photography consent

Điều 32, Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.” Chỉ một câu này thôi là đủ để xử phạt hành chính tất cả những hành vi quay phim chụp ảnh một người rồi phát hành, xuất bản dưới bất kỳ dạng nào, kể cả trên mạng xã hội mà không được người đó đồng ý. Rất tiếc là ở phần thi hành, Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, không quy định cụ thể mức phạt, chỉ có thể phạt nếu kết luận được hành vi chia xẻ này là: “giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”. Hiểu như vậy thì vẫn có thể cưỡng chế thi hành, bắt phải xóa phim, xóa hình ảnh được, chỉ là hơi khó định được mức xử phạt cụ thể mà thôi! Ví dụ như bạn đăng tấm ảnh đi uống bia với bạn bè lên mạng xã hội, thế nào cũng sẽ có thằng cóp lại cái ảnh, rồi giật dòng tít trêu ngươi: Tác hại của chứng nghiện rượu!

Đương nhiên, đây chỉ là tôi rảnh, tưởng tượng ra kịch bản thế thôi, nhưng phần lớn báo chí và mạng xã hội VN cũng giống y vậy! Nó thể hiện cái tâm thức xấu xí của cộng đồng Việt, bản thân không chịu vận động, chỉ la liếm khắp nơi, thấy cái gì lạ thì một là sợ, hai là ghét, và ba là tìm cách nói ra nói vào! Rồi dùng những nội dung sai lệch tìm cách gây “sóng”, anh A nói như thế này, anh B bảo anh C như thế kia, kích cho thiên hạ đánh nhau! Nên cái phần “hướng hạ” trong cộng đồng quá lớn, không thấy phần “hướng thượng” đâu, riết xã hội nó bị “quy đồng” về những “mẫu số chung” như thế! Chính những cái thành phần thiểu năng, không có khả năng suy nghĩ, trống hoác không có nội dung gì, hạ bút viết câu tiếng Việt cho suôn sẻ còn chưa được! Chính những thành phần đó là dạng la liếm khắp nơi, luôn luôn “ta đây biết rồi”, chính là những kẻ thêu dệt, bịa đặt tích cực nhất! Muốn “sáng tạo nội dung” á, chuyện không dễ thế đâu!

Phải xem từ nhỏ học hành thế nào, phải có quá trình hàng chục năm thì mới hơi hơi có nội dung được, mà người không có công phu gì chỉ nói mấy câu là biết ngay! Phải sớm cụ thể, chi tiết hóa luật về chuyện này, quy định thành mức phạt cụ thể, như thế mới dẹp được đám du-tu-bơ, tíc-tốc-cơ, phây-búc-cơ và những dạng báo chí thiểu năng khác! Thường việc như thế này do chưa xảy ra với mình, hoặc có xảy ra thì cũng cho qua vì không quá quan trọng, nhưng vẫn phải hiểu rõ luật để tự bảo vệ. Còn đối với trường hợp ông Anh Tú – Minh Tuệ, có 2 khả năng có thể xảy ra. #1. Ông Anh Tú ủy quyền cho luật sư khởi kiện vụ án sử dụng hình ảnh cá nhân trái phép! #2. Viện kiểm sát, xét sự việc ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, quyết định khởi tố vụ án sử dụng hình ảnh trái phép! Cứ bốc ra 100 ku đầu têu, phạt mỗi ku 20tr, kiếm 2 tỷ trả án phí, cứ như thế cho chúng nó sợ, khỏi đăng hình ảnh, video gì cả, còn chữ á, muốn đăng bao nhiêu thì tùy, chỉ sợ là chúng nó không có nhiều chữ để mà đăng đâu!

thần quyền

Một trong những thuộc tính rất đặc trưng của Phật giáo, dù là tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, hay Việt Nam, xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, đó là tính chất “tổ chức, hội đoàn yếu” của nó! Đây có thể xem vừa là nhược điểm, vừa là ưu điểm nổi bật của Phật giáo. Khác với những tôn giáo khác, Phật luôn là vấn đề rất cá nhân, mục tiêu cao nhất là đạt đến giác ngộ, những cái khác chỉ là phụ. Nên tính đoàn thể thì vẫn phải có, như bất kỳ một tổ chức nào khác, nhưng Phật giáo tập trung nhiều vào việc giáo dục con người, chứ không tập trung vào những chương trình hành động mang tính xã hội rộng lớn. Suốt mấy ngàn năm lịch sử, Phật giáo hiếm khi tự biến mình thành một tổ chức “Thần quyền” can thiệp vào “Thế quyền”, như đã xảy ra với nhiều tôn giáo khác, ví dụ như Thiên Chúa giáo.

