uscgc mellon

Thế là Mỹ đã chuyển giao cho VN 3 con tàu Tuần duyên cũ, một chiếc hạ thủy năm… 1968, một chiếc hạ thủy năm 1969, và một chiếc năm 1972, như vậy 3 con tàu đó đã… 57, 56 và 53 tuổi, hai chiếc già hơn (USCGC Mellon và USCGC Morgenthau) thực sự đã từng tham chiến ở Việt Nam những năm 1968 ~ 1972! Theo các ước tính trong hàng hải, một con tàu đến 40 tuổi được xem là đã rất thành công, sau khi hạ thủy và đưa vào sử dụng khoảng 20 năm, sẽ có một lần “mid-life upgrade – nâng cấp giữa đời”!

Tức là được trông đợi là sẽ phục vụ tiếp nửa phần đời còn lại, thêm 20 năm nữa cho đủ 40 năm. Hơn 50 tuổi đối với một con tàu đã có thể xem là “cổ lai hy – xưa nay hiếm”, dù Nga có một con tàu đã 110 tuổi vẫn còn hoạt động trong biên chế, nhưng đây là ngoại lệ vô cùng hiếm hoi. Ở nhiều nơi khác thì những con tàu này đã bị biến thành… bia tập bắn từ lâu! Điều gì khiến cho những con tàu của họ 60 năm vẫn còn xài được, còn tàu chúng ta đóng ra mới chỉ có vài năm đã xập xệ, xuống cấp, liên tục sửa chữa!?

thủy thuật

Cũng giống như Kenjutsu (kiếm thuật), Jujitsu (nhu thuật), Aikijutsu (hiệp khí thuật), Sojutsu, Naginatajutsu, Kusarigamajutsu, Shurikenjutsu, Kyujutsu, Bojutsu, Bajutsu, etc… vậy, trong Thập bát ban võ nghệ cổ truyền Nhật Bản có một môn gọi là Suijutsu – Thủy thuật – 水術 là bộ môn dạy các kỹ năng chiến đấu dưới nước: bơi đường dài, bơi khi mặc giáp (mang 20kg giáp vẫn có thể bơi được), bơi biển, bắn cung khi đang bơi, ăn lúc bơi, cách thức lặn, dùng ống thở dưới nước… Khác với Thập bát ban võ nghệ của Trung Quốc, có phần hình thức, xa rời thực tế, sử dụng những binh khí cổ xưa, chủ yếu mang tính quy ước cổ truyền hơn là thực chiến, thập bát ban võ nghệ của người Nhật mang tính thực dụng, thực hành, cụ thể, rõ ràng!

Đặt trong ngữ cảnh hiện đại, so với các đội đặc công nước trên thế giới thì những điều này nghe có vẻ bình thường, nhưng đáng nói là Suijutsu có lịch sử nhiều trăm năm về trước, người Nhật đã hình thành nên những trường phái khác nhau chỉ để dạy môn Suijutsu cho các samurai, việc gì họ cũng làm kỹ càng, tường tận, làm đến mức hoàn hảo mới thôi! Chữ Thuật – 術 này, hai bên là chữ Hành – 行 – nghĩa là đi, là làm, mà chữ Hành này rõ ràng là tượng hình của 2 tay (hoặc 2 chân)! Các bố chỉ nói đằng mồm mà không động chân tay sẽ không cách nào mà hiểu được! Và cứ như thế, nói một chặp thì thành ra chỉ cần “trít học, mưu mô, và các ngôn từ xàm xí kiểu Quỷ Cốc tử” là đã có thể “trục lộc trung nguyên – 逐鹿中原” rồi!? :D

