sơn tinh, thủy tinh

Cái câu trong truyện cổ tích Sơn Tinh và Thủy Tinh: “nước dâng cao bao nhiêu thì đồi núi cũng dâng lên cao bấy nhiêu” là hoàn toàn sai, thậm chí chính là nói ngược, vô hình chung đã đảo lộn quan hệ nhân – quả. Trong thời hiện đại ngày nay, cần phải hiểu cho đúng là: “nhà cửa, bê-tông xây đến đâu thì nước cũng sẽ dâng theo đến đó”! Cần phải phá vỡ quan niệm sai lầm cho rằng chỉ cần “be bờ đắp đập” là đủ chống lại lũ lụt, quan trọng là phải tạo ra đủ các khoảng “âm” để chứa nước! Bên cạnh nhiều yếu tố như địa hình, thời tiết cực đoan, etc… một yếu tố cũng đóng góp phần rất lớn, đó chính là người con của Thủy Tinh tên là… Thủy Điện!

Nhiều người trách Thủy điện xả nước không thông báo trước, điều này là chính xác, báo trước tuy không giảm được lũ nhưng ít nhất người dân có thời gian để chuẩn bị! Còn về tính năng trữ nước để điều độ dòng chảy thì phần lớn các thủy điện xây theo kiểu “ăn xổi ở thì” sau này hoàn toàn không có dung lượng dự trữ để cắt lũ, nhất là khi thời tiết ngày càng cực đoan, phải truy cứu trách nhiệm nhà đầu tư thế nào?! Ngay cả thủy điện Đa Nhim do người Nhật hoàn thành năm 1964 cũng đã… thúc thủ trước thời tiết, có phải vì đã cải tạo nâng công suất từ 160 MW lên 240 MW vào năm 2015!? Bỏ cái công suất tăng thêm này có cắt được lũ hay không?

Cấp đủ điện thì không cắt được lũ, giảm công suất phát điện rồi lũ sẽ giảm bao nhiêu, đã có gì đó rất sai trong cái lưỡng đề này! Trừ đi các yếu tố do thời tiết cực đoan thì trách nhiệm nhà đầu tư là đến đâu trong việc cắt lũ, vì tích nước giảm lũ là một tính năng cơ bản đã được tính trước khi xây nhà máy thủy điện! Chỉ khi nào truy cứu được trách nhiệm thì mới loại trừ được tình trạng “ai cũng đúng” nhưng rút cuộc “không có cái gì đúng”! Để tính toán những điều đó: tính lượng mưa, lượng nước, tính phần dự trữ, phân chia phần trách nhiệm… phải ra được con số cụ thể để truy thu, truy cứu… là tự nhiên sẽ dùng đến nhiều Toán vi tích phân thôi!

Nhưng… vì không biết cách làm Toán nên đùn đẩy hết trách nhiệm cho “Chủ tịch tỉnh” trong việc cắt lũ. Tích nước, phát điện, giảm lũ, đây đều là công việc chuyên môn của nhà máy phát điện, đúng ra là đã phải được tính trước từ lúc thiết kế nhà máy, tại sao lại phải do Chủ tịch tỉnh quyết? Đùn đẩy trách nhiệm lên trên vì bên dưới không làm được việc, mà đây đều là những việc cơ bản hoàn toàn nằm trong chức trách đã được hoạch định từ trước. Nhưng trách nhiệm đẩy lên trên, rồi trên cũng mù mờ tương tự, không có số liệu, không có thông tin, không biết đường nào mà quyết. Cứ như thế, đẩy qua đẩy về, chẳng ai chịu làm việc cả!

Hạ Vũ

Vài năm trước, trên Wikipedia tiếng Việt có một “cuộc chiến sửa đổi” dữ dội, các bên tranh nhau sửa nội dung theo ý mình: mục Hạ Vũ, vị “hoàng đế” đầu tiên của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Giai đoạn này, dân tộc Hoa Hạ có dân số ước tính khoảng 2.5 ~ 4 triệu người, sống quanh đồng bằng sông Vị, sông Hoài, Hoàng hà! Chưa hình thành chế độ phong kiến tập trung mà mới chỉ là nhiều thị tộc tìm cách liên minh lại với nhau để hợp sức… trị thủy! Vì dân cư sống định cư với hình thức canh tác nông nghiệp, mà lũ lụt hàng năm tàn phá mùa màng! Lúc này tên nhân vật lịch sử chỉ đơn giản gồm 1 hoặc 2 chữ: Vũ, Cổn .v.v… vì xã hội còn chưa có họ.

Cổn theo lệnh của Nghiêu làm công tác trị thủy suốt 9 năm, be bờ đắp đập, xây dựng các tuyến đê lớn, nhưng cuối cùng thất bại, không khống chế được dòng nước lũ. Vì lý do đó, Nghiêu giết Cổn, và sai con của Cổn là Vũ tiếp tục sự nghiệp trị thủy. Vũ làm việc liên tục suốt 13 năm, đào nhiều kênh giúp phân tán, giảm bớt sức mạnh của dòng nước lũ, nhờ đó mà trị thủy thành công. Ở một thời đại còn chưa có chữ viết, nhưng người TQ đã tổ chức làm những công trình vĩ đại, với tinh thần trách nhiệm lớn lao, làm không được việc là sẽ có vài án tử rơi xuống, phải có ai đó chịu trách nhiệm, không có chuyện “trách nhiệm suông” được!