Thiên Chúa giáo, như tại Bùi Chu và Phát Diệm, vào thời của các giám mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi… chính là một kiểu Thần quyền và Thế quyền hợp nhất, các linh mục nắm toàn quyền sinh sát, thậm chí có cả quân đội vũ trang riêng. Tính tổ chức cao, hoạt động hiệu quả luôn là truyền thống của Thiên Chúa giáo Tây phương, điều này thể hiện rõ với các cha xứ theo chân đoàn quân thực dân đi xâm chiếm nước khác! Khi thực dân Pháp hoàn tất việc cai trị Việt Nam, các tri thức VN đương thời đều nhận ra tính hiệu quả của mô hình tôn giáo, tổ chức ngoại lai, và họ cũng nỗ lực làm giống như vậy! Như Cao Đài tổ chức thành các xóm đạo, họ đạo như Thiên Chúa, xây các nhà thờ dạng 2 tháp hệt như Thiên Chúa. Nhưng các quyết định quan trọng được đưa ra bởi một hình thức… “cầu cơ” (!!!) thay vì bỏ phiếu.

Ở miền Nam ngoài Cao Đài còn có Hòa Hảo, và nhiều hình thức tôn giáo “ngồ ngộ” khác. Mê tín dị đoan (như chữa bệnh bằng nước lã, tro than) là phổ biến, bùa chú, sấm ký là phổ biến, và nhiều hình thức khó tin khác theo suy nghĩ hiện đại ngày nay, ví dụ như tuyên truyền rằng súng của Việt Minh sẽ không thể nổ được trước những tín đồ Hòa Hảo. Những điều này xảy ra nói thẳng là vì dân trí quá thấp! Mặc dù phần tư tưởng, Hòa Hảo tự nhận mình là một nhánh Phật giáo (Tịnh độ tông), nhưng ở phần thực hành, họ xa rời tôn chỉ của Phật giáo là giáo dục con người, mà tập trung vào tổ chức Giáo hội Thần quyền kiêm quản Thế quyền giống như các nhánh tôn giáo khác đương thời. Các chỉ huy Hòa Hảo như Năm Lửa, Ba Cụt… cai trị các vùng lãnh thổ riêng, không ai chịu ai, tàn bạo không khác gì lãnh chúa.

Trở lại với thời gian đầu chống Pháp, nỗ lực “toàn dân kháng chiến” của Việt Minh mâu thuẫn nghiêm trọng với tính cô lập, tự trị và lạc hậu của các giáo phái! Nhất là ở thời gian vài năm đầu, bất kỳ ai “tích cực kháng chiến” đều được chấp nhận, nên trong hàng ngũ Việt Minh xuất hiện một số kẻ “cơ hội chủ nghĩa” như Kiều Đắc Thắng, hay hành xử “tự tung tự tác” như Bửu Vinh. Đám Bình Xuyên mặc dù đi làm cách mạng nhưng vẫn có nhiều người, cung cách không khác với thời ăn cướp ngày trước là mấy! Thế nên khá nhiều sự việc đáng tiếc đã xảy ra! Theo dòng tiến bộ của lịch sử, ngày nay, tách biệt Thần quyền và Thế quyền là một nguyên tắc cần được thực hiện nghiêm nhặt, cũng nghiêm nhặt y như là bảo đảm quyền Tự do tôn giáo vậy, và các Tôn giáo nên trở lại đúng với vai trò của nó, đó là giáo dục con người!