duy tân

Sau khi đội tàu của Đề đốc Matthew Perry đến Nhật Bản, trước một màn phô trương sức mạnh quá thuyết phục như vậy: những con tàu hơi nước hiện đại, những khẩu pháo Paixhans khổng lồ, chính quyền Tokugawa bị “thuyết phục” hoàn toàn và phải ký các hiệp ước mở cửa nước Nhật ra giao thương với thế giới sau hơn 200 năm khép kín. Matthew C. Perry là một người khéo léo, ông ta tặng người Nhật những khẩu súng lục Colt biệt danh: the peacemaker – người kiến tạo hòa bình, và cũng tặng kèm những động cơ hơi nước nhỏ mang tính trình diễn. Dù vẫn còn phải đánh nhau thêm vài trận nhỏ nữa (Boshin war) để dẹp hoàn toàn các thế lực cản đường trước khi chuyển sang thời Minh Trị duy tân, nhưng ngay lúc đó, người Nhật bắt tay vào những công việc cụ thể để canh tân đất nước.

Một trung tâm huấn luyện hàng hải được dựng lên bên cạnh Dejima, hòn đảo giao thương với người Hà Lan cũ, Tanaka Hisashige được giao nhiệm vụ phát triển các thiết bị điện tín (telegraph), công ty của ông ta sau về trở thành tập đoàn Toshiba lừng danh, và chỉ 2 năm sau thì họ chế tạo thành công động cơ hơi nước đầu tiên, tuy vẫn có một số khiếm khuyết nhưng chạy được. Về cái “nghi án” VN đã chế tạo thành công tàu thủy động cơ hơi nước dưới thời Nguyễn, tôi nghĩ cần phải nói thẳng đây là trò bịp bợm! Sự thực là nhà Nguyễn đã có mua vài chiếc tàu hơi nước nhỏ, nhưng mới dùng được thời gian thì hỏng, không tự sửa chữa được đành xếp xó! Ở VN cũng có người nhận rõ sự cần thiết phải Duy tân, ví dụ như Nguyễn Trường Tộ, ông ta… chăm chỉ viết điều trần gởi lên triều đình!

Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết… Nếu đọc kỹ Nguyễn Trường Tộ, ta sẽ thấy tư tưởng rõ ràng là có chút tiến bộ, nhưng lời văn vẫn kiểu mắc vào “cái tôi”, loay hoay không giải thích được Duy tân phải bắt đầu từ đâu! Quả thực như vậy, suốt cuộc đời ông ta chăm chỉ viết điều trần, viết đến gần 100 bản, nói thì dông dài quá nhiều nhưng chưa bao giờ thấy động tay chân làm điều gì! Có vẻ như là đã tận lực, đã cố hết sức rồi, nhưng toàn bộ những gì “làm” được chỉ là một mớ ngôn từ bùng nhùng, mơ hồ như thế! Như vậy phải coi lại sức khỏe thế chất, vật lý có vấn đề gì không, có bị khuyết tật chỗ nào hay không, chứ sao cái “dân tộc tính” đến tận ngày nay, mãi vẫn chỉ có nói mà không có làm như thế!?

“thần tượng”

Cứ nói thẳng ra đây là loại văn hóa hạ lưu, hạ cấp, thẳng thừng như thế cho chúng nó tỉnh ra, việc éo gì phải kiêng nể!? Một cái nền văn hóa có quá nhiều thứ giả danh, giả cầy, và nhiều người vẫn còn nghĩ rằng có thể “ẩn nấp an toàn” trong cái sự giả cầy đó! Như kiểu 2 thằng “giang hồ” ôm nhau: anh em mình tình thương mến thương, yêu nhau không hết (nhưng không biết trở mặt đâm nhau lúc nào!?) Hay kiểu lên sân khấu tặng hoa, ôm hôn nghệ sĩ, miệng thì tươi cười, nhưng tay thì kín đáo nhéo một cái thật đau cho nó bỏ ghét! Tất cả những cái nhân danh “yêu thương, mến mộ” mà không có nội dung, không có thực chất, chỉ mang tính bầy đàn, dàn dựng hình ảnh là chính, tất cả đều giả một cách hạ cấp, thảm hại! VN có quá nhiều thứ giả cầy như thế, cơ bản là vì con người ta không tự hiểu, tự xác tín được đâu là thật, nên cứ phải bám víu vào những chiêu bài giả!