Theo Sử ký, Thuấn đã “thiện nhượng” – truyền ngôi cho người trị thủy thành công là Vũ. Nhưng ngày nay, qua những nguồn tư liệu khác, chúng ta biết Vũ đã ép Thuấn phải nhượng vị, đơn giản là người chỉ huy đại công trình trị thủy tức là nắm trong tay quyền huy động nhân lực / vật chất lớn nhất quốc gia. Bài học rút ra là: đắp đê tuy vẫn cần thiết ở một vài khu vực xung yếu, nhưng căn bản không giải quyết được vấn đề. Để trị thủy thành công, cần tạo ra nhiều chỗ trống để chứa nước, cần có các kênh rạch giúp dòng nước mau chóng phân tán, thoát ra biển. Đó là cách đây khoảng 4300 năm, người ta đã làm được những việc như vậy!

4300 năm sau, ở cái xứ Vịt kia, rất nhiều người vẫn chưa thể hiểu / nói cho cho đúng đắn! Chuyện rất đơn giản trên nguyên lý: cái chén dùng được là nhớ có chỗ trống bên trong để chứa nước, cái cửa dùng được là nhờ có chỗ trống bên trong cho người đi qua, cái thuyền dùng được là vì bên trong nó trống rỗng nên mới nổi trên mặt nước. Muôn vật dùng được là nhờ đến… “tính không”! Một xã hội toàn những “cái tôi” quá lớn, vừa to lớn vật vã, vừa méo mó đến mức biến dạng, ai cũng cố lấn ra một chút, ai cũng cố dành thêm một chút về phần mình, rút cuộc chiếm dụng hết sự “không”, thế rồi tự mình hại mình, tự biến thành nơi không ai sống được!

vi tích phân, p2

SGK VN có một cái bệnh là chỉ toàn công thức, gần như không có một lời giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ tự nhiên” nào. Đưa ra một mớ công thức, định lý, hệ quả theo kiểu … kiến thức chết mà không đưa ra được ví dụ để làm rõ chúng rút cuộc có ý nghĩa gì? Thế rồi, thảy ra một đống bài tập, đẩy học sinh vào trò chơi “ký hiệu, biểu tượng” hoàn toàn chỉ mang tính chất đánh đố, vô hồn, vô nghĩa. Có lần tôi đọc một cuốn Giải tích tiếng Anh rất hay, hơn 500 trang khổ lớn (lớn hơn khổ A4). Mỗi khi đưa ra một công thức, định nghĩa, họ đều đưa ra vô số ví dụ minh họa!

Họ tìm cách giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ phổ thông của cuộc sống hàng ngày”: ví dụ, dẫn chứng từ thế giới thực, các câu chuyện lịch sử, thông tin “bên lề”, hình ảnh, biểu đồ, nhiều đến mức HS không thể đọc hết. Nếu chỉ để hiểu những điểm cốt yếu, hay để đi thi, thì chỉ cần đọc một số trang nhất định! Phần thông tin thêm, lớn hơn nhiều lần, là dành cho những cho những ai thực sự muốn hiểu sâu! Phần này, e là đến chính người viết SGK VN, chứ chưa nói giáo viên, còn chưa hiểu tường tận! Hệ quả là: đi thi thì được, nhưng làm thật lại… không được!

Cách trình bày thuần túy Toán học, toàn công thức… chỉ dùng được với những người đã có kinh nghiệm làm Toán lâu năm, không phù hợp với HS cấp phổ thông (thậm chí là cả cấp ĐH). Một công thức Toán có thể rất ngắn gọn, nhưng ý nghĩa và tính áp dụng thực tế của nó thì… thiên hình vạn trạng. Cách dạy Toán theo kiểu thuần túy công thức là chỉ phù hợp để… đi thi mà thôi! Muốn kiến thức đó trở nên hữu ích trong cuộc sống, đi vào thực tiễn nghiên cứu, sản xuất… thì đầu tiên phải nhìn cuộc sống thực theo cách đa chiều, muôn màu muôn vẻ đã!

Cũng như học võ vậy, cơ bản gồm 2 phần: “Hình – 形 – kata – các bài quyền” và “Phân giải – 分解 – Bunkai – ứng dụng thực tế”. Hình là một tập hợp các động tác có tính trừu tượng cao, có quá trình phát triển rất lâu đời nên uyên áo, khó hiểu, còn Phân giải là muôn ngàn cách biến hóa, triển khai, ứng dụng Hình vào trong thực tế chiến đấu! Mà Võ học (cũng như Toán) không phải chỉ bao gồm có Hình & Phân giải! Trừ khi bạn đi theo ngành Toán lý thuyết thuần túy, còn đa số chúng ta, nếu chỉ học các bài quyền thì vẫn mới chỉ là làm màu, chưa phải là học võ thực sự!

