vtables

Trong post trước có nói về v-table, v-table là gì!? Với lập trình procedural truyền thống, gọi hàm thực chất là một lệnh hợp ngữ (Assembly), chỉ cần một lệnh JMP – Jump là nhảy ngay đến vùng nhớ chứa đoạn mã – hàm cần thực hiện! Nên gọi hàm trong ngôn ngữ C có tốc độ nhanh, nhanh đến mức không tưởng. Nhưng sự việc không đơn giản như vậy với các ngôn ngữ hướng đối tượng, như C++. Lấy ví dụ như: a->some_function(), trong trường hợp đơn giản nhất, ta cần nhảy 2 lần, lần đầu đến vùng nhớ chứa đối tượng (object) ‘a’, sau đó mới tìm trong vùng nhớ đó con trỏ đến hàm ‘some_function’ và nhảy thêm một lần nữa. Nhưng sự việc không đơn giản như vậy vì OOP có tính kế thừa, có nhiều phiên bản khác nhau của cùng một hàm ảo, những phiên bản này được chứa trong một cái bảng gọi là v-table, và việc gọi hàm lúc này bao gồm: 1. nhảy đến vùng nhớ bắt đầu đối tượng ‘a’, 2. tìm xem trong v-table của ‘a’ địa chỉ của hàm cần gọi, 3. nhảy đến vùng nhớ chính xác của hàm đó. Và cái bảng v-table này càng ngày càng lớn nếu kế thừa nhiều cấp, 20 ~ 30 cấp cũng là việc đã từng thấy! Sự việc bắt đầu trở nên phức tạp hơn nữa với những ngôn ngữ hỗ trợ đa kế thừa, đối tượng ‘a’ có thể kế thừa từ 1, 2 hay nhiều lớp khác nhau!

Lúc đó, compiler sẽ phải tạo ra nhiều v-table, và việc gọi hàm là một công cuộc tìm kiếm, tra bảng dài lê thê, thay vì chỉ một lệnh hợp ngữ JMP đơn giản! Thời gian tiêu tốn cho việc gọi hàm có thể dao động đâu đó trong khoảng 5 ~ 50% toàn bộ thời gian chạy chương trình. Đến tận ngày hôm nay, mấy chục năm sau khi các ngôn ngữ hướng đối tượng ra đời, bản chất của việc gọi hàm vẫn không đổi, và vẫn chưa có cải tiến nào mang tính cách mạng xảy ra! OOP đúng là một mô hình rõ ràng, dễ hiểu đối với lập trình viên, nhưng cực kỳ đau khổ cho những người làm compiler! OOP sinh ra, đầu tiên và trên hết là cho lập trình UI, mỗi cửa sổ, mỗi nút bấm trên UI là một đối tượng – object, nguyên thủy là vậy, về sau người ta mới mở rộng OOP từ UI sang những lĩnh vực khác! Nên những người làm ứng dụng lớn, cần lớp lang, cấu trúc rõ ràng, những người đó sẽ cảm thấy khó hiểu khi những coder ở mức thấp bên dưới chỉ thích procedural! OOP đúng là rõ ràng và tiện lợi, nhưng không phải là cách tiếp cận duy nhất đối với các vấn đề lập trình, mọi việc có thể sẽ thay đổi! Và nhiều coder không hiểu vì sao một số người cố sống cố chết bám vào một số phong cách xưa cũ, vì… bản năng mách bảo rằng làm như thế mới là đúng!

