~ 90.

Xem clip thấy các bạn Trung Quốc phải cố tình kéo nhịp chậm lại cho khớp với các khối quân khác mà thấy tội! Haiza, đều và đẹp là một chuyện, nhưng nhịp là một cái gì đó rất căn cơ, thể chất kiểu này ngó bộ phải nhiều thế hệ nữa! Hãy xem & nghe clip để hình dung nhịp 120 bpm nó như thế nào nhé. Chương trình âm nhạc cuối tuần, Bài ca người lính – Ballad of a Soldier!

huyền sử

Tại sao ghi chép thời Nguyễn Ánh – Tây Sơn lại có quá nhiều thứ xàm xí, tào lao như vậy!? Trước hết là vì người Việt không có thói quen làm tài liệu chính xác, còn chính sử của nhà Nguyễn (viết bằng chữ Hán) cũng có những vấn đề của riêng nó. Những gì chúng ta biết bây giờ, đa số là biết thông qua các thư từ, ghi chép của những người Pháp, người phương Tây từng phục vụ cho chúa Nguyễn, mà những ghi chép của họ rất rất có vấn đề. Điểm qua một số người nước ngoài phục vụ trong biên chế chúa Nguyễn: Philippe Vannier: thuyền trưởng, chỉ huy tàu Phụng Phi, nhưng các tài liệu Pháp thì ghi ông ta là… Đô đốc(!!!) Jean-Marie Dayot: đại úy hậu cần, chỉ huy 2 tàu, phụ trách vẽ bản đồ và huấn luyện.

Olivier de Puymanel: có lẽ là người quan trọng nhất trong số những người phương Tây phục vụ Chúa, giám sát thi công thành Bát Quái. Jean-Baptiste Chaigneau: thuyền trưởng tàu Long Phi, được phong tước Hầu. Laurent André Barisy: thuyền trưởng, phụ trách mua sắm vũ khí với các nước Nam Á, cũng được phong tước Hầu. Hầu hết những người này được phong chức Chưởng cơ! Nói theo ngôn từ ngày nay thì Chưởng cơ tương đương với cỡ Trung tá, nhưng theo quan chế thời đó, thường chỉ chỉ huy khoảng 500 ~ 600 quân chính quy. Nhưng đó chỉ là danh nghĩa, trên thực tế, những người Pháp này chỉ được giao 50 ~ 100 lính cho có hình thức mà thôi. Về các tước Hầu, đây là vấn đề của thời Gia Long tẩu quốc!

Để tranh thủ sự giúp đỡ của nhiều người, nhà Chúa đã phong Hầu… một cách vô tội vạ, chỉ là những tước Hầu hữu danh vô thực! Phần lớn những người phương Tây hỗ trợ chúa Nguyễn là thuộc loại mà bây giờ chúng ta gọi là những kẻ phiêu lưu, cơ hội – adventurist, như Barisy nhờ được giao phụ trách mua sắm vũ khí nên đã biển thủ, gom góp được một số tiền kha khá. Thư của Barisy kể về quân Tây Sơn như đúng rồi luôn: chúng tôi đã chiến đấu với quân Tây Sơn, họ có 9 tàu loại 60 súng, mỗi tàu 700 lính, 5 tàu loại 50 súng, mỗi tàu 600 lính, 40 tàu loại 16 súng, mỗi tàu 200 lính, etc… và chúng tôi đã chiến thắng! Trận Thị Nại, Barisy chỉ được đứng sau quan sát mà thôi! Dễ dàng nhận thấy ông ta (Barisy) chỉ phét lác!

Nếu cộng các con số của Barisy lại, thì nhà Tây Sơn sẽ có đến… 6 ~ 7 vạn Thủy quân, con số mà ngay cả Hải quân Việt Nam thời giờ cũng chưa có! Ngoài Barisy, nhiều người khác cũng thế, cái đám phiêu lưu đi tìm cơ hội làm giàu này không gì là không dám nói, dù trong số những người Pháp làm việc cho chúa Nguyễn cũng có 1, 2 người không tham lam, gian dối và được Chúa tin tưởng! Vấn đề không dừng lại ở đó, sau nữa, những người Pháp khác, các thừa sai, linh mục, các “nhà nghiên cứu”, các “sử gia” giả danh… đã tìm cách “hợp thức hóa” quá trình Pháp can thiệp vào VN, dùng vô số chiêu thức lộng giả thành chân, các “thuyền trưởng – Chưởng cơ” này đều được phong khống lên thành “Đô đốc – Tướng quân” cả!