Nên không phải là Toán cao cấp không có ích, không cần thiết trong cuộc sống, nghiên cứu, sản xuất, etc… Vấn đề là bản thân người làm SGK, người và học Toán vẫn còn đang ở một trình độ… chưa thể hiểu hết ý nghĩa, khả năng biến hóa và tính ứng dụng thực tiễn của nó, và do đó, còn xem nó là vô dụng, là kiến thức chết! Thêm nữa, yêu cầu của cuộc sống, của kinh tế, sản xuất chỉ mới ở mức cộng trừ nhân chia, sơ khai đơn giản, chỉ một cái bảng tính Excel là đã đáp ứng đủ tất cả yêu cầu, còn chưa cần dùng đến Toán cao cấp!

Để sửa cách dạy và học Toán này không phải bắt đầu từ Toán, mà phải bắt đầu từ… Văn và Sử! Đa số người Việt, ngoài miệng thì hoa ngôn xảo ngữ, nhưng kỳ thực là che giấu bệnh “sợ chữ”, không đọc nổi một đoạn văn 10 dòng, hay cũng có đọc nhưng lười, không suy nghĩ sâu xa! Đầu tiên phải có chút công phu đọc hiểu, tìm tòi đã, không tìm tòi thì làm sao hiểu được: Toán chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những nỗ lực giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống! Đào bới lại lịch sử, nhìn lại những gì nhân loại đã làm… là tự khắc sẽ hiểu rõ thôi!

vi tích phân, p1

Có một vài nguyên nhân khiến cho việc học Vi tích phân trở nên “khó nhằn”. Đầu tiên là từ nguyên: “nguyên hàm – hàm nguyên gốc” và “đạo hàm – hàm dẫn hướng – 导函“! Chữ “đạo – 导” ở đây nghĩa là chỉ đường, dẫn hướng (tiếng Trung hiện đại dùng chữ “đạo hàng – 导航” để chỉ khái niệm định hướng, tìm đường – navigation). Giải thích cho HS tại sao vận tốc lại là hàm “chỉ hướng” của quãng đường, gia tốc là “chỉ hướng” của vận tốc, có thể dùng ví dụ trực quan là “vector tiếp tuyến”. Hay là dùng luôn chữ “hướng lượng – 向量” để chỉ khái niệm “vector” cho nó đồng bộ!?

Đồng thời cũng giải thích cho HS hiểu vì sao quá trình từ “nguyên hàm” tính ra “đạo hàm” lại gọi là “vi phân”. Chữ “phân” ở đây có thể hiểu là phân tích, cũng tạm hiểu là phân chia, là cách nói gọn của “Giải tích – phân tích – analysis”! Vì sao quá trình ngược lại, từ “đạo hàm” ra “nguyên hàm” gọi là “tích phân – tính tổng”. Tôi dám cá nhiều HS còn chưa hiểu tại sao tích chính là tổng, phép cộng nhiều lần chính là phép nhân! Nên chăng phải có một chương “dẫn nhập”, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ, các lĩnh vực của ngành Giải tích…

Và giới thiệu sơ lược lịch sử của Giải tích: Newton, Fourier đã tìm cách giải bài toán Dự đoán thủy triều thế nào? Máy tính cơ học dùng để tính tích phân đã được chế tạo ra sao? Tại sao lịch sử vi tích phân lại quy về 2 người là Newton và Leibniz!? Tôi nghĩ, cách tốt nhất để học Toán phổ thông chính là học “Lịch sử Toán”, học để biết cả một quá trình phát triển! Cũng tương tự, cách tốt nhất để học Văn chính là học… Văn học sử: học Nguyễn Du thì ít nhất cũng nên biết sơ qua ông ta thân thế làm sao, sống trong bối cảnh thế nào!?

Khối lượng kiến thức “bên lề” này là… bao la, rộng hơn rất nhiều so với phần được trình bày trong SGK, nhiều điều ngay cả giáo viên giảng dạy còn chưa biết đến! Ngày xưa đi học, tôi sợ nhất là bản thân nổi hứng trích dẫn vài câu thơ “lạ lạ”, khả năng cao là sẽ bị phê: “Lạc đề”, cho 2, 3 điểm! Nói không phải chứ tôi biết rất rõ, ngoại trừ một vài trường hợp, phần lớn giáo viên Văn cũng chẳng biết được bao nhiêu văn, họ chỉ dò câu chữ xem học sinh có làm đúng “đáp án” hay không, chứ không có khả năng hiểu, bình phẩm và tán thưởng những ý tưởng mới lạ!

Hệ thống kiến thức là phát triển tuần tự theo dòng thời gian, và có lịch sử phát triển đôi khi còn phức tạp hơn cả bản thân kiến thức đó! Không thể chấp nhận kiến thức theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”! Học theo kiểu “từ trên trời rơi xuống” rồi sẽ sinh ra những loại người… “từ trên trời rơi xuống” mà thôi! Vấn đề kế là đừng sa đà vào công thức và bài tập khô khan! Ngay từ các khái niệm gốc, sử dụng nhiều ví dụ minh họa để HS hiểu rõ chúng có ý nghĩa gì trong thực tế, dùng để giải quyết những vấn đề thiết thực nào trong cuộc sống.