Đến sau, thời đại thông tin thì xuất hiện thêm nhiều thành phần “bầu sô, diễn viên”, chỉ bài cho đám đông diễn! Tin tôi đi, những thành phần trống hoác bên trong đó chỉ chờ chực bất kỳ cơ hội nào để tỏ ra ta đây cũng có giá trị nhé, ta cũng hâm mộ, cũng yêu thương nhé! Toàn cứt đái bên trong nhưng “nhân danh” yêu thương, trí thức một cách vô cùng dễ dãi, tùy tiện. Loại có nội dung thực sự thì đã dành thời gian làm việc thay đổi bản thân chứ không ai đi la liếm chuyện thiên hạ! Và những loại thực sự yêu thương tôn trọng thì đều hiểu rằng, mỗi cá nhân đều có những không gian giá trị và cách thức thể hiện khác biệt! Cách thức chung của đám lưu manh hạ cấp là quy đồng tất cả về một mẫu số chung thấp kém như thế, ai khác đi là không được! Khổng tử nói quả không sai: “Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà – 君子和而不同, 小人同而不和“!

rangaku

Sau khi tiến hành chiến tranh thống nhất Nhật Bản thành công, Tokugawa Ieyasu nhận được sự chấp thuận của Nhật hoàng để trở thành Shogun – Tướng quân, người cai quản nước Nhật trên thực tế. Xem những thư từ trao đổi giữa chúa Nguyễn (VN) và Tokugawa Ieyasu (Nhật) sẽ thấy một cái giọng điệu rất buồn cười, ai cũng cố tình lờ đi các vị Hoàng đế trên danh nghĩa (Nhật hoàng và vua Lê), cố tình đề cao địa vị “chúa tể” trong thực tế của mình, nhưng cả 2 con dấu đỏ trong các thư từ thì đều chỉ là “Tổng trấn tướng quân” như nhau cả. Và cũng hệt như ở VN (nhưng là ở một thời đại 200 năm trước đó), sau khi đã thống nhất đất nước, “Thố tử cẩu phanh, Điểu tận cung tàng – 兎死狗烹鸟尽弓藏“, Tokugawa Ieyasu đã tiến hành một chính sách bế quan tỏa cảng khắt khe nhằm làm ổn định xã hội.

Cửa ngõ duy nhất mà Nhật Bản mở ra với nước ngoài trong suốt hơn 200 năm là Dejima, một hòn đảo nhân tạo kích thước bé tí 120m × 75m, là nơi buôn bán với người Hà Lan. Để lại ấn tượng xấu cho các lãnh chúa Nhật Bản chính là các thương nhân + nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, họ không tách rời giữa các động cơ tôn giáo và kinh tế, và có phần nào đó quá cấp tiến trong các hoạt động của mình. Nhưng người Hà Lan thì nhẹ nhàng hơn, họ nhấn mạnh buôn bán và ít đề cao tôn giáo, nên… dễ nhận được sự đồng cảm, chấp nhận từ phía người Nhật Bản. Từ đó hình thành nên phong trào Rangaku – Lan học – 蘭學, một dòng chảy âm thầm trong xã hội Nhật, tuy bế quan tỏa cảng, nhưng khác với Việt Nam, người Nhật vẫn âm thầm học hỏi, tiếp nhận văn minh phương Tây qua ngã Hà Lan.

Sách vở được mua đều đặn, các dụng cụ như đồng hồ, bản đồ, kính thiên văn, kính hiển vi, các dụng cụ y tế, sách y học, giải phẫu học, etc… liên tục được nhập khẩu, từ đó, người Nhật nghiên cứu và tự chế tạo các thiết bị của riêng mình, từng bước tiến đến có những phát minh sáng kiến riêng. Các lĩnh vực mà người Nhật rất tò mò và có nhiều tìm tòi là các loại đồng hồ cơ khí chính xác, tự động hóa, và kính hiển vi dùng để quan sát và vẽ các bản mẫu sinh vật! Suốt gần 200 năm, cũng phải có một quá trình như thế nào đó, chứ không phải đùng một cái, nói Minh Trị duy tân mà duy tân ngay được! Và bên trong cũng phải có cái gì đó, thì mới có thể có công phu tìm hiểu, nghiên cứu được, chứ “tâm” chỉ có ghen ăn tức ở với lưu manh lặt vặt, thì rồi cũng chỉ “ngụy trí thức, ngụy quân tử” mà thôi!