hòa hảo

23/9/1945, Nam Bộ kháng chiến bùng nổ… Tình hình miền Nam lúc này, có các lực lượng giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài, mỗi nhánh có khoảng 2000 ~ 3000 tay súng, nhưng lại chống Pháp theo kiểu nửa vời. Mạnh nhất là Việt Minh, bao gồm Thanh niên tự vệ và khoảng 2000 bộ đội Bình Xuyên (quân của Ba Dương, Tám Mạnh, tuy vẫn có một bộ phận Bình Xuyên không hoàn toàn quy phục Việt Minh như Bảy Viễn), tổng cộng không quá 5000 ~ 6000 tay súng! Bình Xuyên, những người vốn gốc là dân giang hồ, anh chị, ăn cướp, bảo kê v.v. nói cho đúng vẫn là lực lượng chiến đấu tương đối hiệu quả, ít nhất là vào thời gian đầu kháng chiến, phần nào đó là nhờ cái máu “yêng hùng” của họ! Nhưng do đâu Việt Minh lại điều khiển được đám giang hồ này, đó là từ một sai lầm của người Pháp! Từ nhiều năm trước…

Người Pháp nhốt chung tù chính trị với tù hình sự, hy vọng có thể dùng đám đầu gấu để trị các tay tù chính trị. Nhưng kết quả hóa ra ngược lại, vào tù rồi, anh chị cỡ nào đi nữa, đánh cho vài trận là phục tùng hết. Nhưng đám tù chính trị dù có chặt tay, chân vẫn không khuất phục. Kết quả là đám tù chính trị quay ngược lại cảm hóa, thuyết phục được đám du đãng, vì họ đã cho đám “cơ bắp” thấy được có loại sức mạnh nằm ngoài cơ bắp! Đến khi kháng chiến bùng nổ, các đơn vị như của Ba Dương, Tám Mạnh đều rắp rắp nghe lệnh Việt Minh. Nhưng tổng số 5000, 6000 tay súng là quá ít, không đủ để đối đầu với quân Pháp! Miền Nam cho đến lúc đó vẫn là vùng đất mới, lòng người không vững, lại chia năm xẻ bảy! Ngay trong tháng 9-1945, các đơn vị Nam Tiến từ miền Bắc, Trung được thành lập…

Hải Phòng, Hà Nội mỗi nơi gởi một chi đội, Bắc Ninh, Bắc Giang gởi một chi đội, Thừa Thiên cũng gởi cỡ một chi đội, Quảng Nam gởi 3 chi đội… đặc biệt Quảng Ngãi gởi vào Nam 15 ngàn người! Cái gọi là “chi đội” lúc bấy giờ là những đơn vị không cố định quân số, thường khoảng 1000 ~ 1500 người! Đến tận giờ không thể biết chính xác bao nhiêu người đã Nam Tiến, ước tính ít nhất 30 ngàn người đã chi viện cho miền Nam trong vòng chưa đến 5 tháng! Nhưng tình hình miền Nam lại diễn biến vô cùng phức tạp! Những khúc mắc giữa Việt Minh với Hòa Hảo, Cao Đài và những thành phần xã hội khác, đến tận ngày nay người ta vẫn tránh nói về những đề tài ấy, bởi vì muốn nói cho cùng thì phải nhìn vào bản chất lạc hậu, manh mún, nhìn vào dân trí, những điều vẫn chưa cải thiện mấy cho đến tận ngày nay!

Quay ngược lịch sử trăm năm trước, khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, phong trào Nghĩa Hội bùng phát khắp Quảng Nam, cầm đầu bởi Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Nguyễn Tiểu La… xây dựng căn cứ ở Quế Sơn để mưu tính chống Pháp lâu dài. Nhưng người Pháp không chỉ hơn ở khoa học, kỹ thuật, vũ khí mà họ hơn ở… tất cả mọi phương diện: âm mưu, kế sách, thủ đoạn, mua chuộc, đe dọa, cài cắm, tin giả, ly gián, etc… Được khoảng 2 năm thì Nguyễn Duy Hiệu bị bắt, phong trào tan rã. Nói đến tinh thần yêu nước nhưng nhiều người vẫn không dám nói thẳng về kết quả thực tế của Nghĩa Hội Quảng Nam: giết được vài chục người Pháp, nhưng tự mình giết người mình vì nghi ngờ, phản bội, vì thanh trừng lẫn nhau, con số phải lên đến nhiều trăm. Và chuyện như thế vẫn kéo dài mãi đến về sau…

