công huân

Loạt phim truyền hình 50 tập nói về những người Trung Quốc được nhận “Cộng hòa quốc Huân chương”, danh hiệu cao quý nhất ở TQ. Cuộc đời mỗi người được viết thành một vài tập phim. Vu Mẫn: người thiết kế bom nguyên tử; Thân Kỷ Lan: chính trị gia, nhà hoạt động nữ quyền; Tôn Gia Đống: chuyên gia thiết kế vệ tinh; Lý Duyên Niên, Trương Phú Thanh: sĩ quan quân đội; Hoàng Húc Hoa: người thiết kế tàu ngầm hạt nhân; Đồ U U: đoạt giải Nobel Y-Sinh, chế tạo thuốc chống sốt rét từ thảo dược; Viên Long Bình: phát triển giống lúa lai, tăng sản lượng lên 10 tấn, rồi 17 tấn/hecta.

Còn có rất nhiều người (như Tiền Học Sâm, Tiền Tam Cường, Đặng Gia Tiên, etc…) thành tích, đóng góp của họ lớn hơn rất nhiều, nhưng đến ngày nay vẫn chưa được tặng Cộng hòa quốc Huân chương này, có lẽ vì thành tích, công lao đã ở mức… không thể đong đếm bằng Huân chương được! Xem những tình tiết trong phim để thấy rằng, họ đã bắt đầu từ một quốc gia đói ăn, lạc hậu, đã đi một chặng đường dài gian khổ đến ngày nay! Ví dụ như Hoàng Húc Hoa đã bắt đầu tính toán, thiết kế tàu ngầm hạt nhân bằng… bàn tính, dùng hàng chục con người ngồi gảy bàn tính!

Đương nhiên nếu cứ gảy bàn tính như thế sẽ mất cả ngàn năm vẫn chưa xong. Nhưng việc gì cũng có… khởi đầu gian nan như vậy! Họ đã bắt tay vào làm rất nhiều việc từ con số không, đôi khi là làm theo kiểu: “kỵ lư trảo mã – 骑驴找马 – cưỡi lừa tìm ngựa”, lừa tuy chậm không thể đuổi kịp ngựa, nhưng có vẫn còn hơn không, vấn đề là có quyết tâm làm hay không! Nhiều câu chuyện, nhiều chi tiết đời sống thực được diễn tả rất sâu sắc và xúc động, ví dụ như Viên Long Bình trong phim có một câu nói giản dị mà lớn lao: tôi sẽ thay đổi thế giới bằng một hạt giống!

nhân gian yên hỏa

Vài năm trước, Trung Quốc có một đợt tuyên truyền phòng chống thiên tai, nhân tai… Lệnh trên truyền xuống, thế là các diễn viên từ Trương Tịnh Nghi, Trương Tuệ Văn, Vương Sở Nhiên, Mã Tư Thuần, và nhiều người khác đều đôn đáo chạy đi… đóng phim: Hỏa diễm lam, Anh ấy bước ra từ ánh lửa, Khói lửa nhân gian của tôi, Em là thành trì doanh lũy của anh .v.v… Đa số đều là những phim khá hay, dù một số người sẽ có chỗ không thích vì chúng… nặng tính tuyên truyền. Các motif lặp đi lặp lại trong những phim này rất dễ thấy: con người chúng ta là khác biệt, ngành nghề là khác biệt, và xã hội vận động, phát triển được chính là nhờ sự khác biệt.

Vừa vào đầu phim là đạo diễn đã bắt phải hô khẩu hiệu rồi: “Đao sơn cảm thượng, Hỏa hải cảm sấm, Triệu chi tức lai – 刀山敢上火海敢闯召之即来“… nôm na tức là: “Dám lên núi đao, Dám vào biển lửa, Cứ gọi là đến…” Haiza, đương nhiên đây cũng chỉ là khẩu hiệu thôi, nhưng cũng nói lên được rất nhiều điều. Ở Việt Nam, “cứ gọi là đến” thì chỉ có 2 loại thôi, một là taxi, và hai… là gái! Cả xã hội khinh thường, không ai muốn làm cái nghề được xem là trâu bò, luôn phải xông pha “núi đao, biển lửa” này. Các phim đều lặp lại thông điệp rằng: dù “cứ gọi là đến”, nhưng nguồn lực công ích “miễn phí” này cần phải sử dụng một cách cân nhắc, thận trọng!