shogun, 2024

Nhớ lại cuối tháng 5 năm đó, 2025, ốm một trận khá to đến gần 2 tuần, người thì vẫn có vẻ khỏe, vẫn đạp xe tập gym nhẹ nhẹ được, ra ngoài người ta nhìn không biết mình ốm, nhưng thực ra bên trong sốt cao mất cả giọng nói. Bệnh nó làm thay đối tâm tính con người, chỉ nằm nhà xem phim… Là cái phim cũ rích Shogun 1980 làm lại, đây là phiên bản 2024. Đương nhiên so với gần 50 năm trước sẽ có nhiều khác biệt, thời đại thông tin, người ta ngày càng biết rõ ràng hơn, kỹ càng hơn về một nền văn hóa, tất tần tật từ những chi tiết nhỏ nhất như 6, 7 lớp áo kimono phải mặc như thế nào, hay cách bài trí một căn nhà phải ra làm sao, etc… Về phương diện này thì phim khá là thành công, đầu tư kỹ lưỡng, phần đông người Nhật có vẻ như không có ý kiến gì về mức độ tái tạo chân thực của phim, đương nhiên cũng chưa biết những người thật sự khó tính nghĩ như thế nào. Phải nói là Nhật Bản và phương Tây có một sự giao lưu văn hóa từ rất sớm!

Và trong chừng mực nào đó có sự thông hiểu nhất định giữa Đông – Tây hai bên, nên phương Tây muốn tái tạo một không gian văn hóa Nhật sẽ tương đối dễ thành công hơn một không gian Trung Quốc hay Nga. Nga và Trung Quốc, đó là những thế giới còn phức tạp và khác biệt đáng kể nữa, khi những kiến thức “giả cầy ta đây biết rồi” là sẽ hoàn toàn không đủ để tái tạo một không gian văn hóa mang tính nguyên bản – authentic có thể thuyết phục được người khác. Hai “đảo quốc” hoàn toàn không lớn lắm, nếu không muốn nói… khá là bé, một ở bờ Tây, một ở bờ Đông, Anh và Nhật, xem như là 2 “đầu tàu” kéo văn minh nhân loại phát triển trong những giai đoạn nào đó, liên tục đi đầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cả hai đều là hai quốc gia “quân chủ” lâu đời! Xem ra thể chế chính trị chẳng hề có tí ảnh hưởng nào, quan trọng vẫn là phẩm chất con người như thế nào mà thôi! 10 tập đầu của phần 1, có lẽ sẽ có phần 2, 3 tiếp theo…

Phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên của James Clavel, còn tiểu thuyết thì dựa trên một sự thật lịch sử: William Adams, được xem là người Anh đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, là hoa tiêu trên một đoàn tàu 5 chiếc của công ty Đông Ấn, Hà Lan, đoàn tàu vòng qua eo biển Magellan vượt Thái Bình Dương nhưng chỉ có một chiếc đi tới đích. Sau khi thuyền bị trôi dạt vào bờ biển Nhật Bản, 1960, William Adams trở thành cố vấn cho Tokugawa Ieyasu, được tin cậy và trở thành samurai – hatamoto, được phong một lãnh địa nhỏ chừng 400 koku. William Adams đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Nhật Bản giai đoạn này, ông ta giúp Tokugawa Ieyasu xây dựng một đội thương thuyền, tiến hành buôn bán với nhiều nước châu Âu và Đông Nam Á, thu mua vũ khí phục vụ cho cuộc chiến thống nhất Nhật Bản, trở thành Shogun của Tokugawa Ieyasu! William Adams lấy vợ, sinh con và sống ở Nhật 20 năm cho đến lúc qua đời, 1620.