rust

Những cái thuộc về ngôn ngữ, 10 năm là ít, 30 năm chưa phải là nhiều, thời gian để cho một ngôn ngữ trưởng thành, trở nên chính chắn, cẩn trọng từng câu, từng lời, bảo đảm mọi điều nói ra phải có nghĩa chính xác. Nhiều người bảo, chỉ là một tập cú pháp – syntax thôi mà, nói sao không được!? Không phải vậy, đã từng có vô số cú pháp “nhảm” bị đào thải sau vài năm, đơn cử như là C#, C# đã từng có vô số cú pháp nhảm, nhảm đến mức thiểu năng, ngu xuẩn! Và cũng đã có một số cú pháp kiểu “chữa lành – chảnh lừa” như async – await vẫn tiếp tục lừa người thêm độ chục năm, cho đến khi người ta nhận ra chẳng có lợi ích gì ngoài những câu chữ oang oang, trơn tuột! Và cũng đã có những ngôn ngữ đã dùng trên hai mươi năm nhưng rồi cuối cùng thì người ta quyết định: thôi, tốt hơn là… bỏ, không đi tiếp nữa, ví dụ như Obj-C, Flash, thậm chí có thể cả Java! Nhưng chừng đó năm cũng đủ cho người ta mường tượng ra được một ngôn ngữ “tốt” tương lai nó sẽ trông như thế nào!

Đầu tiên là nó phải giống ngôn ngữ C, điều này… đơn giản như chân lý vậy, cứ phải giống C thì mới tốt! Thứ hai, ngôn ngữ phải strong-type, có kiểu rõ ràng và kiểm tra kiểu khi biên dịch, không đợi đến khi chạy. Thứ ba, dù gọi tên gì: reference, optional, thì cũng phải làm cho người ta hiểu rằng đây là con trỏ – pointer, ở điểm này thì C thẳng thắn đến mức trần trụi! Thứ tư là quản lý bộ nhớ bằng reference counting và lần nữa, phải làm từ lúc biên dịch (compile time), đừng đợi đến đến lúc run-time, quên garbage collector và những thứ khác đi! Thứ năm là làm sao để lập trình concurrent, thread, process dễ hiểu hơn! Và cuối cùng, rất quan trọng, dù thời đại đã đi tới mức zettabyte, nhưng một ngôn ngữ vẫn phải thật sự hiệu quả, hiểu theo nghĩa phải đếm từng bits khi cần. Xét những tiêu chí đó thì có lẽ Rust sẽ là ngôn ngữ phổ thông kế tiếp, dần thay thế C++! Đã nói rồi, phải cải tiến trước mới dùng, đừng dùng xong mới cải tiến, gọi là ++C có phải đã tốt rồi không!? :D

Đương nhiên, đây là ngôn ngữ phổ thông (general purpose) ở mức thấp (low level), những lĩnh vực đặc thù vẫn sẽ có những ngôn ngữ riêng! Nhưng với một ngôn ngữ phổ thông cấp thấp, ưu tiên hàng đầu là performance, những thứ khác vẫn chỉ là phụ. Rust thậm chí còn chưa phải là một ngôn ngữ OOP – hướng đối tượng đúng nghĩa, theo nghĩa thường hiểu trong C++ hay Java. Nói cho đúng hơn là mô hình OOP của Rust được thiết kế ưu tiên cho performance, chứ không phải cho sự tiện lợi của người viết code! Thậm chí ta còn có thể đặt câu hỏi rằng, có thực sự cần OOP hay không, ví dụ như glibc chỉ dùng “struct” của C để biểu diễn “class” đó thôi! Nhưng qua đó cho thấy rằng, đã rất nhiều thế hệ khác nhau của C++ rồi, mà vẫn không giải quyết được bài toán vtable – gọi hàm hướng đối tượng làm sao cho hiệu quả. Nên Rust đành phải đổi một cách tiếp cận khác, mang tính chất lai lai, một nửa là OOP và nửa còn lại vẫn là functional theo kiểu ngôn ngữ C truyền thống!

Quá trình hình thành một ngôn ngữ thực chất phản ánh muôn mặt của cái cộng đồng làm ra và sử dụng nó. Đầu tiên là từ góc độ tương đối hàn lâm, ngôn ngữ phải thể hiện được tính đúng đắn và hiệu quả tính toán! Cái yếu tố “hiệu quả – performance” này là yếu tố quyết định, đôi khi nó phủ quyết (veto) tất cả những yếu tố khác. Tiếp nữa mới đến chuyện cú pháp rõ ràng, tiện lợi, thân thiện với lập trình viên. Kế đến nữa mới là chuyện tổ chức, lớp lang, các hệ thống thư viện phụ trợ để dễ dàng phát triển phần mềm! Phần lớn lập trình viên chỉ tranh luận phía trên bề mặt, cú pháp như thế này, lớp lang như thế kia, họ không hiểu rằng yếu tố tiên quyết của một ngôn ngữ là vấn đề hiệu suất (performance). Những ngôn ngữ bỏ lơ vấn đề này… đều có kết cục thê thảm!!! Ví dụ như Objective-C, người ta bỏ vì nó đã trở thành một con quái vật, phức tạp đến mức vô lý, hay như một số code React – TypeScript, mới viết có cái app Hello – World là đã chiếm mất hơn 3GB đĩa cứng.