Khi tai họa xảy ra (hoả hoạn, động đất…) phần lớn trường hợp không thể vận chuyển nạn nhân tới bệnh viện kịp thời. Do đó cần thành lập các đội cứu hộ, cứu nạn liên hợp, đa ngành: những người lính làm nhiệm vụ cứu hộ, các y bác sĩ làm nhiệm vụ sơ cấp cứu tại hiện trường. Và thế là xuất hiện những chuyện tình lãng mạn bên trong các đội nhóm này, đơn giản vì người ta thích cái mình không có, các anh lính cứu hộ không có kỹ năng y tế, còn các y bác sĩ thì không đủ sức mạnh đảm đương công việc nguy hiểm. Ngay trong từng nhóm ngành nghề riêng biệt, con người cũng không giống nhau, đều có cách suy nghĩ khác biệt!

Cùng là 2 sĩ quan cứu hỏa, một người thì chú trọng rèn luyện kỹ năng, thể lực để xông pha chiến đấu với ngọn lửa, người còn lại thì chủ trương: sức chịu đựng của con người có hạn, cần phát triển, ứng dụng các công nghệ mới nhằm hỗ trợ cho việc cứu hộ cứu nạn được hiệu quả, an toàn. Hai người này thường xuyên mâu thuẫn với nhau, nhưng thực chất cả hai đều là những nhân vật không thể thiếu trong đội cứu hộ… Đều là 2 bác sĩ học chung với nhau, một người về mặt học hành, nghiên cứu giỏi giang hơn, nhưng người kia được các thầy cô đánh giá cao hơn, vì có sự nhiệt tình, tận tụy với bệnh nhân, mà đây là điểm trọng yếu của ngành Y.

Cả hai đều được gởi tới… Khoa cấp cứu, đây thường không phải là khoa có học thuật cao nhất trong một bệnh viện, công việc căng thẳng, vừa phải đối phó với bệnh nhân lẫn người nhà, đủ các loại người khác nhau từ tử tế cho tới lưu manh, tội phạm. Thời gian ở Khoa cấp cứu, họ học được cách áp dụng kiến thức, cách xử lý các tình huống, và cả cách để đối xử với đủ loại người khác nhau này. Sau đó, các thầy cô mới rút 2 người này về các Chuyên khoa để tiếp tục phát triển chuyên môn, xem đó như một thời gian rèn luyện! Sự khác biệt giữa các ngành nghề, giữa con người với nhau… là không cách nào nói cho tường tận được.

Tuy rằng đều gọi là: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, etc… nhưng mỗi ngành nghề mỗi khác, mỗi lĩnh vực đều có những quy chuẩn riêng sinh ra từ thực tế cuộc sống. Và ngay cả trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, cũng luôn có nhiều phương hướng không thể trực tiếp so sánh được với nhau! Những thang giá trị không thể trực tiếp so sánh với nhau, đó chính là cách xã hội vận hành, là cách con người tồn tại qua muôn ngàn biến động! Chỉ có thiển cận mới nghĩ rằng tất cả đều có thể quy về một “barème” chung để tự thoả mãn cái tính cạnh khóe hơn người của mình. Người Việt vẫn luôn có cái gì đó thực sự vô cùng bất ổn trong cái so đo này!

y giá phạn nang

Thời kỳ Phật giáo hình thành và phát triển trùng hợp với một phát minh lớn của con người: đường – sugar! Khoảng năm 500 trước CN, ở Ấn Độ con người đã bắt đầu tinh luyện được đường, và đến khoảng năm 100 trước CN đã hình thành những xưởng sản xuất đường mía đầu tiên, rồi từ đó theo chân các nhà sư, lan tỏa ra Trung Quốc, Arab… Đường thoạt tiên có vẻ như chẳng có liên hệ gì với Phật giáo, nhưng những nhà tu hành thời bấy giờ dành phần lớn thời gian cho việc thiền định, kỷ luật tu tập thời đó vô cùng khắc nghiệt! Họ chủ yếu tọa thiền, ít vận động, nhu cầu dinh dưỡng không lớn, chỉ một ít thực phẩm giàu đường là đã đủ cho sự vận hành của não bộ. Các nhà sư đương nhiên hiểu rõ lợi ích của đường, đồng thời cũng đã có nhiều khuyến cáo hạn chế sự phụ thuộc vào nó. Nôm na tức là “hạ đường huyết” và “thượng đường huyết” đều rất không tốt! Năng lượng và sự vận động tâm trí có một mối quan hệ mật thiết, tất cả gắn bó trong một tổng thể gọi là… thân, tất cả lại đặt trong một cái không – thời – gian 4 chiều, đặc biệt là chiều thời gian: sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không.