So sánh không được chính xác cho lắm, nhưng William Adams ở Nhật cũng có thể xem như Bi Nhu Quận công tại VN vậy, mặc dù Pierre Pigneau de Behaine để lại một dấu ấn, tuy ngắn ngủi, nhưng có thể nói là sâu đậm hơn nhiều. Nguyễn Ánh đã phong cho ông ta một cái tước cao nhất có thể, vì lúc đó chính thức vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng của Lê Hiển Tông (dù nhà vua đã qua đời), và nhà Chúa thực ra chỉ là tước vương mà thôi, nên phong đến Quận công là tột đỉnh rồi, không thể cao hơn được nữa. Ông Bi Nhu – Pigneau này, trong khoảng 15 năm cho đến lúc mất, đã cố vấn cho Nguyễn vương xây dựng đường sá, xây đắp thành lũy, khai mỏ nấu quặng, rèn đúc vũ khí, chia dân cư thành các vùng chuyên canh trồng cây “công nghiệp”, huấn luyện binh lính theo lối Tây phương, làm trung gian mua tàu thuyền, vũ khí, và có lẽ đóng góp quan trọng nhất là tham gia kiến thiết hạm đội thuyền chèo tay – galleys hùng mạnh của nhà Chúa!

Okage Inu

Okage Inu hay là câu chuyện về những con chó hành hương… Đền thờ Thần đạo Ise là một điểm hành hương nổi tiếng từ xa xưa ở Nhật Bản, hàng năm có nhiều triệu người đi bộ hàng trăm cây số để đến thăm ngôi đền này! Quay về thời kỳ Edo hơn 400 năm trước, sau khi chế độ Mạc phủ Tokugawa được thành lập, xã hội Nhật Bản bước vào một giai đoạn thanh bình, ổn định dài lâu, nhưng sự thanh bình này cơ bản được dựa trên những chính sách kiểm soát quân sự và dân sự rất gắt gao. Nhiều người muốn hành hương đến đền Ise, nhưng không phải ai cũng đi được, một số do tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, còn một số thì đơn giản là… không xin được giấy phép đi lại. Những người không đi được sẽ tìm cách… gởi một con chó đi thay! Mang quanh cổ một cái túi chứa thư của chủ nhân gởi đến ngôi đền Ise, kèm theo một số tiền xu trong túi, con chó cứ thế lên đường.

Dọc đường, những người lạ có thể lấy một ít tiền xu trong túi, cho con chó ăn, rồi chỉ đường cho nó đi tiếp! Một số người nhận thấy số tiền còn lại không đủ còn bỏ thêm vào đó. Cứ thế, đã có nhiều chú chó hoàn tất hành trình, đến được đền Ise, trao thư của chủ nhân và nhận một lá bùa từ ngôi đền như là vật chứng minh đã đi đến đích, sau đó tìm đường quay về nhà. Đã có những con chó hoàn tất hơn 1200 km cả đi lẫn về trong những chuyến hành hương thay chủ này! Rất nhiều câu chuyện về những chú chó hành hương, không phải chỉ minh chứng cho sự thông minh, kiên trì của loài chó, mà còn thể hiện sự tử tế của xã hội con người, cần bao nhiêu “thiện ý” nhỏ nhỏ của rất nhiều người để hoàn tất một đoạn hành trình như thế!? Chuyện này giả sử như có xảy ra ở VN thì đơn giản còn chưa đi được 3 dặm đường đầu, thì tiền đã bị trộm, chó đã bị nấu rồi!!!