Vội vàng đi sâu vào các bài toán trừu tượng và phức tạp mà không giải thích rõ ràng những khái niệm cơ bản ngay từ gốc, không hiểu các kiến thức đó dùng để làm gì thì cũng giống như tự cưa cành cây mình đang ngồi trên đó vậy, cũng như học đủ các chiêu thức võ công, cái gì cũng biết mà… đứng tấn không vững vậy! Sau đó, còn không hiểu nữa thì chỉ có thể đổ lỗi cho… cái tính nó “đoản – đoảng – ngắn” vậy thôi, ưa vung vít những chuyện tào lao trên trời dưới đất, nhưng không chịu hiểu những điều sơ đẳng, thiết thực!

trung quốc mộng

Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa,
Thuỳ tiên trực phất ngũ vân xa.
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc,
Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

Giới phê bình phương văn học phương Tây thường chê cười rằng, hơn 50 năm qua, từ sau Lỗ Tấn, văn học Trung Quốc không xuất hiện tư tưởng gì mới. Phê bình đó, nói theo một cách nào đó, cũng tương đối đúng! Văn học TQ, ngay từ xa xưa, Tam Quốc diễn nghĩa, cho đến Hồng lâu mộng, cho đến mãi sau này, đều… không có tư tưởng mới lạ, đột xuất. Họ chỉ tập trung hoàn toàn, gần như là một dạng sa đà đến mức thái quá vào chi tiết, những điều ta xem là những tiểu tiết nhỏ nhoi, lặt vặt của cuộc sống!

Mức độ kỹ càng, chi tiết này thật sự là đáng kinh ngạc, khi các nhà văn TQ có xu hướng xem trải nghiệm cuộc sống, sự từng trải, lăn lộn qua đủ các góc cạnh nhân sinh còn… cao hơn giá trị tư tưởng. Đúng ra, thuộc tính của văn học TQ là như thế, điểm yếu của họ ở đó, mà điểm mạnh cũng là đó, chẳng cần phải “triết học”, “tư tưởng” cao siêu gì, cứ làm những điều bình thường cho kỹ lưỡng, làm đến mức sâu xa là được! Khởi nguyên, đó là do điểm yếu của ngôn ngữ, rồi dần dần trở thành một sự… lựa chọn!

Giấc mộng Trung Hoa, theo kiểu họ thường nghĩ tới, đó chính là… Hồng lâu mộng! Nhắc lại lịch sử đầu thời Minh, Từ Đạt, người đã thu hồi Đại Đô (Bắc Kinh) và đánh vào Thượng Đô (Karakorum), loại trừ hoàn toàn thế lực Nguyên – Mông ra khỏi TQ. Là đệ nhất công thần của Minh Thái tổ, may mắn thoát khỏi cuộc đại thanh trừng! Công lao vô cùng lớn nhưng không thể phong vương (tước vương chỉ dành riêng cho Hoàng tộc), nên đành phong Quốc Công, mà Quốc Công thì hơi nhỏ, không tương xứng…

Nên phải phong 2 tước Quốc công, một nhà được lập 2 tước Quốc công, chuyện chưa từng có trong lịch sử TQ. Hai tước Quốc công này là nguồn cảm hứng của Ninh quốc công và Vinh quốc công trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Giấc mộng Trung Hoa không gì khác hơn là đạt được: “Ninh & Vinh”, sức mạnh quyền thế và kinh tế! Đương nhiên thời đại đã khác, không nên hình dung cuộc sống chỉ đóng khung như thời phong kiến. Khoa học, kỹ thuật, tư tưởng sẽ mở ra vô số khả năng biến động mới…

như một tách trà

Một trong những phim thanh xuân TQ tôi xem thích vô cùng… Phim cân bằng tốt giữa tính thực và tính kịch, giữa hiện trạng, hiện thực và sáng tạo, vị lai! Cũng giống như Tề Bạch Thạch khi nói về tranh vẽ vậy: “vẽ tranh vi diệu ở chỗ vừa giống vừa không giống, nếu quá giống tức là chiều theo thế tục, mà không giống thì là nhạo báng nhân gian…” Phim ảnh mà chỉ chăm chăm đi phản ánh thực tế một cách trần trụi, sống sượng, thô bỉ… thì chả khác nào những kiểu: giả gái, giả pede, giả tiếng, bắt chước, etc… giống như hài HL, kiểu hài mà tôi phải lấy ngón tay tự thọc lét thì mới cười được!

Sự phản ánh thực tế một cách thô bỉ, sống sượng cho thấy cái mà người Việt rất lạm xưng, gọi là “nghệ sĩ” phần lớn chẳng có tư duy thẩm mỹ, sáng tạo gì, chỉ copy lại thực tại một cách thiểu năng, giống như đứa con nít 3 tuổi vậy! Sự sáng tạo, nếu hợp lý, vừa đủ, tinh tế sẽ cho thấy những chiều hướng phát triển của tâm lý, tâm hồn con người, qua đó phác họa nên đường hướng phát triển văn hóa xã hội, khi đó thể hiện được sự nhạy cảm, tài năng của người làm nghệ thuật! Đương nhiên cũng có loại “sáng tạo” quá đà, vẽ ra những thứ ngôn tình, hư ảo, không thực!