Tương quan với tâm trí con người, cái “biết” của A.I. thực ra cũng chỉ như vật ngoại thân mà thôi, nếu không phải vì tự thân vận động mà đạt được, thì rồi cũng như… nước đổ đầu vịt, có thể đem ra bịp bợm nhất thời, chứ tuyệt đối không “béo bổ” gì với đầu óc của bạn. Nhiều năm trước, tôi có viết một bài về các đề Văn Cao khảo ở Trung Quốc, ví dụ như: Tưởng tượng một ngày bộ óc con người được cấy một siêu chip thông minh, giúp cho ngay cả một bà lão cũng có thể am tường mọi vấn đề, lĩnh vực trong cuộc sống, không ai còn cần phải học tập nữa! Hãy bày tỏ suy nghĩ của bạn. Nói theo kiểu của đám “ngáo A.I.” ngày nay tức là đã có máy móc suy nghĩ thay cho con người, người không phải làm gì cả, không cần động não làm gì nữa! Chỉ cần lên MXH, hóng hớt tin tức sốt dẻo và nói xấu, đấu tố nhau mà thôi! Và phụ thuộc quá nhiều vào thông tin do A.I. sinh ra cũng giống như vừa ăn quá nhiều thức ăn công nghiệp, vừa không vận động, tập thể dục vậy! Dần dần sẽ trở thành một dạng… “giá áo túi cơm – y giá phạn nang”! Sống chỉ để làm cái giá treo áo, cái túi đựng cơm, không hơn không kém!

vi tích phân, p3

Thứ hai là phải có bản đồ về ngập lụt. Qua bao nhiêu sự cố vừa qua, chính quyền địa phương phải xây dựng bản đồ, sơ đồ về các vị trí ngập ứng với tần suất mưa lũ. Mưa lũ bao nhiêu thì sẽ ngập khu nào, mưa 100 mm thì ngập ở đâu, 200 mm thì ngập ở đâu; khi mưa đến 400 mm, 500 mm thì ngập như thế nào… ==> Đây chính là vi tích phân dạng chưa phải là phức tạp lắm, một học sinh cấp 3 loại giỏi cũng có thể làm được! Cho lượng mưa như vậy, trên diện tích như vậy, tính tổng lượng nước, lên net tải bản đồ địa hình 3D độ phân giải cao…

Có thể tính vi tích phân 2 chiều dùng phần mềm MathLab, Mathematica (tính tổng lượng nước ngập trên địa hình), hay nếu biết lập trình, có thể tính toán và hiển thị trực quan bản đồ các vùng ngập lụt với các thư viện Python (công cụ làm hệ thống thông tin địa lý hiện tại rất đa dạng)! Phát loa thông báo thế nào, các vị trí tạm trú an toàn ở đâu, bố trí các đội cứu nạn, các nhóm hỗ trợ dân sinh chỗ nào, đây đều là những suy tính đơn giản có thể lên kế hoạch hành động từ trước! Chỉ là có muốn động não, động tay chân hay không mà thôi!

Nhìn lại lịch sử của Toán học, đó không phải là lịch sử của những con người thích “trò chơi trừu tượng” với ký hiệu và biểu tượng, và càng không phải những dạng “ngáo dở” trên trời dưới đất kiểu các “triết gia tân thời VN”, đó đều là những người thực làm việc thực. Như Leonhard Euler, trong một loạt bài đăng rất dài trên tạp chí Scientia Navalis – Khoa học hàng hải, đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu hình dạng con tàu, tính toán độ nổi, độ ổn định và cách thức các dạng hình học khác nhau vận hành trên mặt nước.

Cũng Leonhard Euler trong một bài đăng trên tạp chí Mechanica – Cơ học, đã trình bày nghiên cứu về áp suất nổ của thuốc súng và gia tốc của viên đạn bên trong nòng súng. Đây là một trong những công trình đầu tiên đưa ra hằng số e=2.71828… cơ số logarit tự nhiên. Cho hàm số f(x) = e^x, hàm này đặc biệt ở chỗ: đạo hàm của nó là chính nó, và nguyên hàm của nó cũng là chính nó! Để hiểu được vì sao kỳ diệu như vậy, để hiểu ma thuật của các con số, cần nhiều năm kinh nghiệm, nhiều năm quan sát các hiện tượng trong thế giới tự nhiên.