đa nguyên

Lảm nhảm thêm chút nữa về “Đa nguyên”, về các địa danh của nước Anh: Aston, Clayton, Clinton, Preston, Winston, cái tiếp vĩ ngữ “ton” trong tiếng Anh cổ (Anglo-Saxons) có nghĩa là “làng mạc, nông trại”. Durham, Birmingham, Nottingham, Westham kết thúc với “ham”, trong tiếng Anh cổ nghĩa là “nhà”! Lincolnshire, Yorkshire, Hampshire, Lancashire, Whitby…

Kết thúc bởi “shire/by” có gốc từ tiếng Viking cổ, cũng có nghĩa là nông trại. Leicester, Bicester, Lancaster, etc… tiếp vĩ ngữ “cester” có nguồn gốc từ những người La Mã, nghĩa là pháo đài, và còn nhiều địa danh có nguồn gốc Celtic khác. Vậy có bao nhiều “nguyên” – nguồn gốc ở đây: Celtic, Germanic, Viking, Roman, French, hay thậm chí có thể còn nhiều nữa…!? :D

khách gia thổ lâu

Tiếng Hoa có 5 nhánh ngôn ngữ con: Phổ thông thoại – 普通话, là quốc ngữ hiện nay, Ngô – 吳 là phương ngôn của vùng Thượng Hải, Khách Gia – 客家 là ngôn ngữ của cộng đồng Khách Gia, Việt – 粵 là ngôn ngữ của Quảng Đông, và Mân – 閩 một phương ngữ có “gốc” Phúc Kiến. 5 nhánh ngôn ngữ này tuy không thông hiểu nhau được (mutual intelligible) nhưng đều từ một gốc tiếng Hoa cổ phát triển ra, do các cộng đồng người Hoa di cư đi khắp nơi, những cuộc di cư từ 2000 năm trước hoặc sớm hơn! Ví dụ như Triệu Đà, người Chính Định, Hà Bắc được nhà Tần bổ nhiệm làm huyện lệnh Phiên Ngung, và ông ta đã di cư một số lượng lớn người phía Bắc xuống Quảng Đông.

Ví dụ thứ 2 là người Khách Gia, đã bắt đầu đi cư từ đồng bằng Hoa Hạ xuống phía Nam cách đây ít nhất 1000 năm. Khi đến nơi, họ gặp những người Quảng Đông (đã di cư đến đó từ trước) và cho rằng đó là “Chủ, là người bản địa”, tự nhận mình là “Khách”, nhưng đến khi ngồi lại, tra thư tịch, truy tìm các tài liệu viết (ví dụ như gia phả) thì hóa ra, Quảng Đông, Triều Châu, hay Khách Gia đều là người Trung Nguyên di cư cả! Lịch sử có nhiều những ngộ nhận như vậy, không phải lúc nào cũng tường minh, rõ ràng! Và trên bước đường di cư có sự kết hợp nhất định với những yếu tố “bản địa” ở đó từ trước, như Miêu, Tráng. Tiếng Việt bị ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Hoa trung đại…

Nhất là từ thời Đường, thêm các thành phần tạm gọi là “Bách Việt” (thuật ngữ này theo tôi chỉ là một cách gom nhóm chung chung vô cùng thiếu chính xác), nên đôi khi ta bắt gặp một số điểm tương đồng “đáng ngạc nhiên” giữa tiếng Việt và tiếng Triều Châu, Khách Gia, Quảng Đông. Vì đều phát triển từ, hoặc chịu ảnh hưởng nặng bởi tiếng Hoa, đây là điều chẳng có gì khó hiểu, dù về địa lý hay lịch sử thì người Việt với người Khách Gia, Triều Châu chẳng có mấy liên hệ! Nhưng có một số khá đông những người tự gọi là nhà “ngôn ngữ học” (tôi gọi là lưu manh giả cầy), vin vào một số điểm tương đồng bất chợt, ngẫu nhiên rồi cho rằng… tiếng Việt, Khách Gia, Triều Châu, Quảng Đông là… cùng một họ Bách Việt!