Phim có một trường đoạn rất hay: thằng con chơi thể thao gặp tai nạn, bị chấn thương, được các bạn cùng lớp đưa đến bệnh viện, trực tiếp phẫu thuật cấp cứu lại là mẹ của thằng bé, làm bác sĩ tại bệnh viện đó! Bước ra từ phòng phẫu thuật, bà mẹ nói, trấn an những đứa trẻ đang lo lắng chờ đợi ở bên ngoài: “Lúc này, chúng ta nên tin tưởng vào khả năng hồi phục của bệnh nhân!” Và rồi, dường như chợt bừng tỉnh, thoát ra khỏi cái vai làm bác sĩ, trở về với cái vai làm mẹ, bà nói tiếp: “Ah, cô nói thế chỉ là do bệnh nghề nghiệp mà thôi!” Một trường đoạn thực sự rất hấp dẫn.

Phim thanh xuân hay ở chỗ, chính từ trong sự mơ hồ, không chắc chắn của lứa tuổi, cho phép người ta tạm đóng nhiều vai như một hình thức tự vấn, nhìn vấn đề từ nhiều hướng. Sự vận động nội tâm này làm nhân vật trở nên phong phú, trưởng thành! Nhiều người Việt cũng luân phiên “diễn” nhiều “vai” như vậy, nhưng thay vì suy nghĩ cho sâu xa để cho bản thân trở nên có chiều sâu, họ đã cố gắng tối đa mà chỉ đạt được một mớ ngôn từ hàm hồ, xàm xí, động cơ tối hậu chỉ là diễn để bịp người, TQ còn tế nhị gọi là “tiểu thông minh”, chứ nói thẳng ra chính là… lưu manh vặt, ngu xuẩn!

ảo giác A.I. – A.I hallucination

Con người dùng ngôn ngữ tự nhiên để giao tiếp, để mô tả thế giới xung quanh! Nhưng tất cả các ngôn ngữ tự nhiên, dù ngữ pháp chặt chẽ đến đâu, cũng có nhiều điểm yếu, mà yếu nhất là tính logic, tính cấu trúc và tính trình tự. Nhiều khi, rất nhiều người học được một mớ ngôn từ, nhưng không thực sự hiểu nội dung bên trong, họ tự tạo ra một cái “ảo giác hiểu biết – hallucination”! Về điều này thì A.I. hiện nay cũng giống y hệt như con người, và chúng ta có thể dùng “tấm gương” A.I. đó để tự tìm hiểu xem, phải chăng chúng ta cũng có rất nhiều “ảo giác” suốt bấy lâu nay!?

Một ví dụ là “Trương Định & Trương công Định”, chữ Hán “Trương công Định” là ý nói: ông (công) họ Trương, tên Định. Vì không hiểu cái cú pháp “xxx-công-yyy” này nên nhiều người Việt tự tạo ra một cái ảo giác, bịa ra nhân vật không có thật mang cái tên “Trương Công Định”. Do tiếng Việt mượn từ tiếng Hoa một số lớn từ vựng, câu chữ nên những “ảo giác” do hiểu sai chữ Hán phải nói là… Hằng hà sa số, không đếm hết! Và “ảo giác” từ cả ngàn năm nay chứ không phải gần đây! Những bạn đọc trên blog này có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ trong các post trước.

Cũng tương tự vậy, “Lê thị A”, “Nguyễn thị B” là dạng “ảo giác” đã phổ biến đến mức người Việt chấp nhận đó là… hiển nhiên! Xưa đi học, từ cấp 1 cho tới… cấp 4, tôi có thể dễ dàng nhận ra nhiều dạng “ảo giác” này: tự cho là mình hiểu một điều gì đó, nhưng thực chất hoàn toàn không phải vậy. Những người thông minh đôi khi mất vài ngày, vài tuần để nhận ra chỗ sai. Nhưng cũng có rất nhiều người suốt đời chỉ thu lượm được toàn các loại ảo giác, không tự nhận thức ra được! Nên mới nói: ngôn ngữ vừa là công cụ trợ giúp tư duy, cũng vừa là… dẫn hướng lầm lạc!

Ngày xưa, việc tạo ra các “ảo giác hiểu biết” khi tiếp cận nguồn Hán học là một hiện tượng vô cùng phổ biến, đến mức nhiều người nói “nhăng cuội” theo kiểu “bùa chú”, nói mà không hề hiểu mình đang nói cái gì! Những tưởng vì chữ Hán khó học mới thành ra vậy, hóa ra đến khi tiếp cận nguồn Tây học rồi cũng y chang thế, lâu lâu lại xuất hiện vài ku “ngáo nặng” kiểu: ‘Thuyết hấp dẫn mới’ của Bùi Minh Trí, hay rất nhiều các thể loại “triết học” khác! Đó là chưa kể một bộ phận lớn người Việt cố tình tạo ra các “ảo giác hiểu biết” chỉ để làm màu, lòe người, hay để đi bịp người khác!