Phải nói Euler là nhà toán học, nhà phát minh có ảnh hưởng hết sức to lớn, đến mức đời sau ai cũng đều phải đọc Euler! Quốc tịch Thụy Sĩ nhưng hầu hết thời gian ông ta sống ở Nga và Đức, những công trình Toán học của ông hầu hết đều là kết quả của những công việc thực tế trong hai lĩnh vực công nghệ nóng nhất thời bấy giờ: đóng TÀU và chế tạo SÚNG đại bác! Và hầu hết những nhà khoa học, phát minh giai đoạn đó đều như vậy: họ lảng tránh các câu hỏi siêu hình – metaphysic, bắt tay vào những công việc cụ thể, ví dụ như…

Christiaan Huygens đã nghiên cứu về phương diện hình học của dao động điều hòa của con lắc. Ông đã chế tạo ra đồng hồ quả lắc đầu tiên, dẫn tới sản xuất và trang bị hàng loạt đồng hồ quả lắc cho các hộ gia đình. Đồng hồ quả lắc là một phát minh vô cùng quan trọng, nó xây dựng ý thức đúng giờ và nề nếp lao động, chuẩn bị nền tảng cho con người để bước vào kỷ nguyên công nghiệp. Nên, nếu còn hình dung về Toán như một sự “phức tạp, trừu tượng, khó hiểu và vô dụng” thì… đành phải xem lại não trạng của người dạy/học Toán thôi!

sơn tinh, thủy tinh

Cái câu trong truyện cổ tích Sơn Tinh và Thủy Tinh: “nước dâng cao bao nhiêu thì đồi núi cũng dâng lên cao bấy nhiêu” là hoàn toàn sai, thậm chí chính là nói ngược, vô hình chung đã đảo lộn quan hệ nhân – quả. Trong thời hiện đại ngày nay, cần phải hiểu cho đúng là: “nhà cửa, bê-tông xây đến đâu thì nước cũng sẽ dâng theo đến đó”! Cần phải phá vỡ quan niệm sai lầm cho rằng chỉ cần “be bờ đắp đập” là đủ chống lại lũ lụt, quan trọng là phải tạo ra đủ các khoảng “âm” để chứa nước! Bên cạnh nhiều yếu tố như địa hình, thời tiết cực đoan, etc… một yếu tố cũng đóng góp phần rất lớn, đó chính là người con của Thủy Tinh tên là… Thủy Điện!

Nhiều người trách Thủy điện xả nước không thông báo trước, điều này là chính xác, báo trước tuy không giảm được lũ nhưng ít nhất người dân có thời gian để chuẩn bị! Còn về tính năng trữ nước để điều độ dòng chảy thì phần lớn các thủy điện xây theo kiểu “ăn xổi ở thì” sau này hoàn toàn không có dung lượng dự trữ để cắt lũ, nhất là khi thời tiết ngày càng cực đoan, phải truy cứu trách nhiệm nhà đầu tư thế nào?! Ngay cả thủy điện Đa Nhim do người Nhật hoàn thành năm 1964 cũng đã… thúc thủ trước thời tiết, có phải vì đã cải tạo nâng công suất từ 160 MW lên 240 MW vào năm 2015!? Bỏ cái công suất tăng thêm này có cắt được lũ hay không?

Cấp đủ điện thì không cắt được lũ, giảm công suất phát điện rồi lũ sẽ giảm bao nhiêu, đã có gì đó rất sai trong cái lưỡng đề này! Trừ đi các yếu tố do thời tiết cực đoan thì trách nhiệm nhà đầu tư là đến đâu trong việc cắt lũ, vì tích nước giảm lũ là một tính năng cơ bản đã được tính trước khi xây nhà máy thủy điện! Chỉ khi nào truy cứu được trách nhiệm thì mới loại trừ được tình trạng “ai cũng đúng” nhưng rút cuộc “không có cái gì đúng”! Để tính toán những điều đó: tính lượng mưa, lượng nước, tính phần dự trữ, phân chia phần trách nhiệm… phải ra được con số cụ thể để truy thu, truy cứu… là tự nhiên sẽ dùng đến nhiều Toán vi tích phân thôi!

Nhưng… vì không biết cách làm Toán nên đùn đẩy hết trách nhiệm cho “Chủ tịch tỉnh” trong việc cắt lũ. Tích nước, phát điện, giảm lũ, đây đều là công việc chuyên môn của nhà máy phát điện, đúng ra là đã phải được tính trước từ lúc thiết kế nhà máy, tại sao lại phải do Chủ tịch tỉnh quyết? Đùn đẩy trách nhiệm lên trên vì bên dưới không làm được việc, mà đây đều là những việc cơ bản hoàn toàn nằm trong chức trách đã được hoạch định từ trước. Nhưng trách nhiệm đẩy lên trên, rồi trên cũng mù mờ tương tự, không có số liệu, không có thông tin, không biết đường nào mà quyết. Cứ như thế, đẩy qua đẩy về, chẳng ai chịu làm việc cả!