nhiệt

Đến lúc này có thể khẳng định chắc chắn máy có thể chạy heavy – duty rất tốt, đã chạy 24 tiếng liên tục, lúc nào cũng 100% công suất, chương trình xử lý dữ liệu tạo ra 72 processes, dùng đến hơn 40GB RAM, mà nhiệt độ 2 con CPU ổn định ở mức 60~62°C, nhiệt độ dầu ổn định ở mức 41~42°C, còn nhiệt độ GPU và SSD còn thấp hơn nữa, chỉ loanh quanh 37~38°C! Tuy vậy nhìn lại, vẫn có chút tiếc nuối, vẫn có chút không hoàn hảo, vì vẫn có thể làm tốt hơn, vẫn có những giải pháp tản nhiệt tốt hơn nữa! Haiza, nhiệt, nhiệt độ, chính là vấn nạn của cả loài người!

Cứ mỗi năm mỗi nóng hơn thế này, năm nào cũng thiết lập kỷ lục mới! Cái quá trình không đảo ngược được, con người và xã hội đã bị đẩy vô guồng, bị gài vô một cái thế cứ phải hơn, hơn nữa! Ai cũng muốn có những cái máy chạy nhanh hơn nữa, kết quả là cái quả cầu màu xanh xanh kia nó sẽ cứ nóng đỏ dần lên thôi. Đây là chuyện mà không bất kỳ một loại khoa học, kỹ thuật nào, không bất kỳ một hệ tư tưởng nào có thể giải quyết được, càng không nói đến cái đám cứ xoen xoét green & clean kia! Có lẽ phải nghĩ đến chuyện đào hầm tránh nóng là vừa!

nông trại

Tốt nghiệp xong, về làm việc tại trung tâm máy tính, ĐH Khoa học tự nhiên, rồi trung tâm máy tính ĐH Quốc gia tp. HCM. Cái trung tâm mới xây, đúng là thiên đường cho những ai đam mê, chuỗi (cluster) 64 máy con hàng xịn, cộng với những con server hàng khủng, và nhiều loại thiết bị mà tôi còn chưa nhìn thấy bao giờ, tất cả được đặt trong phòng riêng, cùng với nhiều cục lưu điện – UPS to hơn cái tủ lạnh 200 lít. Nếu cúp điện thì những cục UPS này vẫn đủ khả năng giữ cho toàn hệ thống chạy suốt hơn nửa ngày, và khi lượng điện trong UPS xuống dưới một mức nào đó, thì do đã được lập trình sẵn, hệ thống sẽ tự khởi động cái máy phát điện đặt ở phòng kế bên, cấp điện cho toàn hệ thống, tất cả chạy hoàn toàn tự động!

Và đồng thời, hệ thống sẽ gởi tin nhắn về tình trạng hiện tại của các máy móc đến quản trị viên, thường là đang đi uống cafe ở đâu đó để còn biết chạy về xử lý nếu cần! Vâng, giai đoạn khá là ngu ngơ, nhiệt huyết và lý tưởng, từ chối những “lời mời gọi tình yêu” của một số “devushki – em gái”, về đó nghiên cứu grid – computing, mà bây giờ người ta hay gọi bằng cái tên computing – farm – nông trại tính toán! Vâng, đi vòng quanh, vòng quanh cái nông trang tập thể, năng lực tính toán thì có thừa, chỉ thiếu… bài toán cho nó giải quyết mà thôi! Hơn 25 năm sau, chuyện “nông trang tính toán” bây giờ thật quá dễ dàng, và cũng không thiếu bài toán cho nó giải quyết… Ekh, yedem my, yedem, Yedem, a krugom kolkhozy…