Hiện tượng “ảo giác” xảy ra khi con người (hay máy móc) tìm được một liên hệ mang tính thống kê giữa các cụm từ, từ đó dẫn tới giả định rằng giữa những cụm từ đó có một mối quan hệ logic, hay là truyền tải một nội dung nào đó. Đó là sản phẩm của những đầu óc ngây ngô, giản đơn kiểu như con nít, chưa từng được đào luyện qua những tập ngữ vựng (corpus) rộng lớn, phức tạp! Nôm na tức là họ chỉ nhớ được một số từ vựng cơ bản, rồi vì một động cơ nào đó, tự suy diễn, tự bịa ra những nội dung tào lao mà bên trong não bộ không hề có bất kỳ sự tự vấn, kiểm chứng nào!

Với máy móc, đó đơn thuần là do “hạn chế kỹ thuật”, các lý do “phần cứng, phần mềm” hay là do “dữ liệu” chưa đủ. Với con người, ngoài lý do “phần cứng, phần mềm”, quá trình học vấn, rèn luyện ra, lý do lớn hơn là… “do tâm”! Là do cái tâm cuồng loạn, không có công phu tìm hiểu, học hành điều gì cho tử tế, nhưng lại cứ muốn thể hiện! Dưới những áp lực xã hội quá lớn, cái tâm trở nên bất chấp, tự nó tưởng tượng ra những thứ gọi là “hiểu biết, trí thức”, tự nó hoang tưởng đến mức cố cùng! Về điều này thì GS. Cao Xuân Hạo đã viết một bài về chứng “vĩ cuồng” rất đáng đọc!

Tuy vậy, hiện tượng “vĩ cuồng” mà GS. Cao Xuân Hạo đã đề cập đến là tương đối cá biệt, ít xảy ra, còn hiện tượng “vi cuồng” mà post này đang nói tới, thì đối lập lại, chính là từ trong những “ảo giác hiểu biết” dẫn đến cái “chấp ngã”, “ta là đúng”, “ta hơn người”, dẫn tới những cái tôi đấu đá, kình chống nhau, bày ra đủ trò lưu manh lặt vặt, rồi tiếp tục dẫn tới những kiểu cá tính “mãi không chịu lớn” rất thường thấy trong xã hội ngày nay. “Vi cuồng” gây ra những hậu quả thảm khốc hơn “vĩ cuồng” rất nhiều, vì nó phổ quát, sâu rộng đến mức đã trở thành một kiểu “dân tộc tính”!

Chính vì ngôn ngữ lỏng lẻo, nghèo nàn và tùy tiện nên đẻ ra những kiểu người chỉ biết có “ảo giác”, “giả tri thức”, bất kỳ lúc nào cũng có thể trở nên “nguy hiểm”! Các ngôn ngữ có tính cấu trúc cao tự bản thân nó đã có lợi thế nhất định, khi ép buộc người dùng ngôn ngữ vào khuôn khổ của những cấu trúc logic nhỏ, giúp loại bớt đi một phần các “ảo giác hiểu biết”. Cũng chính vì tự ý thức được những yếu kém trong ngôn ngữ nên người TQ rất chú trọng tính chi tiết, kỹ càng và tính kỷ luật trong giáo dục, thậm chí đẩy sự rèn luyện này đến mức khắc nghiệt!

Đó là nói những ngôn ngữ tính cấu trúc yếu như tiếng Việt, còn những ngôn ngữ có tính cấu trúc mạnh như tiếng Anh, Pháp, Nga… thì sao!? Thì cũng y như vậy mà thôi, chỉ là ở một cấp độ cao hơn, phức tạp hơn. Hiện tượng “ảo giác” trong thế giới khoa học, công nghệ, lập trình là… nhan nhãn. Một ví dụ là “async / await”, tự cho rằng mình tìm ra được cách giải quyết vấn đề mới, thực chất còn chưa hiểu được các vấn đề lập trình song song kiểu cổ điển. Kết quả là không hề tạo ra được một giải pháp mới nào, tự bịa ra một loại cú pháp dư thừa vô ích, mà dư thừa tức là có hại!

A.I, đó chỉ là một khái niệm tập hợp (umbrella term) bao gồm vô số thể loại khác nhau! Có những loại A.I. làm những công việc phức tạp, tạo ra những kết quả kỳ diệu, những loại đó thường không nói gì, thậm chí không mấy ai biết đến! Còn cái loại như LLM – sinh ra là để nói nhiều, thì rõ ràng không hiểu được bao nhiêu! A.I. như kiểu LLM, chính là một cái gương phản chiếu thế giới con người, con người thế nào, não trạng như thế nào thì tạo ra được loại A.I. giống y như thế! Chỉ là một tấm gương phản ánh con người mà thôi, thậm chí còn là một tấm gương méo mó!