Hạ Vũ

Vài năm trước, trên Wikipedia tiếng Việt có một “cuộc chiến sửa đổi” dữ dội, các bên tranh nhau sửa nội dung theo ý mình: mục Hạ Vũ, vị “hoàng đế” đầu tiên của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Giai đoạn này, dân tộc Hoa Hạ có dân số ước tính khoảng 2.5 ~ 4 triệu người, sống quanh đồng bằng sông Vị, sông Hoài, Hoàng hà! Chưa hình thành chế độ phong kiến tập trung mà mới chỉ là nhiều thị tộc tìm cách liên minh lại với nhau để hợp sức… trị thủy! Vì dân cư sống định cư với hình thức canh tác nông nghiệp, mà lũ lụt hàng năm tàn phá mùa màng! Lúc này tên nhân vật lịch sử chỉ đơn giản gồm 1 hoặc 2 chữ: Vũ, Cổn .v.v… vì xã hội còn chưa có họ.

Cổn theo lệnh của Nghiêu làm công tác trị thủy suốt 9 năm, be bờ đắp đập, xây dựng các tuyến đê lớn, nhưng cuối cùng thất bại, không khống chế được dòng nước lũ. Vì lý do đó, Nghiêu giết Cổn, và sai con của Cổn là Vũ tiếp tục sự nghiệp trị thủy. Vũ làm việc liên tục suốt 13 năm, đào nhiều kênh giúp phân tán, giảm bớt sức mạnh của dòng nước lũ, nhờ đó mà trị thủy thành công. Ở một thời đại còn chưa có chữ viết, nhưng người TQ đã tổ chức làm những công trình vĩ đại, với tinh thần trách nhiệm lớn lao, làm không được việc là sẽ có vài án tử rơi xuống, phải có ai đó chịu trách nhiệm, không có chuyện “trách nhiệm suông” được!

Theo Sử ký, Thuấn đã “thiện nhượng” – truyền ngôi cho người trị thủy thành công là Vũ. Nhưng ngày nay, qua những nguồn tư liệu khác, chúng ta biết Vũ đã ép Thuấn phải nhượng vị, đơn giản là người chỉ huy đại công trình trị thủy tức là nắm trong tay quyền huy động nhân lực / vật chất lớn nhất quốc gia. Bài học rút ra là: đắp đê tuy vẫn cần thiết ở một vài khu vực xung yếu, nhưng căn bản không giải quyết được vấn đề. Để trị thủy thành công, cần tạo ra nhiều chỗ trống để chứa nước, cần có các kênh rạch giúp dòng nước mau chóng phân tán, thoát ra biển. Đó là cách đây khoảng 4300 năm, người ta đã làm được những việc như vậy!

4300 năm sau, ở cái xứ Vịt kia, rất nhiều người vẫn chưa thể hiểu / nói cho cho đúng đắn! Chuyện rất đơn giản trên nguyên lý: cái chén dùng được là nhớ có chỗ trống bên trong để chứa nước, cái cửa dùng được là nhờ có chỗ trống bên trong cho người đi qua, cái thuyền dùng được là vì bên trong nó trống rỗng nên mới nổi trên mặt nước. Muôn vật dùng được là nhờ đến… “tính không”! Một xã hội toàn những “cái tôi” quá lớn, vừa to lớn vật vã, vừa méo mó đến mức biến dạng, ai cũng cố lấn ra một chút, ai cũng cố dành thêm một chút về phần mình, rút cuộc chiếm dụng hết sự “không”, thế rồi tự mình hại mình, tự biến thành nơi không ai sống được!

vi tích phân, p2

SGK VN có một cái bệnh là chỉ toàn công thức, gần như không có một lời giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ tự nhiên” nào. Đưa ra một mớ công thức, định lý, hệ quả theo kiểu … kiến thức chết mà không đưa ra được ví dụ để làm rõ chúng rút cuộc có ý nghĩa gì? Thế rồi, thảy ra một đống bài tập, đẩy học sinh vào trò chơi “ký hiệu, biểu tượng” hoàn toàn chỉ mang tính chất đánh đố, vô hồn, vô nghĩa. Có lần tôi đọc một cuốn Giải tích tiếng Anh rất hay, hơn 500 trang khổ lớn (lớn hơn khổ A4). Mỗi khi đưa ra một công thức, định nghĩa, họ đều đưa ra vô số ví dụ minh họa!

Họ tìm cách giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ phổ thông của cuộc sống hàng ngày”: ví dụ, dẫn chứng từ thế giới thực, các câu chuyện lịch sử, thông tin “bên lề”, hình ảnh, biểu đồ, nhiều đến mức HS không thể đọc hết. Nếu chỉ để hiểu những điểm cốt yếu, hay để đi thi, thì chỉ cần đọc một số trang nhất định! Phần thông tin thêm, lớn hơn nhiều lần, là dành cho những cho những ai thực sự muốn hiểu sâu! Phần này, e là đến chính người viết SGK VN, chứ chưa nói giáo viên, còn chưa hiểu tường tận! Hệ quả là: đi thi thì được, nhưng làm thật lại… không được!