turbo button

Đã nói về nút Reset, nay nói về nút Turbo, chắc không mấy người còn nhớ, một thời phổ biến trên các dòng x86 nhưng dần biến mất kể từ Pentium 1, 2 trở đi! Cái nút Turbo này thực chất nó làm gì? Chính là overclock – ép xung để cho CPU chạy nhanh hơn! Đang có ý định làm lại cái nút Turbo này cho con Aquarium-PC! Chỉ cần nhấn nút một cái là CPU chuyển từ xung nhịp cơ sở 2.3 GHz lên xung nhịp tối đa 3.6 GHz ngay!

Trên một số dòng mainboard, CPU, thực hiện “Turbo” rất dễ, ép xung / hạ xung và tăng thế, hạ thế (undervolt) đối với các chip hoàn toàn làm được từ phần mềm một cách dễ dàng, có hiệu quả ngay lập tức, mà không cần bất kỳ can thiệp gì đến phần cứng! Tuy nhiên, và cũng có khi, cách tốt nhất để tăng tốc, gia tốc, turbo một cái máy tính, đó chính là… loại gia tốc có giá trị 9.8 mét trên giây bình phương ấy!

đệ quy

Ví dụ về đệ quy, như thế nào là đệ quy – recursive!? Đầu tiên từ Terminal, gõ lệnh VIM để sửa file. Từ trong VIM, gõ lệnh term để mở một cái Terminal mới bên trong VIM, cái này thường cần cho lập trình viên để vừa sửa code một bên, vừa chạy kiểm tra bên kia xem code có đúng hay không, mà không cần phải thoát ra ngoài!

Nhưng vì ta cắc cớ, nên bên trong cái Terminal chạy trong VIM chạy bên trong Terminal này, gõ thêm một lệnh VIM nữa, kết quả là VIM nằm trong Terminal, nằm trong VIM, nằm trong Terminal, nằm trong VIM, nằm trong Terminal, nằm trong VIM, nằm trong Terminal… và trên nguyên tắc có thể kéo dài… vô hạn cấp!

performance

Để làm con Aquarium-PC, tôi mua cái mainboard Huananzhi X99, đây được xem là loại mainboard chạy 2 CPU… rẻ nhất trên thị trường, một sản phẩm đáng ngạc nhiên của các “pháp sư” Trung Hoa, còn CPU là 2 con Xeon Haswell E5-V3, cũng là loại cũ, và khá rẻ. Đơn giản vì đây là lần đầu mạo hiểm, mua rẻ rẻ thôi, lỡ có thất bại, cháy nổ hay hỏng hóc ở đâu đó thì cũng không quá xót tiền! Hệ thống ráp xong chấm được 23K điểm Passmark, một điểm số không hề tệ, ngang ngửa với con MacMini đời 2022! Thế nhưng đến khi chạy thực tế, các bài toán thực, thì Aquarium-PC luôn thua MacMini một chút trong mọi vấn đề, mặc dù thua không nhiều! Đúng là bách nhục, một bên là hệ thống lớn, 2 CPU to cồng kềnh, lại dùng tản nhiệt dầu, còn bên kia người ta bé có chút xíu! Nhưng nghĩ kỹ thì cũng thấy hợp lý, Xeon Haswell là công nghệ của gần mười năm trước, không thể nào so sánh công bằng được!