Nhiều loại A.I. thực sự hữu dụng thường… không tự nhận mình là A.I., thậm chí cố tránh không sử dụng thuật ngữ A.I. Còn những loại đi đâu cũng… “ta đây A.I.” chính thực là những mô hình LLM “to mồm” nhưng “rỗng tuếch”. Chỉ có thiểu năng mới cho rằng ChatGPT, OpenAI… là có “hiểu biết”, bất quá chỉ là những công cụ giúp tìm kiếm, sắp xếp thông tin mà thôi, thông tin chính xác tới đâu vẫn còn chưa bàn tới! Chỉ có ngu xuẩn mới cho rằng cần ứng dụng ChatGPT, OpenAI… vào giáo dục, nhất là ở các cấp sơ học, hay bản thân còn cảm thấy chưa đủ “ảo giác”?

Mục tiêu của giáo dục không phải là biết được những gì, tích lũy được bao nhiêu thông tin. Mục tiêu của giáo dục là giúp xây dựng nên cách thức tư duy, suy nghĩ! Cách nhanh nhất để hủy hoại đầu óc một con người là làm anh ta “bão hòa” với một mớ thông tin vô bổ, tạo ra những “ảo giác hiểu biết”, và rồi cứ thế lặp lại như con vẹt vậy, chứ không thực sự hiểu được nội hàm bên trong. Và đó cũng là cách mà các nước tiên tiến tìm cách “nô dịch” các dân tộc chậm tiến, anh chỉ việc “biết như thế” thôi, biết như thế là đủ rồi, còn tôi sẽ tạo ra những cái để cho “anh biết”!

lại A.I.

A.I. – trí tuệ nhân tạo, đó là một thuật ngữ rất chung chung, ám chỉ vô số thể loại khác nhau. Có những loại như Wolfram Alpha chuyên giải toán, có những hệ thống chuyên về xử lý, nhận dạng hình ảnh / video, đây đều là những hệ thống phần mềm siêu phức tạp, có quá trình phát triển tính bằng nhiều thập kỷ, có những cái đã bắt đầu làm từ cách đây… hơn 50 năm! Cũng có những loại LLM (large language model) mới xuất hiện gần đây chuyên về xử lý ngôn ngữ tự nhiên – NLP. Và cũng giống như rất nhiều “người sáng tạo nội dung” trên mạng xã hội Việt vậy, các mô hình LLM nói chuyện gần giống con người, nhưng hoàn toàn không có chút trí tuệ nào.

Bên trong các mô hình LLM không có các cấu trúc logic nhỏ, nó chỉ bắt chước cách nói chuyện như con vẹt mà thôi! Và vì không có logic nên rất thường khi, như người ta hay nói: anh không mở miệng ra thì không ai biết anh ngu, nhưng anh mở miệng nói ra rồi thì… người ta chẳng còn nghi ngờ gì nữa!!! Cũng chính vì lý do đó mà các hệ thống tìm kiếm có A.I. hỗ trợ, như Google thường ngu xuẩn một cách vô lý, và sự ngu xuẩn này thường khi là vô cùng “aggressive”, luôn tỏ ra “ta đây cái gì cũng biết”, xen vào những lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, thậm chí tìm cách áp đặt những “kiến thức” do tự nó tưởng tượng ra chứ hoàn toàn không có thật.

Đây thực chất là cách các nước phát triển tìm cách “dắt mũi, lừa bịp, nô dịch” các dân tộc chậm tiến, khi chỉ cần vài ba dòng ba hoa, thiểu năng cũng muốn đi bịp thiên hạ, chuyện đời đâu có dễ dàng như vậy! Thậm chí ngay cả trong chuyện xử lý ngôn ngữ tự nhiên thì các hệ thống A.I. hiện tại cũng chưa có khả năng hiểu được những câu cú đơn giản nhất, chưa nói đến văn chương, điển cố hay các câu chữ tinh tế, phức tạp khác. Như cái vietsub – phụ đề Việt ngữ dưới đây cũng vậy, câu này phải hiểu đúng là: “Mọi người vì Vạn gia, Vạn gia vì mọi người”, chữ “vi” này có nhiều nghĩa: vì, là, làm, nhưng chọn nghĩa nào thì… A.I. không tự luận ra được!

Các cách sử dụng A.I. để “dịch” phụ đề các phim nước ngoài, từ tiếng Trung, tiếng Anh sang tiếng Việt đều ngu xuẩn như thế! Mới chỉ là những câu thoại đơn giản là đã có vấn đề rồi, còn những nội dung vi tế, sâu xa thì hầu như không truyền tải được! Thực chất, điều này không thể trách A.I. hoàn toàn, vì đến người sợ là dịch cũng mới ngang cỡ đó. Hơn 2000 năm, mượn người ta không thiếu thứ gì, đến độ tập từ vựng dễ có hơn 90% là từ gốc Trung, nhưng chỉ mượn một mớ từ ngữ trên bề mặt để bịp nhau mà thôi, chứ không học được nội dung, công phu bên trong! Thế rồi vỗ ngực ta đây: cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…