Cách trình bày thuần túy Toán học, toàn công thức… chỉ dùng được với những người đã có kinh nghiệm làm Toán lâu năm, không phù hợp với HS cấp phổ thông (thậm chí là cả cấp ĐH). Một công thức Toán có thể rất ngắn gọn, nhưng ý nghĩa và tính áp dụng thực tế của nó thì… thiên hình vạn trạng. Cách dạy Toán theo kiểu thuần túy công thức là chỉ phù hợp để… đi thi mà thôi! Muốn kiến thức đó trở nên hữu ích trong cuộc sống, đi vào thực tiễn nghiên cứu, sản xuất… thì đầu tiên phải nhìn cuộc sống thực theo cách đa chiều, muôn màu muôn vẻ đã!

Cũng như học võ vậy, cơ bản gồm 2 phần: “Hình – – kata – các bài quyền” và “Phân giải – 分解 – Bunkai – ứng dụng thực tế”. Hình là một tập hợp các động tác có tính trừu tượng cao, có quá trình phát triển rất lâu đời nên uyên áo, khó hiểu, còn Phân giải là muôn ngàn cách biến hóa, triển khai, ứng dụng Hình vào trong thực tế chiến đấu! Mà Võ học (cũng như Toán) không phải chỉ bao gồm có Hình & Phân giải! Trừ khi bạn đi theo ngành Toán lý thuyết thuần túy, còn đa số chúng ta, nếu chỉ học các bài quyền thì vẫn mới chỉ là làm màu, chưa phải là học võ thực sự!

Nên không phải là Toán cao cấp không có ích, không cần thiết trong cuộc sống, nghiên cứu, sản xuất, etc… Vấn đề là bản thân người làm SGK, người và học Toán vẫn còn đang ở một trình độ… chưa thể hiểu hết ý nghĩa, khả năng biến hóa và tính ứng dụng thực tiễn của nó, và do đó, còn xem nó là vô dụng, là kiến thức chết! Thêm nữa, yêu cầu của cuộc sống, của kinh tế, sản xuất chỉ mới ở mức cộng trừ nhân chia, sơ khai đơn giản, chỉ một cái bảng tính Excel là đã đáp ứng đủ tất cả yêu cầu, còn chưa cần dùng đến Toán cao cấp!

Để sửa cách dạy và học Toán này không phải bắt đầu từ Toán, mà phải bắt đầu từ… Văn và Sử! Đa số người Việt, ngoài miệng thì hoa ngôn xảo ngữ, nhưng kỳ thực là che giấu bệnh “sợ chữ”, không đọc nổi một đoạn văn 10 dòng, hay cũng có đọc nhưng lười, không suy nghĩ sâu xa! Đầu tiên phải có chút công phu đọc hiểu, tìm tòi đã, không tìm tòi thì làm sao hiểu được: Toán chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những nỗ lực giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống! Đào bới lại lịch sử, nhìn lại những gì nhân loại đã làm… là tự khắc sẽ hiểu rõ thôi!

vi tích phân, p1

Có một vài nguyên nhân khiến cho việc học Vi tích phân trở nên “khó nhằn”. Đầu tiên là từ nguyên: “nguyên hàm – hàm nguyên gốc” và “đạo hàm – hàm dẫn hướng – 导函“! Chữ “đạo – ” ở đây nghĩa là chỉ đường, dẫn hướng (tiếng Trung hiện đại dùng chữ “đạo hàng – 导航” để chỉ khái niệm định hướng, tìm đường – navigation). Giải thích cho HS tại sao vận tốc lại là hàm “chỉ hướng” của quãng đường, gia tốc là “chỉ hướng” của vận tốc, có thể dùng ví dụ trực quan là “vector tiếp tuyến”. Hay là dùng luôn chữ “hướng lượng – 向量” để chỉ khái niệm “vector” cho nó đồng bộ!?