Nhưng cũng như tôi dự đoán, có một số lớp bài toán mà Aquarium-PC hơn MacMini, nhìn vào 2 cái ảnh dưới đây bạn sẽ hiểu vì sao! Chạy chương trình phân tích dữ liệu tự viết bằng Python, nó tạo ra đến hơn một chục process và dùng hơn 30GB bộ nhớ SWAP. RAM là điểm yếu của MacMini, chương trình chạy đến một lúc lượng SWAP quá lớn, máy nó lì ra không chịu chạy nữa, thậm chí… tự khởi động lại do quá nhiệt! Nhưng con Aquarium-PC thì chạy được, tuy năng lực xử lý thua chút xíu, nhưng có đến 64GB RAM, và chạy vô cùng mát! Không chỉ về RAM, Aquarium-PC còn hơn về thời gian xử lý với những lập trình nhiều processes! Ngày xưa để xử lý dữ liệu lớn/phức tạp, người ta chia thành nhiều bước, lưu kết quả trung gian ra file/database và quay lại xử lý nhiều lần! Ngày nay, với một số lớp bài toán, cứ tận dụng tài nguyên, bỏ hết lên RAM chạy một lần, code vừa nhanh, vừa đơn giản!

aquarium pc, phần 9

Lắp cái mạch điều khiển tốc độ quạt quay vào phía sau (rất tiếc không để lên bảng điều khiển phía trước được vì nó hơi to). Chạy đầy tải – stress-test 6 tiếng, nhiệt độ dầu ổn định ở mức 40°C, nhiệt độ CPU loanh quanh 60°C toàn thời gian, mà quạt chỉ mới chạy 50% công suất, tiếng ồn tương đương với cây quạt đứng trong phòng, kết quả này là đã tốt hơn dùng tản nhiệt nước nhiều! Nếu không chạy đầy tải mà chỉ dùng máy tính bình thường, nghe nhạc, xem phim, mở vài chục trang web cùng lúc, thì chỉnh quạt về cỡ 25% công suất, tiếng ồn lúc này rất nhỏ, thậm chí nếu chỉ xài máy tính trong vài tiếng thì không cần phải bật cả quạt, vì dầu có nhiệt dung khá lớn, vẫn có thể chịu được! Quạt có công suất khá lớn đến 120W, nên nếu chỉnh tốc độ cao hơn thì hệ thống sẽ còn mát hơn nữa, nhưng việc này không cần thiết, vì thứ nhất là ồn, thứ nhì là nhiệt độ CPU đã dưới 60°C, không cần phải giảm thêm!

Hệ thống hoàn toàn có thể chạy heavy – duty liên tục thời gian dài, nhưng phải chấp nhận có chút tiếng ồn! Còn với nhu cầu sử dụng bình thường hàng ngày thì khá im lặng! Ngồi chỉnh sửa cái video này bằng phần mềm Blender trên Debian, dùng ngay con Aquarium-PC này, vì chưa rành Blender nên chỉ sửa video ở mức đơn giản. Render video 1080 mà nhiệt độ CPU vẫn chưa qua mức 52°C, đương nhiên đây chỉ là một đoạn video ngắn! Đến đây thì xem như hoàn thành, cái “bể cá” cố định một bên trên bàn làm việc, sẵn sàng cho những công việc hàng ngày, cũng như các nhiệm vụ heavy – duty, các tác vụ cần “hiệu năng tính toán cao” khác! Tản nhiệt dầu nói cho đúng có rất nhiều điểm bất lợi: hệ thống cồng kềnh, nặng nề, khó sửa chữa nâng cấp, dầu mà rò rỉ ra ngoài là rất phiền, nhưng cũng có những ưu điểm nhất định, có thể giử nhiệt toàn hệ thống ở mức thấp sẽ khiến máy “thọ” hơn!

Nó tản nhiệt cho toàn hệ thống, cả nguồn, mainboard, RAM, SDD, GPU, tất tần tật… (chứ không phải riêng mỗi con CPU). Có nhiều điều nhận ra trong quá trình thực hiện cái Aquarium-PC – máy tính – bể cá này! Nó kiểu giống như cái… “bánh mì gà”, khi nhỏ, thèm ăn bánh mì gà lắm, ngon vô cùng, nhưng khi lớn rồi tìm lại thì thấy… nó không ngon như ngày xưa nữa! Khi xưa thích cái khái niệm “máy tính – bể cá” này lắm, nhưng đến khi làm được rồi thì lại thấy nó bình thường, chẳng có gì quá hấp dẫn nữa! Nhưng nói vậy không có nghĩa là toàn bộ quá trình làm đều vô nghĩa. Ít ra nó cũng tạo ra một vật xài được, và cũng học được nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình làm! Nếu phải làm lại cái Aquarium-PC này, tôi sẽ có những phương cách khác, sẽ áp dụng những giải pháp khác, hiệu quả và gọn gàng hơn, hoặc tiến tới làm tản nhiệt 2-pha đúng nghĩa, thay vì chỉ tản nhiệt đơn giản 1-pha cổ điển!