nguyên hùng

Lại nói về văn và sử, sử và văn, hư và thực, thực và hư… Có nhưng thứ văn chương nghe có vẻ hư cấu, nhưng lại cực kỳ thực. Và có những thứ sử tưởng chừng thực, kỳ thực lại rất hư. Văn mà mô tả đầy đủ chi tiết về văn hóa, cuộc sống đương thời, từ địa lý, sắc tộc cho đến ngôn ngữ, ẩm thực, ăn mặc, v.v. thì đó là lối văn cực kỳ thực, không có hiểu biết, từng trãi cuộc sống thì không thể nào viết ra như vậy được. Sử mà chỉ gồm toàn những cái gạch đầu dòng giản đơn, tìm cách máy móc kết nối các điểm lại với nhau, kỳ thực là một lối sử rất là hư! Lại nói về những nhân vật trong các cuốn sách của nhà văn Nguyên Hùng: Lê Văn Viễn có cha là người Triều Châu, mẹ người Việt, là một tướng cướp lừng danh. Huỳnh Văn Trí cũng là một tay anh chị khét tiếng, cả 2 vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần, quen nhau trong tù, nhiều lần vượt ngục cùng nhau và kết nghĩa làm anh em.

CMT8 nổ ra, cả hai tổ chức những đơn vị vũ trang đầu tiên chống Pháp, cả 2 đều là đàn em dưới trướng của Dương Văn Dương, thủ lĩnh “nghĩa quân” Bình Xuyên, người ngay từ năm 1948 đã được truy phong Thiếu tướng! Nhưng Mười Trí đi kháng chiến đến cùng, còn Bảy Viễn như ta biết, trở về làm ông trùm Chợ Lớn. Không thuyết phục được người anh em kết nghĩa, Mười Trí bày tỏ nỗi lòng qua một bài thơ, lối văn dân dã Nam bộ. Hư hay là thực thì để cho người đọc suy nghĩ, nhưng lối văn này, dù người ta cũng đã tìm cách giả, nhưng tối hậu vẫn không thể nào giả được: Thế là hết, tôi với anh đành đoạn tuyệt, Vì anh ơi, đời hồ hải hết tung hoành. Anh giam mình vào lưới sắt, bả hư danh, Thân lồng chậu, anh mong nằm trên nệm ấm. Anh có biết tay quân thù còn đỏ thắm, Máu đồng bào ngùn ngụt lửa căm thù. Kiếp tôi đòi, anh nhớ lại mùa Thu, Mùa lịch sử đã mở tù cho dân tộc…

người bình xuyên

Thực ra ở VN, cũng có nhiều người viết văn theo lối “nửa thực, nửa hư” như thế (và họ nói rõ đây là văn, không phải sử), viết để trình bày một dạng sử ít chính thức hơn. Ví dụ như nhà văn Nguyên Hùng, tác giả những cuốn Người Bình Xuyên, Nguyễn Bình – huyền thoại và sự thật, Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ… những sách nói cho độc giả biết về các nhân vật kháng chiến, tôn giáo, quân phiệt miền Nam 1945 ~ 1975, một giai đoạn gần giống như thời Dân quốc bên TQ vậy! Sách của ông nói cho chúng ta về những góc ít biết của lịch sử: Huỳnh Phú Sổ, Phạm Công Tắc, Lê Văn Viễn, Dương Văn Dương, Nguyễn Bình…

Nhưng khác là Nguyên Hùng thực sự là người trong cuộc, tham gia kháng chiến từ đầu đến cuối! Vì là người trong cuộc nên Nguyên Hùng có khả năng phác họa chân dung con người với những hiểu biết sống động: ngôn ngữ, giáo dục, văn hoá, tâm lý, và nhiều chi tiết khác liên quan đến đời sống, xã hội đương thời! Còn với trường hợp Huy Đức, ông ấy chỉ là người đến sau, tìm cách hình dung lại lịch sử qua những gì được nghe kể lại, hay qua những gì mình tưởng tượng ra, tìm cách lắp ghép, sắp xếp thông tin thu nhặt được theo những định kiến có sẵn, nên sách nghe rất khiên cưỡng, máy móc và vô hồn…

bên thắng cuộc

Giữa trưa 7-1-1979, khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin quân ta đã vào Phnom Penh, ông Lê Duẩn chỉ ừ rồi ngủ tiếp… Đọc đến đây là tôi vất cuốn truyện qua một bên, không đọc nữa! Vì những tình tiết kiểu như thế nó xuất hiện quá quá nhiều! Tác giả viết giống như thể lúc đó, ông ta đang nằm ở dưới gầm giường của ông Lê Duẩn nên biết được sự việc vậy! Mặc dù một số tình tiết trong truyện tôi cũng muốn tin lắm, nó giống những truyền khẩu dân gian người ta thường kể cho nhau nghe lúc trà dư tửu hậu! Nhưng lịch sử mà viết theo lối “tiểu thuyết dã sử, giả sử” như thế không hề ổn một chút nào!