Đồng thời cũng giải thích cho HS hiểu vì sao quá trình từ “nguyên hàm” tính ra “đạo hàm” lại gọi là “vi phân”. Chữ “phân” ở đây có thể hiểu là phân tích, cũng tạm hiểu là phân chia, là cách nói gọn của “Giải tích – phân tích – analysis”! Vì sao quá trình ngược lại, từ “đạo hàm” ra “nguyên hàm” gọi là “tích phân – tính tổng”. Tôi dám cá nhiều HS còn chưa hiểu tại sao tích chính là tổng, phép cộng nhiều lần chính là phép nhân! Nên chăng phải có một chương “dẫn nhập”, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ, các lĩnh vực của ngành Giải tích…

Và giới thiệu sơ lược lịch sử của Giải tích: Newton, Fourier đã tìm cách giải bài toán Dự đoán thủy triều thế nào? Máy tính cơ học dùng để tính tích phân đã được chế tạo ra sao? Tại sao lịch sử vi tích phân lại quy về 2 người là Newton và Leibniz!? Tôi nghĩ, cách tốt nhất để học Toán phổ thông chính là học “Lịch sử Toán”, học để biết cả một quá trình phát triển! Cũng tương tự, cách tốt nhất để học Văn chính là học… Văn học sử: học Nguyễn Du thì ít nhất cũng nên biết sơ qua ông ta thân thế làm sao, sống trong bối cảnh thế nào!?

Khối lượng kiến thức “bên lề” này là… bao la, rộng hơn rất nhiều so với phần được trình bày trong SGK, nhiều điều ngay cả giáo viên giảng dạy còn chưa biết đến! Ngày xưa đi học, tôi sợ nhất là bản thân nổi hứng trích dẫn vài câu thơ “lạ lạ”, khả năng cao là sẽ bị phê: “Lạc đề”, cho 2, 3 điểm! Nói không phải chứ tôi biết rất rõ, ngoại trừ một vài trường hợp, phần lớn giáo viên Văn cũng chẳng biết được bao nhiêu văn, họ chỉ dò câu chữ xem học sinh có làm đúng “đáp án” hay không, chứ không có khả năng hiểu, bình phẩm và tán thưởng những ý tưởng mới lạ!

Hệ thống kiến thức là phát triển tuần tự theo dòng thời gian, và có lịch sử phát triển đôi khi còn phức tạp hơn cả bản thân kiến thức đó! Không thể chấp nhận kiến thức theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”! Học theo kiểu “từ trên trời rơi xuống” rồi sẽ sinh ra những loại người… “từ trên trời rơi xuống” mà thôi! Vấn đề kế là đừng sa đà vào công thức và bài tập khô khan! Ngay từ các khái niệm gốc, sử dụng nhiều ví dụ minh họa để HS hiểu rõ chúng có ý nghĩa gì trong thực tế, dùng để giải quyết những vấn đề thiết thực nào trong cuộc sống.

Vội vàng đi sâu vào các bài toán trừu tượng và phức tạp mà không giải thích rõ ràng những khái niệm cơ bản ngay từ gốc, không hiểu các kiến thức đó dùng để làm gì thì cũng giống như tự cưa cành cây mình đang ngồi trên đó vậy, cũng như học đủ các chiêu thức võ công, cái gì cũng biết mà… đứng tấn không vững vậy! Sau đó, còn không hiểu nữa thì chỉ có thể đổ lỗi cho… cái tính nó “đoản – đoảng – ngắn” vậy thôi, ưa vung vít những chuyện tào lao trên trời dưới đất, nhưng không chịu hiểu những điều sơ đẳng, thiết thực!

trung quốc mộng

Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa,
Thuỳ tiên trực phất ngũ vân xa.
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc,
Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

Giới phê bình phương văn học phương Tây thường chê cười rằng, hơn 50 năm qua, từ sau Lỗ Tấn, văn học Trung Quốc không xuất hiện tư tưởng gì mới. Phê bình đó, nói theo một cách nào đó, cũng tương đối đúng! Văn học TQ, ngay từ xa xưa, Tam Quốc diễn nghĩa, cho đến Hồng lâu mộng, cho đến mãi sau này, đều… không có tư tưởng mới lạ, đột xuất. Họ chỉ tập trung hoàn toàn, gần như là một dạng sa đà đến mức thái quá vào chi tiết, những điều ta xem là những tiểu tiết nhỏ nhoi, lặt vặt của cuộc sống!

Mức độ kỹ càng, chi tiết này thật sự là đáng kinh ngạc, khi các nhà văn TQ có xu hướng xem trãi nghiệm cuộc sống, sự từng trãi, lăn lộn qua đủ các góc cạnh nhân sinh còn… cao hơn giá trị tư tưởng. Đúng ra, thuộc tính của văn học TQ là như thế, điểm yếu của họ ở đó, mà điểm mạnh cũng là đó, chẳng cần phải “triết học”, “tư tưởng” cao siêu gì, cứ làm những điều bình thường cho kỹ lưỡng, làm đến mức sâu xa là được! Khởi nguyên, đó là do điểm yếu của ngôn ngữ, rồi dần dần trở thành một sự… lựa chọn!