Tiếp nữa là… nói ngược, tìm cách ngụy tạo ra cái gọi là “một Bách Việt thống nhất và hùng mạnh”, bằng cách gom vào nó những nguồn khác một cách… “bá vơ”. Bọn Tây nó có cái chiêu là “đa nguyên”, “đa thành phần”, điều này hiển nhiên có phần đúng khi sự phát triển của văn minh là cấu thành của vô số yếu tố! Nhưng “đa nguyên, đa thành phần” hoàn toàn khác với kiểu muốn vẽ ra bất kỳ sự “hoang đường, tùy ý” nào cũng được! Như cách nói của một số “ngáo gia” Việt thì chỉ có Bách Việt thôi! Không cần nghiên cứu gì, chỉ dựa trên nguồn Tây, Tàu công bố, xào xáo lại, đưa vào đó những mẹo ngôn từ thiểu năng, đảo lộn trật tự thời gian, và vô số “lú luận” càn quấy để ngụy tạo lịch sử!

Cứ như thế, khắp phía Nam sông Trường Giang đều là Bách Việt cả, chúng nó nói một lúc thì… không có cái gì gọi là Hoa Hạ cả, chỉ có Bách Việt và Mông Cổ mà thôi! Hoa Hạ thực chất chỉ là sản phẩm lai tạo giữa Mông Cổ và Bách Việt! Và Bách Việt mới là cái gốc, cái nguồn lớn, sinh ra mọi thứ! Những dạng thông tin như vậy tạo ra không ít nhiễu loạn trong cộng đồng! Cái sự cuồng loạn của một số thành phần đúng là… vô đối, gọi là tâm thần không sai! Trống hơ trống hoác: chữ viết không có, tư tưởng sách vở cũng không, khoa học kỹ thuật vẫn như thời bán khai, văn hóa cộng đồng đến tận giờ vẫn như công xã nguyên thủy, nhưng tâm thì cuồng loạn vô đối, chính là 2 mặt của 1 đồng xu mà thôi!

châu ấn thuyền – red seal ships

Ai đã đọc tiểu thuyết Tướng quân – Shogun – James Clavell thì sẽ tưởng tượng được những bước sơ khai đầu tiên trong việc thành lập đội các Châu Ấn thuyền ở Nhật Bản. Đương thời, ở Nhật lúc đó, ngoại thương là đặc quyền nằm trong tay các Tướng quân, cần phải có một văn bản (giấy phép) có dấu triện đỏ (châu ấn) thì các con thuyền này mới xuất ngoại buôn bán được. Châu Ấn thuyền là những con tàu khoảng 500 ~ 700 tấn, có kết cấu khá đặc biệt khi kết hợp các kỹ thuật Đông lẫn Tây trên con thuyền, có các lá buồm mành (junk) kiểu TQ và buồm vuông (square) kiểu Tây phương.

Tại thời điểm phát triển thịnh vượng nhất, Nhật có hơn 350 thuyền như vậy, buôn bán với Đài Loan, TQ, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Phi, Indo, etc… Cần phải nói rõ là việc buôn bán này là siêu lợi nhuận! Ví dụ như quế (cinnamon) mua được ở VN, đem về tới Nhật sẽ có giá gấp đôi, gỗ đàn hương (sandalwood) đem về từ Nam Á sẽ có giá gấp ba! Đi ra biển với bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm, đem về mức lời 200%, còn thua cả một số streamer VN hiện đại chỉ buôn nước bọt online mà đạt được mức lợi nhuận 2000% (hai ngàn phần trăm), đúng dân trí nó… không thể tự luận ra được!

Rất nhiều nước được lợi từ việc mua bán này, các chúa Trịnh, Nguyễn cần nhất từ Nhật Bản là đao (và vũ khí nói chung)! Cứ phải nói thẳng ra rằng… hàng chúng ta tự làm ra không đạt, không xài được! 350 tàu là một lực lượng khổng lồ, gồm các võ sĩ (samurai) chuyên nghiệp, nên người Nhật đã tìm cách thành lập cả một khu “thuộc địa” ở Thái Lan, trong chừng mực nào đó lấn át cả quyền lực Hoàng gia Thái, chỉ duy trì một đội quân vài trăm người mà tự tung tự tác đến mức người Thái không làm gì được. Và có vẻ như người Nhật cũng đã thử làm điều tương tự ở VN nhưng thất bại!