Lần cuối cùng người ta làm như thế có lẽ là từ thời của Homer (Trường ca Iliad và Odyssey)! Tất cả những kiểu như Đèn cù, Đêm giữa ban ngày, Bên thắng cuộc, etc… đều cùng một kiểu, cùng một giọng văn, cùng một phong cách: nói giống như là đúng rồi vậy, đưa tin theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”, tìm cách nhào nặn những sự thật nhiều người biết, trộn thêm vào đó những tình tiết tưởng tượng theo cảm tính, tìm cách tô màu mức tranh theo ý của mình, hư hư thực thực đan xen vào nhau! Và có cơ sở để tin rằng tất cả những thủ pháp “sáng tác văn chương” như thế đã được đúc kết để dạy thành bài bản!

rú chá

Nhiều năm trước, thấy mọi người nói nhiều về Rú Chá, chụp ảnh thấy cũng đẹp, “khu rừng” ngập mặn, hệ sinh thái đầm phá ven biển Thừa Thiên. Nghe danh mà đến, trên đường chạy xe máy xuyên Việt, tôi ghé qua thử xem sao, ghé rồi mới chạy quanh vài phút thì hết mịa nó cái Rú Chá! Nói cho đúng, đó chỉ là mảnh đất rộng 5 hecta, trong khi một cái khu dân cư nho nhỏ ở SG có thể rộng đến hơn 50 hecta. Chưa đi thì cứ tượng tượng ra cả một khu rừng rộng lớn, nhưng tới rồi thấy một mảnh vườn con con! Nên MXH là tác nhân chính tạo ra những hình ảnh sai lệch về thực tại! Nhưng đó vẫn chưa phải là điều nguy hiểm nhất! Nguy hiểm nhất là MXH tạo ra những cái tôi méo mó về tính cách, lệch lạc về nhận thức! Nó tạo ra những “phiên bản thay thế”, các “hình ảnh đại diện”, những “bộ lọc lung linh”…

Toàn những thứ ảo giác giả tạo, để cho con người ta lạc vào đó, tự đánh mất chính mình lúc nào không hay! Đó chính là một sự “đánh tráo”, mà người ta dùng đến thủ thuật đánh tráo chỉ khi nào muốn lừa bịp hay cướp đoạt cái gì đó mà thôi! Con người ta sinh ra trong đời có hai mối kết nối quan trọng, cái đầu tiên là kết nối với tự nhiên, khi chỉ cần thảy ra một cây phượng, một cây vông “cô đơn” cho bà con bu vào chụp ảnh, là ta đã thấy nó rất kỳ cục, vô duyên rồi, họ không tắm rừng, tắm biển thực sự, tất cả những gì họ muốn là có cái hình post Facebook! Và cái kết nối thứ hai là giữa con người với nhau, một môi trường sống nơi người ta còn cảm nhận thấy sự chân thành, tử tế, dù chỉ là nhỏ nhoi, nhưng cái kết nối này cũng đã đứt gãy từ lâu! Khủng hoảng xã hội là điều không thể tránh khỏi!

ma tăng

Quê hương của Đức Phật, tiểu quốc Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) ngày nay nằm ở Nepal, chồng lấn lên biên giới với Ấn Độ, là vùng cận nhiệt đới chịu ảnh hưởng bởi gió mùa, khí hậu có thể được xem là tương đối ôn hòa, và đất đai thì phì nhiêu màu mỡ. Đây là cơ sở khiến cho đời sống dân chúng không đến nổi quá khó khăn, việc xin một bát cơm, mỗi ngày ăn một bữa, là việc có thể chấp nhận được, để có thể dành thời gian cho việc tu tập! Nhưng khi Phật giáo truyền lên phía bắc, vào Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc… thì lại hoàn toàn khác, đây phần lớn là những nơi có khí hậu lạnh giá. Ở những xứ ôn đới, hàn đới, không có quần áo ấm thì chưa chắc sống được qua vài giờ, không có giày mũ bảo vệ đầy đủ thì khó sống qua vài ngày. Còn không có dự trữ lương thực thì không thể sống qua mùa đông.