Giấc mộng Trung Hoa, theo kiểu họ thường nghĩ tới, đó chính là… Hồng lâu mộng! Nhắc lại lịch sử đầu thời Minh, Từ Đạt, người đã thu hồi Đại Đô (Bắc Kinh) và đánh vào Thượng Đô (Karakorum), loại trừ hoàn toàn thế lực Nguyên – Mông ra khỏi TQ. Là đệ nhất công thần của Minh Thái tổ, may mắn thoát khỏi cuộc đại thanh trừng! Công lao vô cùng lớn nhưng không thể phong vương (tước vương chỉ dành riêng cho Hoàng tộc), nên đành phong Quốc Công, mà Quốc Công thì hơi nhỏ, không tương xứng…

Nên phải phong 2 tước Quốc công, một nhà được lập 2 tước Quốc công, chuyện chưa từng có trong lịch sử TQ. Hai tước Quốc công này là nguồn cảm hứng của Ninh quốc công và Vinh quốc công trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Giấc mộng Trung Hoa không gì khác hơn là đạt được: “Ninh & Vinh”, sức mạnh quyền thế và kinh tế! Đương nhiên thời đại đã khác, không nên hình dung cuộc sống chỉ đóng khung như thời phong kiến. Khoa học, kỹ thuật, tư tưởng sẽ mở ra vô số khả năng biến động mới…

như một tách trà

Một trong những phim thanh xuân TQ tôi xem thích vô cùng… Phim cân bằng tốt giữa tính thực và tính kịch, giữa hiện trạng, hiện thực và sáng tạo, vị lai! Cũng giống như Tề Bạch Thạch khi nói về tranh vẽ vậy: “vẽ tranh vi diệu ở chỗ vừa giống vừa không giống, nếu quá giống tức là chiều theo thế tục, mà không giống thì là nhạo báng nhân gian…” Phim ảnh mà chỉ chăm chăm đi phản ánh thực tế một cách trần trụi, sống sượng, thô bỉ… thì chả khác nào những kiểu: giả gái, giả pede, giả tiếng, bắt chước, etc… giống như hài HL, kiểu hài mà tôi phải lấy ngón tay tự thọc lét thì mới cười được!

Sự phản ánh thực tế một cách thô bỉ, sống sượng cho thấy cái mà người Việt rất lạm xưng, gọi là “nghệ sĩ” phần lớn chẳng có tư duy thẩm mỹ, sáng tạo gì, chỉ copy lại thực tại một cách thiểu năng, giống như đứa con nít 3 tuổi vậy! Sự sáng tạo, nếu hợp lý, vừa đủ, tinh tế sẽ cho thấy những chiều hướng phát triển của tâm lý, tâm hồn con người, qua đó phác họa nên đường hướng phát triển văn hóa xã hội, khi đó thể hiện được sự nhạy cảm, tài năng của người làm nghệ thuật! Đương nhiên cũng có loại “sáng tạo” quá đà, vẽ ra những thứ ngôn tình, hư ảo, không thực!

Phim có một trường đoạn rất hay: thằng con chơi thể thao gặp tai nạn, bị chấn thương, được các bạn cùng lớp đưa đến bệnh viện, trực tiếp phẫu thuật cấp cứu lại là mẹ của thằng bé, làm bác sĩ tại bệnh viện đó! Bước ra từ phòng phẫu thuật, bà mẹ nói, trấn an những đứa trẻ đang lo lắng chờ đợi ở bên ngoài: “Lúc này, chúng ta nên tin tưởng vào khả năng hồi phục của bệnh nhân!” Và rồi, dường như chợt bừng tỉnh, thoát ra khỏi cái vai làm bác sĩ, trở về với cái vai làm mẹ, bà nói tiếp: “Ah, cô nói thế chỉ là do bệnh nghề nghiệp mà thôi!” Một trường đoạn thực sự rất hấp dẫn.

Phim thanh xuân hay ở chỗ, chính từ trong sự mơ hồ, không chắc chắn của lứa tuổi, cho phép người ta tạm đóng nhiều vai như một hình thức tự vấn, nhìn vấn đề từ nhiều hướng. Sự vận động nội tâm này làm nhân vật trở nên phong phú, trưởng thành! Nhiều người Việt cũng luân phiên “diễn” nhiều “vai” như vậy, nhưng thay vì suy nghĩ cho sâu xa để cho bản thân trở nên có chiều sâu, họ đã cố gắng tối đa mà chỉ đạt được một mớ ngôn từ hàm hồ, xàm xí, động cơ tối hậu chỉ là diễn để bịp người, TQ còn tế nhị gọi là “tiểu thông minh”, chứ nói thẳng ra chính là… lưu manh vặt, ngu xuẩn!