aquarium pc, phần 8

Để cho nó chạy chục ngày, lúc này dầu bắt đầu loang màu và mờ đục, không còn trong như trước, dù muốn dù không, các thành phần, vật liệu cấu thành nên cái “hồ cá” đều có sự “ô nhiễm” nhất định. Phát hiện quan trọng nhất là loại keo nến (silicone) dùng để gắn kết, cố định các chi tiết bắt đầu… tan ra trong dầu khoáng, điều phi lý hết sức, vì dầu khoáng là chất tương đối “trơ – inert” ở nhiệt độ thông thường! Nhưng đó là sự phi lý bạn phải chịu khi làm một cái gì đó ở VN, các loại vật liệu, hóa chất đều bị “độn”, bị “pha”, trở nên không đúng với thuộc tính ban đầu! Vì silicone tan ra nên làm cho dầu khá đục, phải tháo dầu ra! Suy nghĩ ban đầu là có thể lọc dầu cho nó trong trở lại, nhưng nghĩ kỹ thì thấy không đúng, các phần tử màu đa số đều có kích thước tới nanomet, các loại lưới lọc micromet không thể làm gì được! Thế là đành phải… thay dầu, hy vọng là chỉ phải thay một lần này mà thôi!

Cũng nhân lúc xả dầu ra này mà chỉnh trang lại hệ thống chút đỉnh, thay cái máy bơm mới công suất nhỏ hơn chỉ 25W (ban đầu mua bơm đến 50W, tính hơi dư), cái bơm mới là hiệu Channing! Chúng ta gọi đó là “hàng Trung Quốc”, nhưng chuyện nó không giống như trước đây đâu, hàng TQ cũng có vô số chủng loại, phân khúc, bơm hiệu Channing được xem như là cấp chất lượng cao nhất trong làng “thủy sinh, cá cảnh” rồi, cao hơn cả bơm chuyên dùng cho máy tính! Chỉnh tốc độ ở mức vừa phải, bơm chạy không hề gây ra bất kỳ một tiếng động nào! Trục máy bơm làm bằng gốm sứ, không bị ăn mòn như thép, cộng với việc đặt chìm trong dầu xem như chất bôi trơn, nên có chạy liên tục nhiều năm cũng không sao! Chỉnh trang lại ngoại thất / nội thất cái “bể cá” lại một tí, không dám xài keo nến nữa, phải xài epoxy! Đem cái khung gỗ chà nhám, ra đi thêm một lớp epoxy nữa cho nó đều màu!

Thay cái bảng điều khiển mới, bỏ các công tắc điện “đểu”, đi dây lại cho gọn gàng hơn! Nhìn nó chạy cỡ một chục ngày qua mà suy nghĩ mãi về vấn đề tản nhiệt! Tản nhiệt không dùng quạt rất khó, vẫn có thể làm được nhưng khi đó cái tháp tản nhiệt nó sẽ to bằng hay hơn cái máy tính, còn dùng quạt thì lại quá dễ dàng! Cái máy tính nguyên gốc rất ồn vì nó có đến 8 cái quạt, mỗi cái có công suất, tốc độ, và chất lượng khác nhau, 8 cái quạt chạy cùng lúc tạo thành bản “hợp xướng âm thanh” vô cùng khó chịu, nếu giảm xuống chỉ còn một cái quạt, nhưng chất lượng tốt thì tiếng ồn tuy vẫn còn nhưng sẽ giảm đáng kể! Thế là đặt mua cái quạt 36 x 36cm, và mạch điều chỉnh công suất thay đổi tốc độ quạt quay, lắp vào phía sau tản nhiệt như trong hình! Lắp ráp tất cả vào, và lại stress-test – thử đầy tải, kết quả mỹ mãn, có thể chạy các tác vụ heavy-duty liên tục nhiều ngày, sẽ nói rõ hơn ở phần sau!