Do điều kiện như thế nên hình thành văn hóa, người phương Bắc có “bản năng” tích trữ, phòng xa lớn hơn so với người phương Nam. Ở những nơi như thế, ngửa tay xin một bát cơm là người ta nhìn anh như kẻ từ trên trời rơi xuống vậy, đây không phải là chuyện đúng hay sai, chỉ là văn hóa nó thế! Nên khi Thiền tông thành lập ở TQ, họ chủ trương “bất tác bất thực – không làm thì không ăn”, sư cũng làm việc như những người khác! Tuy như vậy nghĩa là thời gian dành cho việc tu tập phải bớt lại, nhưng có thế thì Phật giáo mới hòa nhập được vào với xã hội! Nên khất thực hay không khất thực đều do điều kiện thực tế cụ thể, chứ không mang tính đúng sai gì cả! Còn cái thể loại đi khất thực mà chỉ nhận tiền, không nhận đồ ăn (khất: xin, thực: thức ăn) thì chỉ có thể là ma-tăng mà thôi!

mượn hoa kính Phật

Vài câu hỏi sơ khai về Phật giáo, nhân sự việc có quá nhiều người “mượn hoa kính Phật”, mà ở VN, thường là “Tá hoa hiến Phật” thì ít, mà “Tá đao sát nhân” (mượn đao giết người) lại nhiều! Em dự là sau cơn hả hê, tất cả vẫn hoàn u mê như cũ! Theo dõi các clip, quan tâm ông MT thì ít mà xem cách Nhà nước xử lý sự kiện này thì nhiều! Các anh CA chìm bao quanh ông MT xem cách ăn nói cho thấy phần lớn là người có học, ít nhất cũng hiểu sơ về Phật giáo, xem ra Nhà nước đã khổ tâm huy động lực lượng có trình độ, như thế mới sàng lọc, đấu tranh được với đám “Giả hành tôn” để mà bảo vệ cho “Tôn hành giả”! Ngày xưa thì Tôn hành giả bảo vệ Đường tăng khỏi đám yêu ma, nhưng với đám yêu ma ngày nay thì ngay đến cả Tôn hành giả cũng cần phải được bảo vệ!

+ Khổ hạnh không phải là con đường đúng, Trung đạo mới là điều Đức Phật đề nghị! ==> Hầu hết những lối tu hiện đại, kể cả hạnh đầu đà, đều chưa phải là khổ hạnh hiểu theo nghĩa như thời của Đức Phật!

+ Đi như thế ích gì, ở nhà phụng dưỡng cha mẹ mới là chân tu. ==> Đức Phật bỏ nhà vào rừng tu khổ hạnh đúng vào cái ngày con ông ta là La-hầu-la sinh ra đời, mặc cho bao nhiêu ngăn cản từ gia đình.

+ Ông ta tu thế chỉ ích mỗi ông ta thôi, lợi gì cho XH!? ==> Đúng vậy, Phật giáo đầu tiên và trên hết là vấn đề cá nhân, những cái khác chỉ là hệ quả. Đến mình còn chưa tự giúp được thì sẽ giúp được ai!?

+ Khất thực là ăn bám, không tạo ra của cải vật chất gì! ==> Chừng nào XH còn có người tự nguyện cúng dường thì đó không thể xem là ăn bám. Không phải ai cũng “ăn bám” được vậy đâu, số này rất ít!