Tất cả nằm trong một mưu đồ gieo rắc “sương mù thông tin”, nghi ngờ và thù hận, chia rẽ người Việt, và cũng là một kế hoạch “kêu gọi đầu tư” từ Pháp! Ngay trong chuyện chúa Nguyễn trả thù nhà Tây Sơn một cách vô cùng dã man tàn bạo, có nhiều chi tiết có thể được xem là bịa đặt! Các vị ấy đã “vẽ rắn thêm chân” vô số chuyện hoang đường mà ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra! Rồi sau nữa, nhiều “tri thức” căn cứ vào những ghi chép đó, không biết có suy nghĩ gì không mà lặp lại như vẹt vậy, đẩy sự “vô tri” lên một tầm cao mới! Nếu nói rằng làm cho ngu dốt để dễ cai trị thì người Pháp đã vô cùng thành công! Những ghi chép của giai đoạn này cần phải được đọc với sự phân tích chi li và thận trọng tối đa!

công nghiệp hỗ trợ

Ghe thuyền cổ truyền VN, mới nhìn sơ qua thì nó hao hao, giống giống ghe thuyền TQ, nhưng đi sâu vào chi tiết thì lại khác nhau… xa chừng! Nhớ hồi năm 2017, tôi có chạy đi Quảng Yên, Quảng Ninh gặp bác nghệ nhân Lê Đức Chắn, nhìn cái cột buồm làm bằng một cây tre khá mong manh, tôi hỏi bác ấy: nếu mà gió bão to quá thì làm sao, ông ấy trả lời: thì hạ cột buồm xuống! Câu trả lời hoàn toàn đúng, người dân họ làm như vậy thật, cột buồm được gắn trên một cái đế (tabernacle), có thể nâng lên hạ xuống dễ dàng. Nhưng qua đó cho thấy cái sơ khai, tạm bợ của kỹ nghệ đóng thuyền VN xưa. Gần như không có đinh hay ốc, chỉ là khoan lỗ, xỏ dây và xiết lại! Rồi xảm chỗ nối bằng vôi bột trộn với dầu trẩu (tung oil).

Loại xảm này không bền, chưa tới 10 năm là phải cạo ra làm lại, trong khi các mối xảm thuyền TQ là bền hơn 100 năm! Không có dây thừng hay cáp gì, phần nhiều xài dây mây (rattan), vì thiếu những ngành công nghiệp hỗ trợ nên không thể có dây tốt, trong khi thuyền TQ đã xài dây Manila, loại dây “nhập khẩu” tốt nhất thời đó. Thậm chí, một số nơi còn chưa có vải buồm tốt đúng nghĩa, chỉ mới là dạng vải dệt thô từ các sợi lá cọ. Các loại ròng rọc, tời… gia công mộc rất thô sơ, lực kéo nặng do ma sát lớn! Các chi tiết này được mô tả rất kỹ trong cuốn “The junk blue book”! Từ cuốn “Hải thuyền thanh thư” đó rút ra được rất nhiều thông tin thú vị! Tất cho thấy những “công nghệ” rất thô sơ, tạm bợ, độ ổn định thấp!

Đó là chưa nói về tính an toàn và tiện dụng, kiểu như vậy mà đi biển xa, gặp giông gió lớn là hư hỏng, tai nạn bất kỳ lúc nào! Kỹ thuật thuyền VN xưa đôi khi cho thấy có những khéo léo bất ngờ, nhưng tựu trung là thông minh nhỏ, chỉ ứng biến nhất thời chứ không theo đuổi những “giải pháp căn cơ” thật sự! Nhưng biết làm sao khác được, đơn giản vì mỗi ngành “công nghiệp hỗ trợ” đó là một chuyên môn riêng, phải có những hiểu biết kỹ năng riêng thì mới làm được! Mà để người ta yên tâm xây dựng “công nghiệp hỗ trợ” thì nói cho cùng là… xã hội phải tôn trọng giá trị, phải có cơ chế bảo lưu và trao đổi giá trị. Nhưng cái văn hóa “sợ hãi – hoài nghi – khinh thị – tham lam và lạm phát” mà, không làm được điều đó!