aquarium pc, phần 7

Từ console Linux, gõ một lệnh là chương trình stress-test – thử đầy tải bắt đầu chạy, các con CPU đều sử dụng hết 100% công suất, chạy liên tục 6 tiếng. Kết quả là nhiệt độ CPU bị đẩy lên đến 70~75°C, và nhiệt độ dầu lên đến ~55°C! Trong các hình, nếu tinh mắt sẽ nhận ra một cái nhiệt kế điện tử dùng để đo nhiệt độ của môi trường dầu, và nhiệt độ dầu luôn thấp hơn nhiệt độ CPU khoảng 15~20°! Trở lại với stress-test, kết quả này là tệ hơn so với việc dùng tản nhiệt nước, khi dùng tản nhiệt nước, nhiệt độ CPU luôn dưới 65°C trong các bài kiểm tra đầy tải, nhưng thực ra, điều này đã nằm trong dự tính từ trước khi bắt đầu bắt tay vào làm con Aquarium-PC này! Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ, đầu tiên là dầu khoáng tải nhiệt của toàn hệ thống: CPU, GPU, SSD, RAM, main, và cả cục nguồn (đây vốn là nguồn sinh nhiệt nhiều nhất), còn tản nhiệt nước chỉ dùng cho mỗi con CPU mà thôi!

Điều đáng nói là nhiệt độ của toàn hệ thống vẫn luôn được giữ ở mức thấp: RAM, SSD, GPU… luôn dưới 55°C! Còn nhiệt CPU tuy khá cao, nhưng vẫn chưa chạm mức nguy hiểm (85+°C). Yếu tố thứ hai là do tản nhiệt không dùng đến quạt gió, và tôi nhất quyết không dùng quạt để không gây ra tiếng ồn, để hệ thống chạy hầu như hoàn toàn im lặng! Và điều thứ ba nữa là thiết kế của tản nhiệt là tối ưu cho các quạt gió (forced air cooling) chứ không tối ưu cho tản nhiệt tự nhiên, và thứ tư nữa là có thể kích thước cục tản nhiệt chưa đủ lớn! Điểm đáng lưu ý là dầu khoáng có nhiệt dung riêng (specific heat capacity) khá lớn, lớn hơn nước rất nhiều (đó cũng là lý do tại sao bỏng dầu luôn nghiêm trọng hơn bỏng nước sôi, vì dầu có khả năng mang nhiệt lượng lớn hơn nhiều), cái nhiệt dung riêng này làm trễ các kết quả đo, cần phải thực sự stress-test nhiều giờ mới đọc được các con số có ý nghĩa!

Kết luận: hệ thống hoạt động như mong đợi, tải nhiệt tốt với các ngữ cảnh sử dụng thông thường, hoặc tải nặng trong vài giờ, nhưng chưa tản nhiệt tốt đến mức có thể dùng cho các tác vụ heavy – duty, chạy 100% công suất liên tục 24/24, ví dụ như dùng để đào “coin”, mặc dù dùng máy không phải cho mục đích đào tiền ảo, mà dùng để phân tích và xử lý số liệu, lên đến hàng trăm GB! Thường là như thế, khởi đầu một công việc gì đó thì chưa đâu, nhưng có khi, ngay khi vừa kết thúc nó xong, là tự ngộ ra được chỗ ngu rồi! Từ đây, có 3 khả năng phát triển tiếp: #1: không làm gì cả, hệ thống đã đủ tốt cho các công việc phổ biến thông thường! #2: Tìm một cái tản nhiệt có kích thước & thiết kế tốt hơn cho việc tản nhiệt tự nhiên, và #3: lắp các quạt gió phía sau tản nhiệt, và lập trình điều khiển quạt gió quay với tốc độ tỷ lệ với nhiệt độ cảm biến (chỉ xài đến quạt khi chạy tải nặng thời gian dài)!