+ Nếu ai cũng bỏ nhà đi như vậy thì lấy đâu ra người sản xuất, phát triển XH? ==> Đúng vậy, viễn cảnh mọi chúng sinh đều nhập Niết bàn cả rồi thì XH sẽ “giải tán”, nhưng việc này không biết đến bao giờ.

tâm bệnh

Về chuyện ông Minh Tuệ gì đó phải dừng “bộ hành, khất thực”… Cảm thấy thất vọng vô cùng, một cái dân tộc gì mà què quặt, khuyết tật, yếu đuối, nhược tiểu, cuối cùng rồi cũng chọn những giải pháp như thế! Nó làm tôi nhớ đến hồi còn ở ngoài quê, có cặp vợ chồng hàng xóm, thường xuyên xích mích với nhau, nhưng không công khai, không chửi bới, không đập chén bát, chỉ xích mích ngấm ngầm, một kiểu bạo hành gia đình âm ỉ suốt hàng chục năm! Cứ hễ có việc gì xảy ra mà một bên không bằng lòng, là bắt đầu… đau, bịnh, ốm, nằm liệt giường! Mà cả vợ, cả chồng đều hành xử như thế, những “cái tôi” cứ mãi không chịu lớn. Ban đầu chỉ là một cách tỏ thái độ, nhưng mấy chục năm sống với nhau mà cứ diễn mãi cái vở kịch nhàm chán như thế, riết rồi thì bệnh giả nó… trở thành bệnh thật!

Mà đây là “tâm bệnh”, không cách nào trị khỏi! Cái nhà không có sinh khí, đụng đâu cũng mệt, bệnh, dỗi, từ đó đẻ ra tâm lý ghét bất kỳ thứ gì vận động! Và MXH bây giờ cũng là dạng “không chịu lớn” y như thế, luôn nói ra nói vào, anh thế này, tôi thế kia, cứ y như con nít vậy, chỉ có im lặng, suy nghĩ, làm việc để trưởng thành thì không làm được mà thôi! Nói về các phương thức rèn luyện trong Phật giáo thì vô chừng, người ta đã làm rất nhiều chuyện “dời non lấp bể”, nhưng quay về gốc, Phật luôn là vấn đề của cá nhân, là do chính ta, và vì chính bản thân ta, không liên quan ai khác! Nên ông MT làm gì thì đó là việc của riêng ổng, là sự rèn luyện mang tính chất rất cá nhân! Còn đám MXH đạp lên mồ mả để quay phim chụp ảnh (như trong truyện Số đỏ – Vũ Trọng Phụng) thì đó là vấn nạn của thời đại!

Về chuyện những người đi theo ông MT có người “tử vong”, có người “ngất xỉu” do sốc nhiệt, chuyện như thế này trong giới chơi thuyền xảy ra vô số! Thấy người ta chèo thuyền vượt thác đẹp quá mà, cũng thả thuyền qua ghềnh, kết quả là đập đầu vô đá chết! Thấy người ta chạy jet – ski sướng quá mà, cũng leo lên phóng hết ga, không kiểm soát được tốc độ, đâm vô xà lan chết! Thấy người ta chèo SUP điệu nghệ quá mà, cũng nhảy lên SUP rồi bị sóng cuốn trôi chết! Và những cái chết lãng xẹt trong giới chơi thuyền và thể thao dưới nước có thể nói là… không thể đếm hết, và nó cứ lặp đi lặp lại, từ năm này qua tháng khác! Nguyên nhân do đâu!? Là do ngay từ nhỏ đã lười vận động, thiếu hiểu biết sơ đẳng về bản thân và môi trường xung quanh, nhưng tâm thì lại vọng động không có điểm dừng

Nhìn muốn được như người ta, nhưng không muốn cố gắng rèn luyện, không hiểu rằng việc gì cũng phải có quá trình! Nôm na và thẳng thừng thì ta nói: ngu thì chết thôi, ai vẹ?! Đây mới là chuyện đi bộ bình thường, chưa phải là vận động gì ghê gớm, chưa phải là cái gì khó khăn không tưởng! Nên, cho đến khi dân trí có thể tự hiểu ra rằng người ta vận động vì tìm kiếm một sự đổi thay trong “thân & tâm”, chứ không phải vì vài tấm hình chỉ để đăng lên Facebook, cho đến lúc đó thì vẫn tiếp tục chết thôi! Những chuyện như thế này, này pháp luật nên phải xử lý ra làm sao? Trong chừng mực các hoạt động không cố ý gây ảnh hưởng đến người khác thì không thể cấm được, vẫn cứ phải để cho sự vận động diễn ra, cần thiết phải như thế! Còn nghiệp của ai thì người đó gánh, đơn giản là như thế!