cổ trang

Có lần xem phim cổ trang TQ làm về Khang Hy đế, khi còn là một đứa trẻ 8 tuổi: “sau này, khi chấp chính, để thay đổi xã hội, ta sẽ bắt tất cả những kẻ làm nông trong thiên hạ đi học chữ, và bắt tất cả những kẻ học chữ đi cày ruộng…” Xem đến đoạn đó mà ôm bụng cười lăn lộn, tuy chỉ là lời của một đứa trẻ 8 tuổi mà mang hàm ý sâu xa. Phim cổ trang TQ không phải lúc nào cũng chỉ có ngôn tình, trai xinh, gái đẹp… rất nhiều phim lồng ghép vào đó những yếu tố văn hóa, những vấn đề kinh tế, xã hội sâu xa! Nhưng có nhìn thấy hay không, có hiểu được hay không còn tùy vào người xem, suy cho cùng, người ta chỉ nhìn thấy cái mà người ta muốn thấy mà thôi!

Cổ trang, đó là một không gian “giả sử” để mặc sức tưởng tượng. Nên nhớ ngày xưa không giống ngày nay, chiến tranh, đói kém, dịch bệnh liên miên. Khi Doanh Chính lên ngôi Tần vương lúc 12 tuổi (tức Tần Thủy hoàng sau này), việc đầu tiên ông ta làm là ra lệnh đi xây lăng! Ở một thời mà tuổi thọ trung bình của con người không quá 40, vòng đời ngắn ngủi, lên ngôi vương là lập tức nghĩ đến hậu sự! Nên tâm lý con người và phong tục tập quán của xã hội xưa khác xa ngày nay, chính từ trong những khó khăn, khốn cùng của cuộc sống mà con người có những cách phản ứng, có những kiểu mẫu diễn biến tâm lý phức tạp khác nhau!

Thêm vào đó là sự khác biệt nam – nữ, già – trẻ, khác biệt giữa các giai tầng, tất cả đều được đem ra mổ xẻ, phân tích kỹ lưỡng! Cái kỹ lưỡng về tâm lý trong phim TQ đó, thực chất chỉ là mượn chuyện xưa mà nói chuyện nay, mượn một không gian “giả sử” để phân tích về tâm lý của con người, từ đó rút ra những kiểu mẫu, những bài học để ngày nay trông vào mà tự phản tỉnh, mục đích sau cùng cũng chỉ là vì… tiến bộ xã hội mà thôi! Xem người rồi nghĩ đến ta, xã hội vẫn là một kiểu “công xã nguyên thủy”, ngây ngô như thủa hồng hoang, không tự luận ra được, nhìn thì có vẻ sáng sủa văn minh đó, nhưng nội tâm vô cùng tăm tối, u muội! :(

Nhiều người bảo chuyện cổ tích Tấm và Cám là đã quá lạc hậu, không còn phù hợp với thời hiện đại, không có tính nhân văn này nọ. Tôi nói nó chưa lạc hậu đâu, xã hội VN như hiện tại vẫn có một bộ phận rất lớn cũng chỉ ngang cỡ đó thôi! Khả năng thông hiểu người khác, khả năng phối hợp lao động xã hội gần như không có, tâm địa gian dối, lưu manh vặt vẫn sờ sờ ở đó, toàn bộ lý trí, nhận thức bị “cái tôi” thấp kém lấn át, nên lúc nào đó xảy ra những chuyện cực đoan như trong Tấm và Cám thì cũng không phải là chuyện gì lạ đâu! Chỉ là giả vờ văn minh, hiện đại, khoác lên người quần áo sạch sẽ thế thôi, chứ bên trong thì… vẫn cứ như hàng ngàn năm trước!

hữu giáo vô loại

Bữa nọ xem phim cổ trang TQ, đầu phim, đập vào mắt là bức hoành 4 chữ: Hữu giáo vô loại – 有教無類, nghĩa là: chỉ có giáo dục, không phân biệt chủng loại, giai tầng! Đây là một cụm từ trong Luận ngữ, chỉ Khổng tử thu nhận học trò không phân biệt nguồn gốc, xuất xứ. Đương nhiên, từ chủ trương của một người đơn lẻ, cho đến lúc thực thi được ở quy mô toàn xã hội là một quá trình… nhiều ngàn năm, không dễ dàng gì! Nhưng, những yếu tố mang tính chất khởi phát, tiền đề là đã có sẵn ở đó, văn hóa TQ, ngay từ thời cổ đại, không thiếu những yếu tố như vậy!

Từ các tư tưởng duy danh – duy thực “Bạch mã phi mã – ngựa trắng không phải là ngựa”, các tranh luận “tính bản thiện” hay “tính bản ác”, các ý tưởng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, cho đến các chủ trương của Pháp gia, v.v… Một nền văn minh như Ấn Độ thực ra chỉ rực rỡ thời cổ đại mà thôi, nơi sinh ra Phật giáo mà ngày nay ở Ấn Độ, Phật giáo gần như không còn ảnh hưởng gì, chỉ còn một chút vết tích nhỏ nhoi! Suy cho cùng, tất cả vấn đề đều từ “tâm” mà sinh, không khống chế, giáo huấn được cái “tâm” này thì mọi nói năng chỉ là hình thức, ngụy biện, vô nghĩa!